Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Pi
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
LÊ THỊ BÍCH NGỌC ĐỊNH TỐ ĐỘNG TỪ TRONG “THƯƠNG NHỚ MƯỜI HAI” CỦA
VŨ BẰNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC ĐỊNH TỐ ĐỘNG TỪ TRONG “THƯƠNG NHỚ MƯỜI HAI” CỦA
VŨ BẰNG Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Mã số: 60.22.01
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ HỌC
THÁI NGUYÊN – 2012
nhà văn Vũ Ngọc Phan đã phát hiện Thương nhớ mười hai Vũ Bằng có lối tả
cảnh và nhân vật rất riêng, chú trọng vào hành vi. Vậy nhưng, nghệ thuật ngôn
từ trong tác phẩm chưa được nghiên cứu một cách chuyên sâu, có hệ thống. Đó
là nguyên nhân để chúng tôi lựa chọn nghiên cứu: Định tố động từ trong
2
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
“Thương nhớ mười hai” của Vũ Bằng. Hi vọng công trình sẽ góp phần làm rõ hơn
giá trị của tác phẩm ở phương diện nghệ thuật cũng như tài năng của tác giả.
1.3. Mặc dù có vai trò quan trọng như vậy, nhưng lâu nay, ĐTĐT chưa
được các nhà Việt ngữ học thực sự quan tâm. Các nhà nghiên cứu như: Nguyễn
Kim Thản, Nguyễn Tài Cẩn, Đinh Văn Đức, Hồ Lê….đã ít nhiều quan tâm đến
định tố. Tuy nhiên, các tác giả mới chỉ chú trọng và tập trung nghiên cứu định
tố như một từ loại có ý nghĩa khái quát, khả năng kết hợp, khả năng đảm nhiệm
các chức vụ ngữ pháp trong câu. Khi bàn về chức năng ngữ pháp của ĐT, các
tác giả thường nói đến định tố như một vai trò ngữ pháp hoặc một trong những
vai trò giữ pháp mà ĐT có thể đảm nhiệm.
DN và thành phần định tố cũng đã được nghiên cứu trong những công
trình ngữ pháp của các tác giả như: Nguyễn Kim Thản, Nguyễn Tài Cẩn. Bên
cạnh đó, hai tác giả Hoàng Dũng và Nguyễn Thị Ly Kha cũng đề cập đến việc
phân loại định tố trong cấu trúc DN dựa vào chức năng. Tuy nhiên, chưa xác
định rõ nét các chức năng ở bình diện ngữ nghĩa hay ngữ dụng của định tố. Gần
đây, công trình nghiên cứu Định tố tính từ trong tiếng Việt của TS. Nguyễn Thị
Nhung cũng đã nói đến định tố, nhưng tác giả đi sâu nghiên cứu định tố là tính
từ chứ không chuyên sâu về ĐTĐT.
Có thể nhận thấy rằng, về cơ bản, chưa có một công trình khoa học nào
nghiên cứu một cách chuyên sâu và có hệ thống về ĐTĐT. Chính vì thế, đây là
lý do để chúng tôi quyết định nghiên cứu đề tài: Định tố động từ trong “Thương
Lê; Về các thành tố phụ sau trung tâm trong DN tiếng Việt của Hoàng Dũng và
Nguyễn Thị Ly Kha; Định ngữ là vị từ trong tiếng Việt (Luận văn ThS) của Đỗ
Thị Ngọc Mai; Định tố tính từ trong tiếng Việt (Luận án TS) của Nguyễn Thị
Nhung, Định tố danh từ trong tiếng Việt (Luận văn Th.S) của Nguyễn Thanh Nga.
Những công trình trên đã nghiên cứu DN và thành phần định tố ở các mức độ khác
nhau. Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu chi tiết, hệ thống về đặc điểm
cấu trúc và chức năng của thành phần định tố có bản chất từ loại là ĐT.
