LỜI MỞ ĐẦU
Kiểm toán nội bộ là công cụ kiểm tra, đánh giá hoạt động doanh
nghiệp ở từng bộ phận, ở tất cả các giai đoạn trước, trong và sau quá trình
kinh doanh, là công việc thuờng xuyên theo nhu cầu và chỉ đạo của lãnh
đạo doanh nghiệp . Nếu không có kiểm soát nội bộ, doanh nghiệp sẽ không
đánh giá được năng lực, hiệu quả kinh doanh của mình, không thể tiết kiệm
được nguồn lực, chi phí. Đối với các báo cáo tài chính, nếu không được
kiểm tra kịp thời thì khi lập báo cáo sẽ gây khó khăn cho doanh nghiệp .
Khi hoạt động kinh tế mạnh và có uy tín thì các báo cáo của doanh nghiệp
sẽ đợc tin tưởng hơn, giúp doanh nghiệp dễ dàng hơn trong việc bạn hàng,
nhà đầu tư, mở rộng quy mô sản xuất xâm nhập thị trường. Trong bối cảnh
hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, môi trường cạnh tranh khốc liệt thị
trường thay đổi hàng ngày, vai trò của kiểm toán nội bộ lại càng trở nên
quan trọng hơn bao giờ hết đặc biệt là trong vần đề kiểm soát thông tin tài
chính. Với tinh thần đó đề tài “Kiểm toán nội bộ với hiệu quả kinh
doanh trong Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 4” hi vọng
có thể phần nào nói lên được mối quan hệ giữa hoạt động của kiểm toán
nội bộ với hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Kết cấu đề tài gồm 3
phần:
- Phần I. Một số lí luận cơ bản về kiểm toán nội bộ và hiệu quả kinh
doanh trong trong doanh nghiệp.
- Phần II. Thực trạng hoạt động kiểm toán nội bộ với việc nâng cao
hiệu quả kinh doanh trong Tổng công ty xây dựng công trình giao thông 4.
- Phần III: Ý kiến đánh giá và giải pháp
1
PHẦN I: MỘT SỐ LÍ LUẬN CĂN BẢN VỀ KIỂM TOÁN
NỘI BỘ TRONG DOANH NGHIỆP
1.1. Sự hình thành và phát triển
1.1.1 Khái niệm
Một cách cơ bản có thể hiểu Kiểm toán nội bộ là một bộ phận được
lập ra trong một đơn vị,do các kiểm toán viên nội bộ của đơn vị tiến hành
bộ hoạt động của đơn vị mình. Không những thế, trong các cơ quan nhà
nước việc hình thành các bộ phận Kiểm toán nội bộ để kiểm tra thường
xuyên các hoạt động trong cơ quan đang tỏ ra có nhiều tác dụng thiết thực.
-Với sự lớn mạnh và gia tăng quy mô các doanh nghiệp vài thập niên
gần đây, tầm quan trọng của Kiểm toán nội bộ cũng lớn mạnh một cách
tương ứng, làm cho nó trở thành yếu tố chính trong việc thiết lập hệ thông
kiểm soát và kiểm tra nội bộ.ở một số nước, cơ quan lập pháp đã đưa ra
những văn bản pháp luật nhằm tạo ra hành lang pháp lí để tạo điều kiện cho
Kiểm toán nội bộ hoạt động và phát triển. bộ phận Kiểm toán nội bộ đã
phát triển cực nhanh ở Mĩ cũng như ở châu Âu từ những năm 60. Sự phát
triển này đă được khuyến khích bởi sự thành lập của tổ chức kiểm toán nội
bộ (IIA) năm 1944 tại New York, tổ chức này đã xác định bản chất, mục
tiêu và phạm vi hoạt động của bộ phận Kiểm toán nội bộ. Tổ chức Kiểm
toán nội bộ là thành viên của Liên đoàn kế toán quốc tế (IFAC), đồng thời
nó nghiên cứu, đào tạo, bồi dưỡng cấp chứng chỉ cho các kiểm toán viên
nội bộ.
•Tại Việt Nam
Kiểm toán nội bộ có vai trò quan trọng và cần thiết nhưng những hiểu
biết của chúng ta về lĩnh vực này còn quá ít so với kiểm toán Nhà nước và
kiểm toán độc lập. Trên thực tế , hầu như có rất ít các công trình hay đề tài
nghiên cứu khoa học một cách hệ thống và sâu sắc về Kiểm toán nội bộ.
