nghiên cứu ứng dụng dạy tiếng anh cho các lớp không chuyên ngữ tại trường đại học quảng bình - Pdf 22

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

LÊ THỊ HẰNG
ĐẶC ĐIỂM CỦA TIẾNG ANH GIAO TIẾP: NGHIÊN CỨU
ỨNG DỤNG DẠY TIẾNG ANH CHO CÁC LỚP KHÔNG
CHUYÊN NGỮ TẠI ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH
LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN
CHUYÊN NGÀNH : NGÔN NGỮ HỌC ỨNG DỤNG
MÃ SỐ : 62 22 01 05
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. VŨ THỊ THANH HƯƠNG
HÀ NỘI- năm 2014
ii
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi. Các kết quả,
số liệu nêu trong luận án là hoàn toàn trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳ
công trình nào khác.
Tác giả luận án
Lê Thị Hằng

LỜI CẢM ƠN
i
Tôi mong muốn được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc của mình đến PGS.TS. Vũ Thị
Thanh Hương - Viện Ngôn ngữ học-Viện hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, cô đã
tận tình hướng dẫn, giúp đỡ tôi về lý luận, nội dung, phương pháp nghiên cứu và động
viên tôi trong suốt quá trình học tập để hôm nay bản luận án được hoàn thành.
Nhân dịp này, tôi cũng xin chân thành cảm ơn GS.TS. Nguyễn Đức Tồn,
GS.TS. Nguyễn Văn Khang và tập thể các thầy cô tại Viện Ngôn ngữ học-Viện hàn
lâm Khoa học xã hội Việt Nam đã cho tôi những lời khuyên, những chỉ bảo và định
hướng nghiên cứu trong suốt quá trình học tập.

3.2. Câu hỏi nghiên cứu xvi
3.3. Nội dung nghiên cứu xvi
4. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU XVII
5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU XVII
6. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN XVIII
7. CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN XVIII
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN XX
1. 1. ĐẶC ĐIỂM CỦA TIẾNG ANH GIAO TIẾP XX
1.1.1. Mô hình tiến trình giao tiếp tương hỗ xx
1.1.1.1. Một số khái niệm cơ bản xx
1.1.1.2. Các thành tố tác động đến tiến trình giao tiếp tương hỗ xxiv
1.1.1.3. Chức năng của giao tiếp xxvii
1.1.2. Đặc điểm của tiếng Anh giao tiếp xxix
1.1.2.1. Đặc điểm chính xxix
1.1.2.2. Đặc điểm về chức năng xxxi
1.1.2.3. Đặc điểm về phong cách và ngữ vực xxxiii
1.1.2.4. Đặc điểm văn hoá- xã hội nơi ngôn ngữ được sử dụng xxxv
1.2. ĐƯỜNG HƯỚNG GIAO TIẾP TRONG DẠY NGÔN NGỮ THỨ HAI XXXVII
1.2.1. Tiến trình học và thụ đắc ngôn ngữ thứ hai xxxviii
1.2.1.1. Tiến trình chung xxxviii
1.2.1.2. Tiến trình thụ đắc từ vựng và ngữ pháp xl
1.2.2. Các thuyết thụ đắc ngôn ngữ thứ hai theo đường hướng giao tiếp xlii
1.2.3. Khái niệm ngữ năng giao tiếp và ngữ thi giao tiếp xliv
1.2.3.1. Khái niệm ngữ năng giao tiếp xliv
1.2.3.2. Khái niệm ngữ thi giao tiếp xlvii
1.2.4. Thuyết trí nhớ làm việc xlix
1.2.5. Một số vấn đề cơ bản trong dạy-học ngoại ngữ theo đường hướng giao tiếp liii
1.2.5.1. Thiết kế mục tiêu và nội dung dạy-học liii
1.2.5.2. Kiểm tra, đánh giá lvii
1.2.5.3. Tài liệu và phương tiện dạy-học lviii