1.3. Tác phẩm Thương nhớ mười hai của nhà văn Vũ Bằng là một tác
phẩm hay, có giá trị nội dung và nghệ thuật đặc sắc. Vì thế, đã có một số đề tài,
4
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
tiểu luận viết về tác phẩm này như: Không gian hoài cổ trong Thương nhớ mười
hai của Vũ Bằng của Lê Thị Hải Vân; Nghệ thuật kết cấu Thương nhớ mười hai
của Vũ Bằng của Chế Diễm Trâm; Đặc trưng ngôn ngữ trong Thương nhớ mười
hai của Vũ Bằng của Hoàng Mai; Vẻ đẹp của ngôn từ trong Thương nhớ mười
hai của Vũ Bằng của Vũ Mai Phương;… Tuy nhiên, thành phần ĐTĐT trong
tác phẩm này chưa được quan tâm nghiên cứu cụ thể.
Tóm lại, về cơ bản ĐTĐT chưa được nghiên cứu một cách cụ thể, toàn
diện Do đó, việc tìm hiểu về ĐTĐT nói chung và ĐTĐT trong Thương nhớ
mười hai là một việc làm cần thiết.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
- Qua việc làm rõ những đặc trưng về cấu trúc, chức năng của ĐTĐT
trong Thương nhớ mười hai của Vũ Bằng, có được những hiểu biết về tác dụng
cụ thể của ĐTĐT với một tác phẩm văn chương.
- Đồng thời, cũng qua đó mà hiểu hơn về tài năng và phong cách văn
chương của tác giả Vũ Bằng.
quan khi miêu tả và giúp phân tích giá trị các ĐTĐT được Vũ Bằng sử dụng.
+ Các thủ pháp giải thích bên trong như thống kê, phân loại, hệ thống
hóa được sử dụng để xác định số lượng DN chứa ĐTĐT, số lượng các tiểu loại
ĐTĐT phân chia theo các tiêu chí khác nhau cũng như số lượng các thành tố
khác có trong DN chứa ĐTĐT ở Thương nhớ mười hai. Thủ pháp phân tích
nghĩa tố được sử dụng để chỉ ra ý nghĩa của các ĐTĐT trên bình diện ngữ nghĩa
và ngữ dụng.
- Phương pháp so sánh
Phương pháp so sánh được sử dụng để phân biệt các nhóm ĐTĐT được
phân chia trên mỗi bình diện và phân biệt các nhóm ĐTĐT với cac nhóm định
tố có bản chất từ loại khác cũng trên từng bình diện.
6. Đóng góp của luận văn
Với luận văn này, chúng tôi sẽ:
6
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
- Xác định vị trí, số lượng, cấu tạo, khả năng kết hợp của ĐTĐT trong
DN ở Thương nhớ mười hai.
- Đưa ra khái niệm về các loại ĐTĐT phân theo chức năng trên bình diện
ngữ nghĩa, ngữ dụng. Làm rõ đặc điểm của mỗi loại ĐTĐT đó ở các mặt: vị trí,
số lượng ĐTĐT trong DN, cấu tạo, khả năng kết hợp và ngữ nghĩa, các tiêu chí
và kết quả chia tiểu loại ở mỗi loại ĐTĐT trong Thương nhớ mười hai.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn
của chúng tôi gồm 3 chương:
Chƣơng 1: Cơ sở lý luận
Chương này trình bày những vấn đề lý luận cơ bản – những tri thức khái
quát về ĐT và ĐTĐT, các bình diện nghiên cứu ĐTĐT trong Thương nhớ mười
8
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Chƣơng 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. KHI QUT V ĐNG TỪ TING VIT
1.1.1. Khái niệm và đặ c điể m độ ng tƣ̀ tiế ng Việ t
Động từ – một từ loại đóng vai trò quan trọng trong tiếng Việt. Đã có rất
nhiều nhà Việt ngữ học nghiên cứu về từ loại này. Theo Trầ n Trọ ng Kim :
ĐT tiếng Việt có khả năng kết hợp phổ biến về phía trước với các phó từ
biể u diễ n sự tiế p diễ n : vẫn, cứ , đều, cng…; vớ i cá c hư từ chỉ thờ i gian: đã ,
đang, s, sắ p,….Đặc biệt là ĐT có khả năng kết hợp với các phó từ chỉ mệnh
lệ nh, sai khiế n: hy, đừ ng, chớ . Cùng với đó, ĐT còn có thể kết hợp phía trước
vớ i cá c phó từ khẳng định: không, chẳ ng, chưa…
Khả năng kế t hợ p về phía sau của ĐT hết sức phong phú , thường là với
các thực từ và những hư từ chỉ sự kết thúc, hoàn thành: xong, rồ i (học xong,
học rồ i…).
