KHẢO SÁT PHÂN TÍCH NHU CẦU
HỌC TIẾNG ANH CỦA SINH VIÊN KHÔNG CHUYÊN NGỮ
TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH
Lê Thị Hằng
Trường Đại học Quảng Bình
Tóm tắt: Phân tích nhu cầu là bước quan trọng trong dạy học ngôn ngữ giao tiếp, vì vậy bài báo
này mô tả một khảo sát để nhận biết nhu cầu học tiếng Anh của sinh viên không chuyên ngữ Trường Đại
học Quảng Bình. Khảo sát cho thấy có sự chênh lệch trong năng lực giao tiếp và các kỹ năng ngôn ngữ
đầu vào của các nhóm sinh viên, các nhóm này cũng có các nhu cầu học tương đối khác nhau. Vì vậy, cần
thiết có các chương trình giảng dạy phù hợp với từng nhóm sinh viên, thực hiện một số giải pháp nhằm xác
định chuẩn đáp ứng đúng mục tiêu, nhu cầu đào tạo đầu ra cho đối tượng người học và áp dụng các nội
dung, hoạt động dạy học sao cho đảm bảo chuẩn đó. Điều này sẽ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo
tiếng Anh không chuyên tại Trường Đại học Quảng Bình.
1. MỞ ĐẦU
Trong dạy ngôn ngữ giao tiếp (DNNGT), phân tích nhu cầu là phương tiện để biết được
những thông tin thiết yếu như người học cần phải học cái gì, điểm yếu và điểm mạnh của họ khi
bắt đầu khoá học… nhằm phục vụ cho việc thiết kế nội dung khoá học đáp ứng đúng mục tiêu,
nhu cầu đào tạo của một nhóm người học. Theo Iwai et al (1999) và Fatihi (2003), tiến trình phân
tích nhu cầu giúp nhận dạng, xác định chương trình giảng dạy và các mục tiêu quản lý phù hợp,
tạo điều kiện cho việc học trở nên tốt nhất trong một môi trường gần gũi với những tình huống
thực trong cuộc sống của người học. Điều này được thể hiện rõ qua các ngữ cảnh và vai giao tiếp
mà người học thường gặp sau khoá học. Cùng với quá trình phát triển phương thức DNNGT, tiến
trình phân tích nhu cầu trải qua nhiều giai đoạn phát triển, bổ sung và hoàn thiện. Cho đến nay,
việc phân tích nhu cầu thường bao gồm một tiến trình tổng hợp các tham biến từ các tiểu phân tích
nhu cầu sau: Phân tích tình huống đích, Phân tích chiến lược, Phân tích tình huống hiện tại và mặt
khuyết, Phân tích phương tiện, Phân tích ngữ vực, Phân tích diễn ngôn và Phân tích thể loại. Trong
phạm vi bài báo này, tác giả chỉ tập trung phân tích nhu cầu của 4 tiểu loại đầu tiên. Các thông tin
của việc phân tích này sẽ cung cấp dữ liệu cho việc thiết kế chương trình giảng dạy và tùy vào nội
dung chương trình giảng dạy các dữ liệu về Ngữ vực, Diễn ngôn và Thể loại ngôn ngữ được giảng
dạy sẽ hình thành. Đã có nhiều tài liệu nghiên cứu trước đây cung cấp một phần thông tin về ngữ
website:
http://www.coe.int/t/dg4/linguistic/Source/Framework_en.pdf). Vì vậy, vào thời điểm khảo sát
này được thực hiện, SV không chuyên ngữ được giảng dạy giáo trình New HeadwayPreintermediate và khoảng 6 bài đầu tiên của quyển New Headway-Intermediate. Tiếng Anh
chuyên ngành cũng được đưa vào giảng dạy cho các lớp Tin học, Nuôi trồng thuỷ sản, Quản trị kinh
doanh và Kinh tế.