2.3.1.3. Phát triển sự thành thạo trong tiếng Anh giao tiếp viết cho sinh viên ở mức trình độ thấp xciii
2.3.1.4. Các nguyên tắc dạy viết tiếng Anh không chuyên ở các trường đại học Việt Nam xcvi
2.3.1.5. Đánh giá năng lực tiếng Anh giao tiếp viết xcviii
2.3.2. Đề xuất nhóm giải pháp nhằm ứng dụng dạy tiếng Anh giao tiếp viết c
2.3.2.1. Đề xuất thiết kế chương trình c
2.3.2.2. Đề xuất về kiểm tra, đánh giá năng lực viết tiếng Anh giao tiếp cv
2.3.2.3. Đề xuất sử dụng tài liệu và phương tiện dạy-học cviii
2.3.2.4. Đề xuất các hoạt động dạy-học tiếng Anh giao tiếp viết cix
2.3.2.5. Đề xuất một số chiến lược học cxiv
TIỂU KẾT CXV
CHƯƠNG 3. THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM DẠY TIẾNG ANH GIAO TIẾP VIẾT CHO SINH VIÊN
KHÔNG CHUYÊN NGỮ ĐẠI HỌC CXVIII
QUẢNG BÌNH CXVIII
3.1. MỤC ĐÍCH, NỘI DUNG THỰC NGHIỆM CXVIII
3.1.1. Mục đích thực nghiệm cxviii
3.1.2. Nội dung thực nghiệm cxviii
3.2. CÁC THÀNH VIÊN THAM GIA Ở LỚP THỰC NGHIỆM CXXI
3.2.1. Giảng viên dạy cxxi
3.2.2. Đối tượng thực nghiệm cxxii
3.3. NỘI DUNG VÀ TIÊU CHÍ ĐÁNH GIÁ, KIỂM CHỨNG KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM CXXII
3.3.1. Nội dung kiểm tra, đánh giá cxxii
3.3.2. Các tiêu chí kiểm tra, đánh giá cxxiii
3.4. QUY TRÌNH THỰC NGHIỆM CXXIV
3.4.1. Các bước tiến hành thực nghiệm cxxiv
3.4.2. Một số nội dung chính trong tiến trình giảng dạy thực nghiệm và thảo luận cxxvi
3.4.2.1. Các nội dung đã được thống nhất và thảo luận với sinh viên trước thực nghiệm cxxvi
3.4.2.2. Một số nội dung trong quá trình dạy thực nghiệm tiếng Anh giao tiếp viết cxxxi
3.5. KẾT QUẢ GIẢNG DẠY THỰC NGHIỆM VÀ THẢO LUẬN CXLVII
3.5.1. So sánh kết quả đánh giá năng lực tiếng Anh giao tiếp viết của sinh viên lớp thực nghiệm và lớp
chứng cxlvii

NNGT Ngôn ngữ giao tiếp
TN Thực nghiệm
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
Thứ tự Tên bảng Trang
2.1. Kết quả bài kiểm tra năng lực tiếng Anh đầu vào của SV khoá 52 74
2.2. Tiêu chí đánh giá năng lực viết trình độ A2 89
2.3. Đề xuất thang chấm điểm cho một sản phẩm viết 97
2.4. Mẫu bài tập Tìm ai đó 102
3.1. Đối tượng lớp dạy thực nghiệm và lớp đối chứng 112
3.2. So sánh điểm xếp loại bài kiểm tra tiếng Anh giai đoạn I của các
lớp thực nghiệm và lớp chứng
133
3.3. So sánh điểm xếp loại bài kiểm tra tiếng Anh giai đoạn II của các
lớp thực nghiệm và lớp chứng
134
vii
DANH MỤC CÁC HÌNH
Thứ tự Tên sơ đồ, hình vẽ Trang
1.1. Tiến trình giao tiếp tương hỗ được mô hình hóa từ quan điểm của
D.C. Barnlund (1970)
18
1.2. Thành tố ngữ năng giao tiếp trong sử dụng NNGT Bachman 38
1.3. Thành tố ngữ năng trong khung lý thuyết của Bachman 38
1.4. Mô hình Trí nhớ làm việc của Baddeley (2000) 43
1.5. Mô hình các bước thiết kế chương trình học dựa trên đề xuất của
J.D. Brown
48
2.1. Kết quả bài kiểm tra năng lực tiếng Anh đầu vào của 21 sinh viên
ĐHSPGDTiểu học khoá 52

