thi pháp ngôn từ trong thương nhớ mười hai - Pdf 24

Đại cương thi pháp học
A. Mở đầu.
Mỗi một nghệ sĩ là một cá tính sáng tạo mạnh mẽ. Không giẫm lên trên lối mòn
cả trong cảm nhận và biểu đạt. Sự biểu đạt trong văn chương trước tiên đòi hỏi sự
dụng công ở ngôn từ. Một tác phẩm hay là tác phẩm phải đi sâu vào lòng người và có
tính chất kết tinh. Chất kết tinh ấy là sự sáng tạo độc đáo của người nghệ sĩ. Qua ngôn
ngữ, độc giả có thể cảm nhận được vẻ đẹp và sự tinh túy mà người tạo nên tác phẩm
muốn truyền đạt.
Thông qua việc tìm hiểu và phân tích thi pháp ngôn từ trong “thương nhớ mười
hai” của Vũ Bằng sẽ giúp cho chúng ta có một cái nhìn tổng quát và cụ thể về việc sử
dụng ngôn từ cũng như việc bộc lộ tâm tư, tình cảm mà nhà văn muốn gửi gắm vào
trong tác phẩm này.
B. Nội dung.
I. Giới thiệu sơ lược về tác giả, tác phẩm.
1. Tác giả Vũ Bằng.
Vũ Bằng tên thật là Vũ Đăng Bằng sinh năm 1913 và mất năm1984, quê gốc
đất Ngọc Cục, huyện Lương Ngọc, nay là Bình Giang, tỉnh Hải Dương. Vũ Bằng là
một nhà văn, nhà báo nổi tiếng của Việt Nam từ đầu những năm 30 của thế kỉ truớc.
Tên tuổi ông gắn với tờ “Trung Việt Tân Văn” với sở trường viết truyện ngắn, tùy bút,
bút kí Sau năm 1954, ông đã vào Sài Gòn để làm báo và hoạt động cách mạng.
Ngoài bút hiệu Vũ Bằng, ông còn sử dụng các bút hiệu khác như : Tiêu Liêu,
Vịt Con, Thiên Thư, Vạn Lý Trình, Lê Tâm, Hoàng Thị Trâm Bên cạnh “Hà Nội 36
phố phuờng” của Thạch Lam thì “Thương nhớ mười hai” của Vũ Bằng đã tạo nên một
vệt văn học, gợi ý, kích thích cho nhiều nhà văn lớp sau viết về văn hoá Hà Nội.
Những năm 1932-1945, Vũ Bằng đã nâng đỡ, hướng nghiệp, dìu dắt rất nhiều nhà văn
trẻ, sau này trở thành những nhà văn tên tuổi lẫy lừng.
Trong một thời gian dài, Vũ Bằng và gia đình ông âm thầm chịu tiếng là nhà
văn "dinh tê, về thành", nhà văn "quay lưng lại với Kháng chiến", là "di cư vào Nam
theo giặc". Đến năm 2007 nhà văn Vũ Bằng được truy tặng Giải thuởng Nhà nuớc về
văn học nghệ thuật.
2. Tác phẩm Thương nhớ mười hai .