Ngoài ra, trong thự c tế , chúng ta có thể thấ y, ĐT tiế ng Việ t có khả năng
kế t hợ p vớ i mộ t số nhó m phụ từ chỉ mức độ: rấ t, hơi, lắ m … ở cả phí a trướ c và
phía sau như: rấ t thích, hơi buồ n, yế u lắ m…
- Về vai trò ngữ phá p, ĐT tiế ng Việ t có thể làm vị ngữ đồ ng thờ i có thể
làm yếu tố mở rộng của danh từ (DT) và yếu mở rộng của ĐT (bổ tố ), trạng
ngữ . Bên cạ nh đó , ĐT cũng có vai trò làm chủ ngữ.
Về chứ c năng là m vị ngữ của ĐT , tác giả Đinh Văn Đức ghi lại thố ng
kê của Nguyễn Việt Hưng (1970): 99% câu đơn tiếng việt có vị ngữ do ĐT và
TT đảm nhiệm. Như vậ y, làm vị ngữ là một vai trò rất quan trọng củ a ĐT. Tuy
vậ y, cũng không thể phủ nhậ n vai trò là m định tố củ a ĐT.
Do đặc trưng ngữ nghĩa của mình mà ĐT hết sức hạn chế xuất hiện với
vai trò chủ ngữ. Khi xuất hiện với vai trò này, ĐT thường không còn giữ đầy đủ
bản chất từ loại của nó nữa.
Ví dụ: Thắc mắc này rất chính đáng.
10
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Ở vị trí trên, thắc mắc không thể kết hợp được với các “từ chứng” của nó
như: đang, cứ, hy,…cụ thể, nếu nó kết hợp các từ trên thì sẽ có câu:
+ Đang thắc mắc này rất chính đáng. (-)
trống nghĩa, vô nghĩa.
- (Làm sao quên cho được ) nhữ ng ngà y số ng tƣ̀ Hò a Bì nh đế n Ngũ
Châu, Lang Chí nh…
- niề m vui; nỗ i buồ n; nhữ ng cuộ c đấ u vậ t; những bông sao rụng; …
Những ĐTĐT không thể lược bỏ là ĐTĐT đứng sau các DT trố ng nghĩ a
như: niề m, nỗ i, sự , việ c, cuộ c, cái…hoặc sau nhữ ng DT có thành phần phụ
trướ c là : nhữ ng, các, mộ t….
1.1.2. Vấ n đề ranh gii của đng từ ting Việt
Có thể xác định ranh giớ i củ a ĐT với TT, DT - hai từ loại gần gũi với
nó trong hệ thố ng từ loạ i tiế ng Việ t như sau:
- Phân biệt ĐT với TT:
+ Về khả năng kết hợp, ĐT rất gần với TT bởi đều có khả năng kết hợp
với năm nhóm thành tố phụ trước (phó từ): nhóm phó từ chỉ thời thể (đ, s,
đang….), phó từ chỉ sự tiếp diễn tương tự (vẫn, còn, cũng….), phó từ phủ định
(không, chẳng, chưa). Tuy nhiên, chính ở đây, cũng có sự phân biệt. Đó là
nhóm phó từ chỉ mệnh lệnh (hy, đừng, chớ….) kết hợp phổ biến với ĐT thì hạn
chế kết hợp với TT; ngược lại, nhóm phó từ chỉ mức độ (rất, hơi, quá, lắm…)
lại là nhóm thành tố phụ tiêu biểu của tính từ TT.