tiếp (communicative approach) còn gọi là dạy ngôn ngữ giao tiếp (communicative
language teaching) đang là vấn đề trung tâm nghiên cứu ứng dụng nhằm nâng cao chất
lượng môn học. Xu hướng dạy ngôn ngữ giao tiếp đã xuất hiện từ những năm 1970 và
cho đến nay đường hướng dạy-học này đã phát triển rộng khắp thế giới và đem lại hiệu
quả giáo dục và đào tạo ngôn ngữ cao cho người sử dụng. Tuy nhiên, không có một mô
hình cụ thể nào được áp dụng cho tất cả các đối tượng và môi trường đào tạo, cũng
chưa có các nghiên cứu nào để hiểu rõ bản chất của việc dạy ngôn ngữ giao tiếp và
cách thức để ứng dụng đường hướng dạy-học này vào dạy tiếng Anh đại học không
chuyên ngữ tại Việt Nam. Bên cạnh đó, các nghiên cứu ứng dụng chủ yếu tập trung tại
các nước nói tiếng Anh và các nước trong cộng đồng chung châu Âu, cho nên khi ứng
dụng vào châu Á và Việt Nam cần phải có những nghiên cứu để hiểu rõ bản chất của
việc dạy ngôn ngữ giao tiếp cũng như các nguyên tắc và đường hướng dạy-học để ứng
dụng một cách phù hợp với mục tiêu và yêu cầu đào tạo của đối tượng học. Đó chính là
những lý do cơ bản để chúng tôi chọn Đặc điểm của tiếng Anh giao tiếp: Nghiên cứu
ứng dụng dạy tiếng Anh cho các lớp không chuyên ngữ tại Trường Đại học Quảng
Bình làm đề tài luận án.
2. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM TIẾNG ANH GIAO
TIẾP VÀ VIỆC ỨNG DỤNG DẠY TIẾNG ANH NHƯ MỘT NGOẠI NGỮ
THEO ĐƯỜNG HƯỚNG GIAO TIẾP
2.1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới
Theo Jack Richards và Rodgers [139, tr.153-158], các nghiên cứu liên quan đến
đặc điểm của tiếng Anh trong giao tiếp và việc ứng dụng dạy tiếng Anh như một ngoại
ngữ theo đường hướng giao tiếp xuất hiện từ những năm 1960, thể hiện qua những thay
ix
đổi cách dạy theo tình huống truyền thống ở Anh. Nhưng cũng giống như phương pháp
nghe-nói không còn được sử dụng nhiều ở Mỹ giữa những năm 1960, các nhà ngôn
ngữ học ứng dụng Anh bắt đầu đặt câu hỏi về tính hiệu quả của việc dạy ngôn ngữ dựa
trên tình huống. Điều này phản ánh một phần những phê phán của nhà ngôn ngữ học
Mỹ Noam Chomsky [64] trong cuốn sách “Các cấu trúc cú pháp” của ông. Trong đó,
ông nói rằng các thuyết cấu trúc ngôn ngữ hiện tại không thể giải thích được các đặc