“Phân tích chiến lược” sẽ khảo sát người học là ai, đã từng học tiếng Anh chưa, lý do tham
gia khoá học, sở thích, mong muốn trong cách học, nhu cầu định hướng quá trình học, đề xuất của
người học về nguồn cơ sở vật chất và kiến thức của giảng viên. Khảo sát của chúng tôi cho thấy
100% SV đại học khoá 52 đã học tiếng Anh từ 7 năm trở lên, đối chiếu các điểm ngữ pháp căn bản
trong chương trình tiếng Anh PTTH 7 năm cho thấy các điểm ngữ pháp SV được học đã đạt trình
độ B2 khi so sánh với Khung tham chiếu chung Châu Âu. Kỹ năng đọc ở khoảng B1 còn các kỹ
năng khác là không rõ ràng. Tuy nhiên, tiến hành điều tra bằng bảng hỏi để SV khoá 49, 50, 51,
52 tự nhận dạng trình độ NLGT Tiếng Anh của họ đang ở mức nào trước khi tham gia khoá học
tiếng Anh ở bậc đại học với 4 kỹ năng nghe, nói, đọc, viết, kết quả cho thấy trên 55% SV nhận
dạng NLGT tiếng Anh của mình ở trình độ A1 tương đương với trình độ Beginner (người mới bắt
đầu học tiếng Anh). Trong đó kỹ năng đạt trình độ cao nhất và có số phần trăm SV tự nhận mình
ở trình độ đó nhiều nhất là kỹ năng đọc với 29% ở trình độ A2. 62% SV ở các lớp Tin học và Kế
toán khoá 49 mong muốn sau khoá học tiếng Anh ở bậc đại học có thể giao tiếp và sử dụng tiếng
Anh cho công việc của mình. 18% muốn họ có thể giao tiếp thông thường với người nước ngoài,
số còn lại mong muốn vừa có thể giao tiếp thông thường vừa đạt điểm cao như ý, một số khác chỉ
mong trên điểm trung bình là được. Hai lớp thực nghiệm được chọn ngẫu nhiên là hai lớp đại học
sư phạm nên mong muốn chủ yếu của họ sau khoá học tiếng Anh là đạt được điểm cao, có thể sử
dụng giao tiếp thông thường, có thể giới thiệu những điểm nổi bật nơi mình sinh sống và đọc các
tài liệu liên quan đến chuyên ngành bằng tiếng Anh. Riêng SV ĐHGD Tiểu học khoá 52 muốn
được học thêm các bài hát tiếng Anh dành cho thiếu nhi để có thể dạy và giao lưu với học sinh tiểu
học. Về chiến lược học tiếng Anh, giống như nghiên cứu của Hoà Hiệp (2007) SV không chuyên
ngữ tại Trường Đại học Quảng Bình chủ yếu còn quen với việc dạy học giáo viên là trung tâm nên
thường bị động trong phương pháp học tiếng Anh. Về phong cách lĩnh hội tri thức có 90% SV cho
rằng họ làm việc hiệu quả hơn khi học theo nhóm, 80 % học hiệu quả nếu họ có thời gian để suy
nghĩ, xem xét trước khi phản hồi, 71,6% học hiệu quả nhất khi được chỉ dẫn theo tuần tự từng
20% trả lời đúng 50% số câu hỏi trong bài đọc kiểm tra trình độ A1, điều này có thể được giải thích
bởi việc họ chưa quen, chưa tiếp xúc với phong cách viết và ngữ vực trong thể loại văn phong tin
nhắn, mẫu khuyến cáo nơi công cộng và các thông báo đơn giản nên không nhận dạng được nghĩa
chính xác của loại văn bản này. Như vậy, đối với SV ĐHGD Tiểu học khoá 52 được học
100
Nghe
80
Viết
60
Đọc
40
Ngữ pháp
20
Từ vựng
0
A1-
A1
A2
lớp ĐHGD Tiểu học (xem đồ thị 2) với 52% SV đạt trình độ A2 ở kỹ năng đọc nhưng chỉ 25% số
họ đạt trình độ A1, 65% có thể sử dụng từ vựng ở trình độ A1, 8% sử dụng được những từ cơ bản
ở trình độ A2. Về ngữ pháp, trình độ chung của lớp này tương đối ổn với 50% đạt trình độ A1 ở
mức điểm cao trên trung bình, trong đó 11% đạt trình độ A2, 8.3% đạt trình độ B1, 6% đạt trình
độ B2. Mặc dù có 47% dưới mức A1 nhưng số câu trả lời đúng trong toàn bài kiểm tra ngữ pháp
tương đối cao so với lớp ĐHGD Tiểu học. Kỹ năng viết cũng là điểm yếu lớn nhất của lớp ĐH SP
Toán với 76% chưa đạt trình độ A1, 22% đạt trình độ A1 và 5,4% đạt trình độ A2. Tuy nhiên khả
năng viết câu, chuyển đổi câu của lớp này vẫn tốt hơn lớp ĐHGD Tiểu học, các lỗi về chính tả và
ngữ pháp cũng ít hơn. SV hai lớp này chưa quen với văn phong và ngữ vực của các thể loại văn
bản gần gũi nhất liên quan đến hoạt động giao tiếp như viết tin nhắn, thư điện tử, các thông báo
ngắn, viết đoạn văn ngắn trên các tấm thiệp, đọc các bảng ghi chú, biển báo nguy hiểm nên không
hiểu và không viết được các loại văn bản này nhiều. Phân tích phương tiện tức xem xét môi trường
nơi khóa học được tổ chức thường gồm văn hoá của lớp học, đội ngũ giảng dạy, thông tin tình
huống đích thí điểm, trang thiết bị dạy học hiện tại và nghiên cứu các yếu tố thay đổi. Hiện tại, đội
ngũ giảng dạy bộ môn Tiếng Anh của khoa Ngoại ngữ Trường Đại học Quảng Bình khá mạnh
(xem bảng 1), tuy nhiên cơ sở vật chất để phục vụ giảng dạy đang trong giai đoạn bổ sung hoàn
thiện. Lớp học tiếng Anh không chuyên khá đông, thường trên 40 SV/lớp, bàn ghế và trang thiết
bị phòng học chưa phù hợp khiến cho cơ hội để giảng viên thực hành các kỹ thuật và hoạt động
dạy ngôn ngữ giao tiếp không được thuận lợi. Ví dụ, phòng học đã được nối mạng không dây, nhà
trường có 20 máy chiếu nhưng chưa ưu tiên nhiều cho việc
Bảng 1
dạy
học
giảng dạy Anh
ngoại
ngữ.