+ Về chứ c vụ ngữ phá p, ĐT và TT giố ng nhau ở điể m, cùng đả m nhậ n
chứ c vụ vị ngữ . Nhưng nế u như vị ngữ là chứ c vụ ngữ phá p chí nh củ a ĐT thì
không ai khẳ ng đị nh điề u đó ở từ loại từ TT. Mà chức vụ ngữ pháp chính của
TT là chức vụ định tố. Kết luận này đã được TS Nguyễn Thị Nhung trong công trình
nghiên cứu Định tố tính từ trong tiếng Việt với nhiều cơ sở giàu sức thuyết phục.
+ Trong sử dụng: Nhữ ng từ lá y tượ ng thanh như : xôn xao , róc rách ,
chậ p chờ n, dậ p dờ n… nếu kế t hợ p vớ i các ĐT chỉ hoạt động của sự vật như:
(bay, chảy…) thì nó là nhữ ng TT chỉ cách thức của hành động : bay dậ p dờ n,
12
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
+ Thứ năm, mộ t số DT như: cơm nướ c, anh em, bạn b,… bị ĐT hóa khi
kết hợp về phía trước những phó từ khẳng định trong mộ t và i trườ ng hợ p giao
tiế p như:
* Chẳ ng cơm nƣớ c g cả!
* Tôi không anh em, bạn b g với anh nữa.
1.1.3. Phân loạ i độ ng tƣ̀ tiế ng Việ t
Có nhiề u tiêu chí để phân loạ i ĐT tiế ng Việ t. Tiêu chí được sử dụng để
phân loại ĐT phổ biến nhất là dự a và o khả năng kế t hợ p vớ i cá c p hó từ
chỉ mệ nh lệ nh (hy, đừ ng, chớ ) của ĐT. Về vấn đề này, tác giả Nguyễ n Kim
Thản trong Nghiên cứ u về ngữ phá p tiế ng Việ t phân chia ĐT theo hai tiêu chí là
phân chia theo sự phân phố i cá c hư từ hay bá n hư từ p hục vụ ĐT ( phân loạ i có
tính chất từ pháp) và tiêu chí dựa vào tính chát chi phối bổ ngữ của ĐT.
Khác với cách phân chia ĐT của tác giả Nguyễ n Kim Thả n , tác giả Hồ
Lê trong cuố n “ Cú pháp tiếng Việt – quyể n II – Cú pháp cơ sở” đã phân chia
ĐT thành 4 tiể u loạ i: ĐT tâm lý (độ ng từ tì nh thá i); ĐT cảm thụ; ĐT trự c hà nh;
Động từ hành đạt.
Mộ t số tá c giả khá c như Lê Đì nh Tư thì phân chia ĐT thành hai loại độ ng
từ độ c lậ p và động từ không độc lập.
Vớ i nhữ ng cá ch phân loạ i trên củ a cá c nhà ngôn ngữ họ c , chúng tôi tán
thành việc phân loại theo tiêu chí ngữ nghĩa, coi việ c phân loạ i theo tiêu chí ngữ
nghĩa là cơ sở cho việc phân tiểu loại ĐTĐT trên bình diện ngữ nghĩa.
Trên cơ sở tham khảo ý kiến của các nhà ngữ pháp học, chúng tôi xin đề
nghị một cách phân loại ĐT tiếng Việt như sau:
Trước hết, ĐT tiếng Việt được chia làm hai nhóm lớn: Động từ độc lập
và động từ không độc lập.
* Động từ không độc lập: được phân chia thành các nhóm nhỏ: Động từ
tnh thái và động từ quan hệ
bắt buộc.