Canale and Merrill Swain xác định ngữ năng giao tiếp gồm 4 thành tố cơ bản phụ
thuộc lẫn nhau là năng lực ngữ pháp, năng lực diễn ngôn, năng lực văn hoá-xã hội và
năng lực chiến lược. Sau đó, vào 1990 Lyle Bachman đã phát triển bổ sung thêm các
thành tố tạo thành ngữ năng giao tiếp trong sử dụng gồm kiến thức về thế giới, cơ chế
tâm-sinh lý trong một bối cảnh ngữ huống [dẫn theo 57, tr.249]. Ngoài ra, Dell Hymes
còn đề xuất mô hình giao tiếp bằng ngôn ngữ tự nhiên, phù hợp với ngữ cảnh văn hóa-
xã hội với 8 thành tố: Ngữ huống, Các thành viên tham gia, Mục đích, Chuỗi hành vi,
Cách diễn đạt, Các phương tiện, Chuẩn tương tác và chuẩn giải thích, Thể loại. Mô
hình này cùng với thuật ngữ ngữ năng giao tiếp của Dell Hymes đã mở ra một cách
nhìn mới trong việc dạy-học ngoại ngữ và nó đã được phát triển rộng khắp thế giới.
Ngữ năng giao tiếp là những gì chúng ta biết hay kiến thức NNGT của một
người, ngữ năng giao tiếp chỉ được biểu hiện trong thực tiễn thông qua ngữ thi giao
tiếp (communicative performance). Ngữ thi giao tiếp là sản phẩm ngôn ngữ thực tế mà
chúng ta có thể nhìn thấy được thông qua các kênh tri nhận và sản sinh ngôn ngữ như
nghe, nói, đọc, viết. Thông qua ngữ thi, ngữ năng giao tiếp mới được phát triển, duy trì,
và được đánh giá [145], [57], do đó việc xây dựng chuẩn đánh giá các mức trình độ
năng lực giao tiếp bằng ngoại ngữ thể hiện qua khả năng tiếp nhận và sản sinh ngôn
ngữ đích theo từng cấp độ là rất quan trọng trong một hệ thống giáo dục. Từ những
năm 1970 sau khi thuật ngữ ngữ năng giao tiếp ra đời và được xem là mục đích chính
xi
của việc dạy-học ngoại ngữ, đã có một loạt các chương trình, dự án cấp chính phủ Mỹ
với sự tham gia của nhiều thành viên có thẩm quyền trong xã hội. Các chuyên gia của
Mỹ và châu Âu cùng các học giả khác đã nỗ lực xây dựng chuẩn đánh giá chung về sự
thành thạo trong ngoại ngữ theo từng mức trình độ. Hai thành tựu nổi bật thu được từ
dự án Common Yardstick ở Mỹ là những ví dụ minh họa. Thành tựu thứ nhất là thang
đánh giá độ thành thạo về năng lực ngoại ngữ do Hội Bàn Tròn Các Tổ Chức Ngôn
Ngữ (Interagency Language Roundtable được viết tắt là ILR) biên soạn, thành tựu thứ
hai được sử dụng phổ biến hơn là thang đánh giá độ thành thạo về năng lực giao tiếp
bằng ngoại ngữ do Hội đồng dạy ngoại ngữ Mỹ (American Council on the Teaching of
Foreign Languages được viết tắt là ACTFL) biên soạn. Tuy nhiên, cách mô tả thang

ngữ hai hay ngoại ngữ của con người. Các hoạt động và kỹ thuật dạy-học được thiết kế
nhằm tăng cường động cơ, hứng thú cho việc học tập, giúp người học sử dụng ngôn
ngữ trong những ngữ cảnh giao tiếp tự nhiên hoặc các ngữ cảnh giao tiếp có mối liên
hệ với cuộc sống hiện thực.
Tuy nhiên, như đề cập ở trên các đường hướng và nguyên tắc cơ bản trong dạy
NNGT chủ yếu được tập trung nghiên cứu và ứng dụng tại các nước nói tiếng Anh và
các nước trong cộng đồng chung châu Âu nên khi được ứng dụng các nước châu Á thì
gặp nhiều vấn đề khác biệt như ngữ cảnh văn hoá và môi trường giáo dục làm cản trở
việc thực hiện các đường hướng dạy-học này và giảm tính hiệu quả của nó. Vì vậy, để
ứng dụng dạy tiếng Anh giao tiếp một cách phù hợp cần có các nghiên cứu nhằm hiểu
rõ bản chất của đường hướng dạy ngôn ngữ giao tiếp và tìm hiểu cách thức ứng dụng
đường hướng dạy học cho các đối tượng đào tạo cụ thể.
xiii
2.2. Tình hình nghiên cứu ứng dụng dạy tiếng Anh giao tiếp cho sinh viên đại học
không chuyên ngữ ở Việt Nam
Qua khảo sát bước đầu của chúng tôi cho thấy chưa có nhiều nghiên cứu về ứng
dụng dạy tiếng Anh giao tiếp cho sinh viên đại học không chuyên ngữ tại Việt Nam.
Chỉ có một nghiên cứu khảo sát việc ứng dụng dạy NNGT cho sinh viên không chuyên
ngữ tại trường Cao đẳng Kinh Tế-Tài Chính Thái Nguyên của Nguyễn Thị Minh Thu
[121]. Kết quả cho thấy tính hiệu quả và tầm quan trọng của việc áp dụng đường
hướng dạy-học này trong kỹ năng nói tiếng Anh cho sinh viên. Hầu hết các nghiên cứu
tập trung vào tìm hiểu các nguyên nhân dẫn đến kết quả đào tạo chưa cao.
Trong một công trình nghiên cứu với quy mô lớn nhất ở Việt Nam cho tới năm
2010 do giáo sư Hoàng Văn Vân (2010) đại học Quốc gia Hà Nội chủ trì, tác giả đã
tóm tắt 9 nguyên nhân dẫn đến chất lượng đào tạo tiếng Anh đại học không chuyên ở
Việt Nam kém như sau:
1. Trình độ tiếng Anh đầu vào của sinh viên không đồng đều.
2. Chưa có đích và mục tiêu thống nhất cho môn học, chưa xác định trình độ và
kỹ năng người học phải đạt được cho từng giai đoạn.
3. Giáo trình tiếng Anh chưa được biên soạn một cách có hệ thống.