3
Trong điều kiện đó, vướng mắc về nhận thức là lẽ đương nhiên; việc triển
khai thực hiện hoạt động Kiểm toán nội bộ ở các Doanh nghiệp lại càng
lúng túng.
Trong thời gian vừa qua, ở Việt Nam đã xuất hiện những nhu cầu và
điều kiện cần thiết cho việc thiết lập hệ thống Kiểm toán nội bộ trong các
đơn vị. Tuy nhiên vì là giai đoạn đầu nên việc hình thành mới được rất ít và
chậm chạp, chủ yếu tập trung ở các tổng công ty lớn, các Doanh nghiệp có
qui mô lớn hoặc các doanh nghiệp nước ngoài. Hơn thế nữa, Kiểm toán nội
nội bộ. Nhìn chung Quyết định 832 đã đề cập tương đối đầy đủ và rõ ràng
về các yếu tố liên quan đến Bộ phận kiểm toán nội bộ trong doanh nghiệp,
xứng đáng là một trong nhưng văn bản pháp quy đầu tiên trong lĩnh vực
này.
Xét đến cùng, kiểm toán nội bộ Việt Nam vẫn đang ở trong giai đoạn
hình thành và phát triển, việc thí điểm mới chỉ dừng lại ở các Tổng công ty,
các Doanh nghiệp có qui mô lớn .Việc hình thành mô hình Kiểm toán nội
bộ nói chung còn gặp nhiều khó khăn, lúng túng. Tuy nhiên, việc phát triển
hệ thống Kiểm toán nội bộ trong các Doanh nghiệp ở nước ta trong điều
kiện nền kinh tế thị trường là một đòi hỏi khách quan và cần thiết vì sự tồn
tại và hưng thịnh của chính các Doanh nghiệp trong cơ chế thị trường khốc
liệt.
1.2 Kiểm toán nội bộ trong các doanh nghiệp
Kiểm toán nội bộ là nhu cầu tự thân của các Doanh nghiệp nên phạm
vi hoạt động của nó rất biến động và tuỳ thuộc vào qui mô, cơ cấu của
Doanh nghiệp cũng như nhu cầu quản lí đơn vị, do vậy Kiểm toán nội bộ
trong các doanh nghiệp khác nhau là khác nhau và phù hợp với từng điều
kiện, hoàn cảnh của Doanh nghiệp
1.2.1 Phạm vi và mục tiêu của kiểm toán nội bộ :
Kiểm toán nội bộ là nhu cầu tự thân của các Doanh nghiệp nên phạm
vi hoạt động của nó rất biến động và tuỳ thuộc vào qui mô, cơ cấu của
5
Doanh nghiệp cũng như nhu cầu quản lí đơn vị, do vậy Kiểm toán nội bộ
trong các doanh nghiệp khác nhau là khác nhau và phù hợp với từng điều
kiện, hoàn cảnh của Doanh nghiệp , thông thường, kiểm toán nội bộ haọt
động trên các lĩnh vực
• Kiểm toán hoạt động
- Kiểm tra việc huy động, phân phối sử dụng một cách tiết kiệm và có
hiệu quả các nguồn lực (nhân lực, vật tư, hàng hoá, tài sản, tiền vốn..., lợi
thế kinh doanh...)... của doanh nghiệp;
báo cáo tài chính, báo cáo kế toán quản trị trước khi trình duyệt.