ĐT ngoại động gồm các tiểu nhóm sau:
15
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
+ Nhóm ĐT tác động tích cực (kết quả của nó làm thay đổi về trạng thái,
tính chất, vị trí của đối tượng) như: ăn, học, xây, lau, chặt, đào, trồng, may, cắt,
giết, gánh…
+ Nhóm ĐT chỉ hoạt động của bộ phận cơ thể (hoạt động mà chủ thể gây
ra và chuyển tới bộ phận cơ thể mình) như: chép, lim dim, nhắm, ngửa, nhăn,
nháy, phng, trợn, vẫy, vục, vươn….
+ Nhóm ĐT chỉ hoạt động cảm xúc (chi phối một bổ ngữ) như: yêu ghét,
nhớ, thương, chán,….
+ Nhóm ĐT cảm nghĩ nói năng (chi phối một bổ ngữ) như: nghĩ, tin,
thấy, bảo….
+ Nhóm ĐT trao nhận (chi phối hai bổ ngữ) như: cho, đưa, nhận, vay, mượn…
+ Nhóm ĐT gây khiến (chi phối hai bổ ngữ) như: bảo, khiến, yêu cầu, mời…
+ Nhóm ĐT chuyển dời đối tượng (chi phối hai bổ ngữ) như: du, đẩy,
đặt, tra, xâu….
+ Nhóm ĐT đánh giá, nhận xét (chi phối hai bổ ngữ) như: coi, lấy, gọi,
xác nhận….
Và trong quá trình nghiên cứu ĐTĐT trong Thương nhớ mười hai, chúng
tôi sẽ phân loại các loại ĐTĐT dựa trên cách phân loại mà chúng tôi đề xuất
trên đây.
1.2. KHI QUT V CM TỪ , ĐOẢ N NGƢ̃ , DANH NGƢ̃ , ĐỊ NH
TỐ , ĐỊ NH TỐ ĐNG TỪ TRONG TING VIT.
1.2.1. Cụm từ
Nói về cụm từ , Diệ p Quang Ban trong Ngữ phá p tiế ng Việ t – tậ p 2 đã
diên củ a khá i niệ m biể u thị bằ ng DTTT.
Phầ n đầ u củ a DN có tố i đa ba vị trí. Ba vị trí này có thể đều đượ c thể
hiệ n bằ ng cá c thà nh tố trong cù ng mộ t lú c , mà cũng có thể chỉ một hay hai vị
trí, hay không có vị trí nà o đượ c thể hiệ n ra . Cả ba vị trí trong phần phụ trước
DN có trậ t tự ổ n đị nh, không thể chuyể n đổ i cho nhau.
Bng 1: Phầ n phụ trƣớ c trung tâm DN
Vị trí -3
Vị trí -2
Vị trí -1
Phầ n trung tâm
17
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
tất cả
nhữ ng
cái
con
gà
Chỉ tổ ng lượ ng
Chỉ số lượ ng
Chỉ xuấ t
T1
T2
- Bộ phậ n trung tâm củ a DN:
+ Có thể là trung tâm đơn như tư tưởng trong cụm từ: Tất cả những tư
tưởng ấy,…
+ Có thể là trung tâm ghép như con (T1) – gà (T2) trong ví dụ đã
Trong hoà n cả nh cụ thể , ta có thể nó i là:
Nhữ ng qu này chín hết rồi!
Hoặ c cá ch nó i tỉnh lược khác mà người đọc vẫn hiểu được nội dung của
câu là: Na này chín hết rồi!
18
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Theo quan hệ ngữ phá p , các thành tố phụ trước có quan hệ trự c tiế p vớ i
trung tâm hơn cá c các thành tố phụ sau DN. Vì vậy, khi xé t ĐTĐT trên bì nh
diệ n ngữ nghĩa chú ng tôi đặ t ĐTĐT trong quan hệ vớ i tổ hợ p gồ m DT và cá c
thành tố ở phần đầu này.
1.2.4. Đị nh tố và đị nh tố độ ng tƣ̀
1.2.4.1. Khi niệm định tố và định tố động từ.
Đị nh tố là thành phần phụ cho DT. Nó còn được gọi là đị nh ngữ , TPP sau
danh ngữ .