dụ đọc hiểu thường chiếm ưu thế trong khi khả năng nói và viết của sinh viên lại rất
thấp. Vấn đề sẽ không thể tốt hơn nếu chúng ta áp dụng vào giảng dạy một chương
trình ngoại ngữ cách xa với năng lực NNGT hiện tại của sinh viên.
Tuy nhiên, công trình nghiên cứu của giáo sư Hoàng Văn Vân có giá trị thực tiễn
lâu dài với nhiều nhóm giải pháp cần được ứng dụng. Song ở thời điểm hiện tại, đầu
vào của sinh viên một số trường còn thấp đòi hỏi các trường phải có những nghiên cứu
ứng dụng dạy NNGT phù hợp với ngữ năng giao tiếp đầu vào của sinh viên và điều
kiện, nội lực phát triển của riêng mình.
xv
3. MỤC ĐÍCH, CÂU HỎI VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
3.1. Mục đích nghiên cứu
Thông qua nghiên cứu các đặc điểm của tiếng Anh giao tiếp và ứng dụng vào thử
nghiệm dạy tiếng Anh viết theo đường hướng giao tiếp cho sinh viên không chuyên
ngữ tại Đại học Quảng Bình, chúng tôi hy vọng có thêm những hiểu biết về bản chất
của việc dạy NNGT và tìm hiểu các cách thức dạy tiếng Anh cho sinh viên không
chuyên ngữ tại Trường Đại học Quảng Bình .
3.2. Câu hỏi nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu trên, luận án đặt ra ba câu hỏi nghiên cứu chính
sau đây:
1. Tiếng Anh giao tiếp có những đặc điểm gì? và lớp học tiếng Anh theo đường
hướng giao tiếp có những đặc điểm gì?
2. Đặc điểm và điều kiện giảng dạy tiếng Anh ở Trường Đại học Quảng Bình như
thế nào? Có những gì đã đáp ứng và chưa đáp ứng với việc dạy tiếng Anh giao
tiếp?
3. Làm thế nào để dạy tiếng Anh viết theo đường hướng giao tiếp một cách hiệu
quả cho sinh viên đại học không chuyên ngữ tại Trường Đại học Quảng Bình?
3.3. Nội dung nghiên cứu
Để trả lời cho từng câu hỏi nghiên cứu chúng tôi sẽ thực hiện những nội dung
nghiên cứu tương ứng như sau:
a, Phân tích các nghiên cứu lí luận và thực tiễn về đặc điểm của tiếng Anh trong