• Kiểm tra sự tuân thủ các nguyên tắc hoạt động, quản lí kinh doanh
đặc biệt là sự tuân thủ luật pháp, chính sách, chế độ tài chính kế toán, chính
sách, nghị quyết của hội đồng quản trị, của ban giám đốc doanh nghiệp
• Phát hiện những sơ hở, yếu kém, gian lận trong quản lí, trong bảo vệ
tài sản của doanh nghiệp ; đề xuất các giải pháp nhằm cải tiến, hoàn thiện
hệ thống quản lí, điều hành kinh doanh của doanh nghiệp
1.2.3 Quyền hạn của kiểm toán nội bộ.
Do đặc trưng của kiểm toán nội bộ là kiểm tra, xác minh tính đúng đắn
của các báo các tài chính trong doanh nghiệp, tính tuân thủ và hiệu quả
hoạt động của doanh nghiệp nên kiểm toán nội bộ có những quyền hạn
riêng để đảm bảo mục đích hoạt động. KTNB có quyền:
Thứ nhất, kiểm toán nội bộ độc lập với các bộ phận khác trong
doanh nghiệp, độc lập về chuyên môn nghiệp vụ trong phạm vi
khuôn khổ luật pháp và các chuẩn mực, phương pháp nghiệp vụ
chuyên môn.
7
Thứ hai, yêu cầu các bộ phận và các cá nhân có liên quan cung cấp
đầy đủ, kịp thời các tài liệu về kế toán, tài chính và các tài liệu khác
có liên quan tới nội dung kiểm toán .
Thứ ba, có quyền đối chiếu xác minh các thông tin kinh tế có liên
quan tới đối tượng được kiểm toán ở trong và ngoài DN.
Thứ tư, có quyền kiến nghị với đối tượng được kiểm toán có biện
pháp sửa chữa sai phạm và có quyền ghi ý kiến của mình vào báo
cáo kiểm toán .
Thứ năm, có quyền đề xuất với lãnh đạo DN những kiến nghị và
biện pháp về quản lý.
Đó là những quyền hạn cơ bản của KTNB, bên cạnh đó tuỳ thuộc vào
từng DN, từng điều kiện cụ thể mà KTNB có thể có thêm các quyền hạn
khác.
bị công nghệ. Nếu chúng ta đầu tư hợp lý cho công nghệ kỹ thuật thì nó sẽ
giúp làm giảm chi phí đầu vào rất nhiều do tính tiết kiệm cũng như chất
lượng của công nghệ mới.
Đầu vào thường xuyên của sản xuất là nguyên vật liệu do đó để giảm
chi phí đầu vào chúng ta cần chú ý đến việc tiết kiệm nguyên vật liệu, sản
xuất là một quá trình, để giảm được chi phí sản xuất cần phải nghiên cứu
quá trình đó. Trong đó các bước chủ yếu là:
Quản lý nguồn lực sản xuất: ghi nhận thông tin về máy móc thiết
bị,công cụ dụng cụ theo danh mục phân loại, ghi nhận tiêu chuẩn chất
lượng, đặc điểm nguyên vật liệu…nhằm có sự quản lý chặt chẽ các nguồn
lực tránh thất thoát và tăng sự kiểm soát
Kế hoạch sản xuất: thiết lập kế hoạch sản xuất phù hợp quy mô
thời kỳ, đối tác, loại sản phẩm…trong quá trình tiến hành triển khai kế
hoạch sản xuất cần theo dõi thường xuyên nhằm cập nhật những thông tin
kịp thời và dựa vào thông tin đó điều chỉnh cho phù hợp
Điều độ sản xuất: phân công công việc cụ thể có tính trách nhiệm
cao đồng thời thường xuyên thao dõi quá trình thực hiện
•Giảm chi phí đầu ra
Chí phí đầu ra là những chi phí phục vụ cho tiêu thụ sản phẩm, nó
bao gồm chi phí đóng gói,chi phí vận chuyển, chi phí bán hàng và những
chi phí khác liên quan đến tiêu thụ sản phẩm. Việc thúc đẩy tiêu thụ sản
phẩm với mức chi phí tối thiểu cũng là giúp nâng cao hiệu quả kinh doanh
của doanh nghiệp . Để giảm chi phí tiêu thụ điều trước tiên doanh nghiệp
cần làm là nắm bắt thị trường và hiểu rõ về doanh nghiệp mình trong thị
trường đó. Chỉ trên cơ sở nắm bắt thị trường doanh nghiệp mới có những
hướng đi đúng đắn trong việc tiết kiệm chi phí tiêu thụ sản phẩm.
10
Như vậy, từ sự phân tích trên: hiệu quả kinh doanh là một phạm trù
kinh tế, nó phán ánh trình độ sử dụng các nguồn lực sẵn có của Doanh
nghiệp để hoạt động sản xuất, kinh doanh đạt kết quả cao nhất với chi phí