Sự phân biệ t đị nh tố – đị nh ngữ là sự phân biệ t cấ u trú c – chứ c năng củ a
từ phá p và cú pháp.
Nhữ ng tá c giả dùng tên gọi định tố là Nguyễ n Tà i Cẩ n , Nguyễ n Thiệ n
Giáp, Nguyễ n Thị Nhung…Cò n các tác giả : Đinh Văn Đức, Hoàng Dũng –
Nguyễ n Thị Ly Kha, Nguyễ n Minh Thuyế t, Nguyễ n Văn Hiệ p… dù ng tên gọ i
đị nh ngữ .
Tác giả Nguyễ n Kim Th ản trong cuốn “Nghiên cứ u về ngữ phá p tiế ng
Việ t” tập 2, cho rằ ng “Ở bấ t cứ thà nh phầ n nà o trong câu , ở bất k thành phần
nào của từ tổ, ở đâu có thể từ thì ở đó có khả năng định ngữ. Tấ t cả cá c loạ i thự c
từ đề u có thể là m định ngữ cho danh từ … Đị nh ngữ là thà nh phầ n phụ thuộ c
của thể từ” [49,tr.123]. Định tố là thành phần phụ cho từ , chứ c năng ngữ phá p
của nó thể hiện trong DN . Khi DN tham gia và o hoạ t độ ng giao tiế p , định tố
theo đó mà xuất hiện trong câu , có những tác động nhất định tới các phương
trong phầ n cuố i DN, tác giả Đinh Văn Đức đã đánh giá “Các thành tố phụ đứng
sau DT có chứ c năng hạ n đị nh và chỉ đị nh cho DT mà thự c chấ t là bao gồ m cả
cái ngoại diên của khái niệm đượ c biể u đạ t bằ ng danh từ ” [24,tr.89), và “Định
ngữ là mộ t phạ m trù phứ c tạ p . Chứ c năng củ a nó là hạ n đị nh” [24,tr.91. Tuy
nhiên, trong một số trường hợp, khi DTTrT là DT riêng, đã được xác định cụ
thể thì định tố ở sau đó không đảm nhiệm chức năng hạn định nữa, nó đảm
nhiệm chức năng khác mà các tác giả nói trên chưa đề cập đến Chẳng hạn
trong những chậu gốm Giang Tây đng hộp này, đ được gửi đi hôm qua,
(đóng hộp không có chức năng hạn định).
20
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
b) Vấn đề phân loại định tố theo tiêu chí chức năng
Các nhà Việt ngữ học quan tâm đến sự phân loại ĐT ở phần cuối DN có
thể chia thành hai nhóm: nhóm nghiêng về sự phân loại theo cấu trúc và nhóm
nghiêng về sự phân loạ i theo chứ c năng.
Trướ c hế t, là những quan điểm về sự phân loại theo cấu trúc.
Đạ i diệ n củ a nhó m nà y là N .V.Xtankêvich và Nguyễ n Tà i Cẩ n . Theo
Nguyễ n Tà i Cẩ n “Về mặ t tổ chứ c, định tố đầ u trong tuyệ t đạ i số trườ ng hợ p đề u
xuấ t hiệ n dướ i dạ ng củ a mộ t từ , định tố cuố i thườ ng lạ i rấ t dễ kè m thêm thà nh
tố phụ để phát triển thành một đoản ngữ n hỏ. Trong tiế ng Việ t , khi định tố là
mộ t mệ nh đề , thì bao giờ đó cũng là một định tố cuố i” [12,tr.205].
Những định tố (đị nh ngữ ) biể u thị bằ ng cá c từ loạ i khá c nhau thì có ý
nghĩa và đặ c điể m ngữ phá p khá c nhau . Điều này thể hiện sự phong phú , đa
dạng của định tố tiế ng Việ t.