NNGT nói chung và dạy NNGT viết nói riêng.
- Phương pháp dự giờ, quan sát, phỏng vấn bằng bảng hỏi và phỏng vấn trực tiếp
để nắm được thực trạng dạy-học tiếng Anh không chuyên ngữ tại Đại học Quảng Bình,
xvii
tiến hành phân tích nhu cầu học viết, nghiên cứu đề xuất các giải pháp ứng dụng dạy
NNGT viết cho sinh viên.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm để rút ra các cách áp dụng dạy tiếng Anh
giao tiếp viết phù hợp cho sinh viên không chuyên ngữ tại Đại học Quảng Bình
- Phương pháp kiểm tra, so sánh, các thủ pháp thống kê nhằm đánh giá kết quả
học tập so sánh, đối chiếu để biết được hiệu quả và tính khả thi của các đề xuất đưa ra.
6. NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI CỦA LUẬN ÁN
Về lý thuyết: Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu liên quan đến các đặc điểm tiếng
Anh giao tiếp và việc ứng dụng dạy tiếng Anh như một ngoại ngữ theo đường hướng
giao tiếp, nhưng các lý thuyết về nó có nhiều điểm chưa rõ ràng và nằm rời rạc ở nhiều
nguồn tư liệu khác nhau. Luận án đã phân tích, tổng hợp và liên kết các nguồn tài liệu
tương đối mới lại với nhau để rút ra được các đặc điểm tiếng Anh giao tiếp và hiểu rõ
hơn bản chất của việc dạy tiếng Anh theo đường hướng giao tiếp.
Về thực tiễn: Nghiên cứu của luận án bước đầu đã cho thấy cách thức phù hợp
để ứng dụng dạy NNGT vào dạy tiếng Anh giao tiếp viết cho sinh viên không chuyên
ngữ tại Trường Đại học Quảng Bình.
7. CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận án gồm ba
chương chính:
Chương 1: Cơ sở lý luận. Chương này trình bày cơ sở lý thuyết của luận án, liên
quan đến đặc điểm của tiếng Anh giao tiếp, đường hướng dạy-học tiếng Anh giao tiếp
và đặc điểm của lớp học tiếng Anh theo đường hướng giao tiếp.
Chương 2: Thực tiễn dạy-học và nhu cầu học viết tiếng Anh của sinh viên
không chuyên ngữ tại Đại học Quảng Bình. Nội dung chương này mô tả một khảo sát
sơ lược về thực trạng dạy-học tiếng Anh không chuyên ngữ tại Trường Đại học Quảng
Bình. Qua đó tác giả luận án có cơ sở dữ liệu cơ bản để quy chiếu với các đường

mang nghĩa vì chúng ta không thể chuyển thông tin, ý kiến hoặc suy nghĩ từ trong đầu
người này sang đầu người khác nên chúng ta phải sử dụng các tín hiệu hoặc các biểu
tượng còn gọi là mã (codes) để tạo ra các thông điệp mang nghĩa. Như vậy, có thể hiểu
một cách ngắn gọn rằng giao tiếp là quá trình sử dụng các mã để trao đổi nghĩa.
Từ các công trình nghiên cứu của Sheila Steiberg [150] có tựa đề ‘Dẫn luận về
khoa học giao tiếp’ (An Introduction to Communication Studies); Wood [172], [171]
xx
với ‘Giao tiếp trong cuộc sống chúng ta’ (Communication in Our lives), ‘Giao tiếp liên
nhân: những cuộc tương tác diễn ra hằng ngày’ (Interpersonal communication:
everyday encounters); Richard West và Lynn Turner [166] với ‘Kiến thức giao tiếp
liên nhân: những sự lựa chọn trong một thời đại biến động’ (Understanding
Interpersonal Communication: making choices in changing times); Jose Ashford, Craig
Winston Lecroy, Kathy Lortie [40] với ‘Hành vi con người trong môi trường xã hôi:
một ngữ cảnh đa chiều’ (Human Behavior in the Social Environment: A
Multidimensional Perspective), Deena Levine và Mara Adelman [69, tr.10] trong ấn
phẩm ‘Ẩn sau ngôn ngữ: giao tiếp liên văn hóa’ (Beyon language: cross-cultural
communication) chúng ta có thể định nghĩa một số khái niệm tiền đề quan trọng khác
như sau:
- Nhập mã (encoding): là tiến trình sử dụng các tín hiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ để
chuyển các ý tưởng trong đầu chúng ta thành những thông điệp.
- Giải mã (decoding): là tiến trình chúng ta nhận thông điệp từ người khác và giải
nghĩa của chúng.
- Mã (code): các từ, ngữ, chữ số hoặc các biểu tượng được nối với nhau thành hệ thống
các quy tắc chung của cộng đồng sử dụng.
- Phương tiện (medium): là phương tiên vật chất được con người sử dụng để truyền các
thông điệp cho nhau. Giọng nói, cử động của cơ thể, các phương tiện kỹ thuật và điện
tử như điện thoại, loa, báo, sách, ảnh, tivi đều là phương tiện giao tiếp.
- Kênh (channel): là con đường mà thông điệp sẽ được truyền đến người nhận. Các
sóng ánh sáng, sóng radio mang giọng nói của người gửi đến người nghe gọi là kênh
giao tiếp. 5 giác quan con người gồm khứu giác, vị giác, thính giác, trực giác, cảm giác