Số lượng 1 NCS. GVC
dù không được kiểm tra NLNN nhưng thông qua kết quả kiểm tra ngữ pháp các kỹ năng nghe, viết
và việc SV ít có cơ hội giao tiếp bằng tiếng Anh cho thấy kỹ năng nói của họ cũng chỉ trên dưới
A1. SV ở những chuyên ngành khác nhau có một số nhu cầu đào tạo kiểu loại tiếng Anh khác nhau
nhằm đáp ứng nhu cầu sử dụng tiếng Anh trong cuộc sống và trong công việc của họ sau khi ra
trường. Về cơ sở vật chất chưa đáp ứng được mong muốn của giảng viên và yêu cầu dạy học tiếng
Anh giao tiếp.
Khảo sát cho thấy để đảm bảo và nâng cao chất lượng giảng dạy tiếng Anh không chuyên,
cần có một số giải pháp tác động vào tiến trình dạy học môn học này. Thứ nhất, thường xuyên tiến
hành kiểm tra NLNN đầu vào của SV không chuyên ngữ và tiến hành phân tích nhu cầu học để
giảng viên nắm được nên dạy gì cho từng nhóm đối tượng người học, từ đó xây dựng chương trình
chi tiết phù hợp, xác định được chuẩn đầu ra và định hướng dạy học đảm bảo cho nhóm người học
đạt được chuẩn đó. Thứ hai, nên thiết kế bài kiểm tra sao cho đánh giá đủ cả 4 kỹ năng nghe, nói,
đọc, viết, điều này giúp SV có định hướng học để có thể giao tiếp bằng lời nói được nhiều hơn,
trong đó việc tổ chức thi nói trong điều kiện số lượng giảng viên hiện tại khá mất thời gian nhưng
ít nhất nên tổ chức thi kỹ năng nói trong hai bài kiểm tra học phần. Thứ ba, nên bổ sung một số
nội dung phù hợp chuyên ngành đào tạo của SV không chuyên ngoài phần tiếng Anh tổng quát.
Mặc dù điều này được Khoa Ngoại ngữ đã và đang thực hiện khá tốt nhưng cần xác định mục tiêu
rõ ràng hơn. Ví dụ, các lớp Quản trị kinh doanh và Kinh tế học có thể được đánh giá theo hệ thống
TOEIC, còn các lớp Tin học sau khi đạt trình độ tiền trung cấp sẽ được bổ sung 2-3 tín chỉ tiếng
Anh chuyên ngành cũng chỉ nên ở trình độ tiền trung cấp. Các lớp thuộc ngành SP và Xã hội chỉ
cần dạy tiếng Anh tổng quát vì sau khi ra trường khả năng sử dụng tiếng Anh chuyên ngành không
cao, ngoài ra không phải tiếng Anh chuyên ngành nào giảng viên ngoại ngữ cũng đủ thời gian và
năng lực để giảng dạy. Như hai lớp thực nghiệm đã được khảo sát ở trên thì chỉ nên dạy tiếng Anh
tổng quát, tuy nhiên do có sự chênh lệch về NLNN đầu vào, nên với lớp ĐHGD Tiểu học khoá 52
có hai hướng mà chúng ta có thể tham khảo để giải quyết, một là chúng ta có thể hạ chuẩn đầu ra
với SV lớp này, hai là yêu cầu họ tự học thêm cho đến khi đạt chuẩn A1 sẽ được học tiếp chương
trình chính khoá của trường. Với lớp ĐHSP Toán khoá 52 chúng ta có thể bổ sung một số kiến
thức, kỹ năng bị khuyết trước khi giảng dạy cho họ trình độ tiền trung cấp và chuẩn đầu ra của lớp
Abstract: Needs analysis sets up an essential step in application to communicative language
teaching. This article describes an investigation into needs analysis of the learning English of non-English
majors at Quang Binh University. The results indicate that there exist the unequal ability and various wants
in learning English among student groups. Therefore, it is necessary to develop the syllabi suitable to each
learner group and to implement some solutions aiming at assessing the output language standard for them
and orienting teaching and learning activities so as to ensure that. This will have a part in the upgrading
of the non-major English training quality at Quang Binh University.