Nế u định tố là DT thì nó “nêu tên mộ t sự vậ t là m đặ c trưng cho sự vậ t
nêu ở trung tâm , hoặ c nêu lên sự vậ t có quan hệ vớ i sự vậ t nêu ở trung tâm”
[12,tr.238], còn nếu tính từ làm định tố thì bao giờ cũng dùng để nêu lên đặc
Các tác giả còn lại đã phân ra được một số loại định tố có những điểm
phân biệ t rõ rệ t về mặ t chứ c năng , nhưng cá c tiêu chí phân loạ i, nhậ n diệ n chưa
thậ t nhấ t quá n, ranh giớ i giữ a cá c loạ i định tố chưa rõ rà ng. Ví dụ, nhóm tác giả
cuố n Cơ sở ngôn ngữ họ c và tiế ng Việ t [16,tr.145] xác định đị nh ngữ chỉ loại
dự a và o nghĩ a củ a định tố trong DN độ c lậ p , nhưng xá c đị nh đị nh ngữ chỉ đặ c
trưng và đị nh ngữ trang trí lại dựa vào việc xét DN trong quan hệ với ngữ cảnh,
mục đích sử dụng cụ thể.
Tóm lại, sự phong phú về số lượng, đa dạ ng về kiể u cấ u tạ o và ngữ nghĩa
của các thành tố phụ sau củ a DN tạ o nên sự phứ c tạ p và khó khăn trong quá
trình phân loạ i chú ng . Các quan điểm phân loại ĐT của các tác giả là tài l iệ u
hữ u ích cho chú ng tôi nghiên cứ u đề tà i nà y . Nhưng cầ n phân loạ i ĐT trên cá c
bình diện: cấ u trú c và chứ c năng để có sự phân loạ i nhấ t quá n . Chúng tôi sẽ đi
từ bì nh diệ n cấ u trú c để từ đó tì m hiể u cá c chứ c năng tiề m tàng, các chức năng
thự c tế , lâm thờ i củ a ĐT . Theo hướ ng phân loạ i nà y , đề tài của chúng tôi lấy
định tố có bản chất từ loại ĐT để xem xét mặt cấu trúc và mặt chức năng.
22
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
b) Phân biệ t đị nh tố độ ng từ vớ i vị ngữ độ ng từ
DN có ĐTĐT vớ i cụ m chủ vị có vị ngữ là ĐT không phải lúc nào cũng
dễ phân biệt. Bởi giữ a chúng có điểm giố ng nhau về số lượ ng , trậ t tự các từ và
quan hệ ngữ nghĩa giữa chúng. Cụ thể là:
- Chúng đều có cấ u tạ o hai thà nh tố : DT và ĐT (cụm DT và cụm ĐT)
- Có trậ t tự từ như nhau: (DT – ĐT)
- Nghĩa biể u hiệ n giố ng nhau : DT biể u hiệ n mộ t thự c thể mà hoạ t độ ng ,
trạng thái của nó do ĐT đi sau biể u hiệ n.
Vậ y nguyên nhân củ a hiệ n tượ ng giố ng nhau nà y là gì? Tác giả Nguyễ n
Văn Lộ c đã giả thích rằng: đó là hiệ n tượ ng đồ ng hì nh trong tiế ng Việ t , và “bắt
23
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên chủ ngữ.
Về
hnh
thƣ́ c
- Được phát âm lướ t
nhẹ liề n vớ i DTTT
- DN chứ a ĐTĐT có thể thay thế
bằ ng đạ i từ xưng gọ i: nó, hắ n, y
VD: Nó là học sinh của tôi (+)
- DTTT có khả năng bổ sung mộ t
trong cá c đạ i từ để trỏ: này kia ,
nọ, ấy….vào cuối DN có ĐTĐT.
VD:Cậ u bé đá bó ng ở ngoà i
sân đó /ấy/kia đã mồ côi cả cha
lẫ n mẹ (+)
- Không thể bổ sung từ th giữ a
DTTT với ĐTĐT
VD: Cậ u bé th đá bó ng ở ngoài
sân đã mồ côi cả cha lẫ n mẹ .(-)
không có nghĩ a.