làm cho cậu ta không hiểu đúng nội dung bài giảng mà cậu ta đang học. Khi một người
xxii
không thích một ai đó, thì những thành kiến của anh ta làm cho anh ta không tiếp thu
chính xác thông điệp mà người đó đang nói, như vậy nhiễu bên trong cũng đã xảy ra.
- Nhiễu ngữ nghĩa (semantic noise): do các yếu tố trong ngôn ngữ tạo nên, ví dụ, một
từ đa nghĩa khi được sử dụng trong một số trường hợp làm cho các thành viên không
hiểu nghĩa của nó như nhau. Một bác sĩ dùng những thuật ngữ y khoa xa lạ với bệnh
nhân để giải thích nguyên nhân căn bệnh nhưng kết quả bệnh nhân vẫn không hiểu tại
sao họ bị căn bệnh đó cũng là một ví dụ khác của nhiễu ngữ nghĩa. Nhiễu ngữ nghĩa
còn xảy ra khi có sự khác biệt về văn hóa, xã hội giữa những người tham gia giao tiếp
khiến họ sử dụng các từ khác nhau để diễn đạt cùng một ý tưởng.
- Nghĩa (Meaning): là một thuật ngữ cực kỳ khó định nghĩa do bản chất trừu tượng của
nó. Cho nên O’Sullivan et al (1989) đề xuất, thay vì định nghĩa thuật ngữ, chúng ta nên
xem nghĩa là một sản phẩm được tạo ra từ kết quả của cuộc giao tiếp. Nói cách khác
hành động giao tiếp sẽ tạo ra nghĩa.
- Giao tiếp liên nhân (interpersonal communication): là tiến trình trao đổi qua lại các
thông điệp giữa hai người để sáng tạo và duy trì một nghĩa được hiểu chung (shared
meaning).
- Ngữ cảnh (context): là môi trường, địa điểm hoặc các điều kiện nơi cuộc giao tiếp
diễn ra bao gồm cả yếu tố ngữ cảnh văn hóa nơi giao tiếp diễn ra như các niềm tin, các
giá trị, thái độ, nghĩa, cấu trúc xã hội, tôn giáo, các ý niệm về thời gian, các vai trò vị
thế của một nhóm người.
- Các kỹ năng giao tiếp (communication skills): là khả năng sử dụng các thành tố tạo
nên thành công cho mục đích của cuộc giao tiếp thể hiện qua các kỹ năng nghe, nói,
đọc, viết và kỹ năng suy luận.
- Các hệ thống xã hội (social systems)/ngữ cảnh xã hội gồm những thứ cả hai người
tham gia giao tiếp cùng chia sẻ (ví dụ, việc sống chung trong một khuôn viên đại học,
một thị trấn, một nơi làm việc, một tôn giáo, một nhóm xã hội hoặc một nền văn hóa)
và các hệ thống riêng của mỗi người (như gia đình, tổ chức tôn giáo, bạn bè).
xxiii


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status