Đại cương thi pháp học
ngôn từ trong tác phẩm, xem xét nó có tác dụng như thế nào trong việc bộc lộ, thể
hiện tư tưởng nghệ thuật của nhà văn.
II. Phân tích thi pháp ngôn từ trong “thương nhớ mười hai” của Vũ Bằng.
1. Cách dùng từ ngữ trong “thương nhớ mười hai của Vũ Bằng”.
Thương nhớ mười hai là bức tranh hội tụ cái đẹp trong cuộc sống ở quê hương
miền Bắc, một vùng văn hóa kết tinh đầy đủ bản sắc tâm hồn người Việt. Sức hấp dẫn
của tác phẩm không chỉ ở tình yêu quê hương đất nước thiết tha mà còn bởi vẻ đẹp
riêng, độc đáo của nghệ thuật ngôn từ.
Ngôn ngữ gợi cảm, giàu chất thơ không phải là nét riêng biệt của Thương nhớ
mười hai mà là đặc điểm, yêu cầu chung của thể loại tùy bút. Những ai đã đọc tùy bút
của Xuân Diệu, Nguyễn Tuân, Hoàng Phủ Ngọc Tường chắc sẽ không quên những
câu thơ văn xuôi tài hoa, say mê lòng người trong đó. Nhưng, cái đặc sắc của Vũ
Bằng là nhà văn đã tạo cho tác phẩm những câu văn, những hình ảnh mang vẻ đẹp độc
đáo, mới lạ qua ngôn từ theo cách của riêng mình. Không lẫn với ai, không giống ai
cả.
2. Từ ngữ giàu hình ảnh và chứa đựng nhiều cảm xúc thông qua hệ thống
các từ loại.
Thương nhớ mười hai là một trong những tác phẩm làm say lòng người bằng
những ngôn từ giản dị mà tràn đầy cảm xúc. Vũ Bằng đã viết về cảnh vật, con người
quê hương bằng tình cảm yêu mến nồng nàn, thậm chí là thành kính, thiêng liêng.
Trong Thương nhớ mười hai cảm xúc của nhà văn được bộc lộ rất thật, với ngôn ngữ
đa dạng giàu cảm xúc và tài hoa. Những điều này được thể hiện thông qua các hệ
thống từ loại sau đây:
a. Tính từ.
Đây là một biệt tài của Vũ Bằng trong việc vận dụng sự đa thanh, đa nghĩa,
phong phú của ngôn ngữ dân tộc. Tính từ được sử dụng với tần số cao trong Thương
nhớ mười hai để chỉ về màu sắc, vẻ đẹp,…của con người và cảnh vật nơi đất Bắc.
Việc sử dụng tính từ có hiệu quả đem lại cho trang văn tính biểu cảm, và giàu hình
ảnh, giàu chất thơ như: “…Ấy vậy mà một buổi chiều trở gió kia, ngồi cúi xuống lòng

b. Động từ.
Ở Vũ Bằng, việc sử dụng động từ là một màn ảo thuật tài hoa. Động từ trong
Thương nhớ mười hai được chắt lọc từ ngôn ngữ của cuộc sống, dùng rất đắt nhưng
rất có sức gợi như: nhảy nhót, thấu,…
Thể hiện nỗi nhớ thương trào dâng, tác giả dùng động từ nhớ gần gũi và quen
thuộc. Trong tác phẩm tới hơn 232 lần nhà văn dùng động từ nhớ với nhiều dáng vẻ
và sắc thái biểu cảm: nhớ đến, nhớ ngay đến, nhớ lại, nhớ về, nhớ thương, thương
nhớ, tiếc nhớ, nhớ tiếc, nhớ nhung, sầu nhớ, nhớ ra, nhớ nhất, nhớ da diết, nhớ day
dứt, nhớ ơi là nhớ, nhớ sao nhớ quá, nhớ quá chừng là nhớ,…. Cách diễn đạt ấy cho
chúng ta thấy được cảm xúc trào dâng và sự phong phú, tài hoa trong việc sử dụng
ngôn từ.
Đọc Thương nhớ mười hai, chúng ta rất dễ nhận, Vũ Bằng sử dụng những động
từ rất Bắc Việt. Đó là những động từ được lấy ra từ lời ăn tiếng nói hằng ngày của
người dân xứ Bắc. Nó bước ra từ cuộc sống, đi vào trang văn làm cho từng câu chữ
giàu sức sống và gắn liền với mạch cảm xúc hoài niệm miên man, tiếc nhớ của nhà
văn.
Trang 4
Đại cương thi pháp học
c. Danh từ
Trong hệ thống từ loại được sử dụng trong Thương nhớ mười hai, danh từ cũng
chiếm số lượng khá lớn. Trong tác phẩm, nhà văn chủ yếu xoay quanh các danh từ
riêng chỉ các địa phận ở miền Nam và Bắc Việt.
Phải nhận thấy một điều, nhà văn biết và đi rất nhiều nơi ở Bắc Việt. Bắc Việt
hiện lên trong hoài niệm của Vũ Bằng thật thân thương, thơ mộng. Các thức ngon vật
lạ ở mỗi vùng đều khắc sâu trong trí nhớ của nhà văn. Từ Hưng Yên, Vụ Bản, Việt
Trì, Sa Pa cho đến ba mươi sáu phố phường Nơi nào cũng đáng nhớ, cũng làm cho
nỗi nhớ của nhớ văn thêm phần sâu đậm, da diết.
Nỗi nhớ thương da diết đã thôi thúc nhà văn tìm về với Bắc Việt thân yêu. Qua
dòng hồi tưởng, nhà văn không quên tìm về và gọi những cái tên đã làm nên nỗi nhớ
khôn nguôi: “…nhớ hoa sấu rụng đầu đường Hàng Trống, nhớ quả bàng ở Hải Hậu

sáng mùa thu,…”.
Điểm nổi bật khác trong thủ pháp so sánh của Vũ Bằng là dùng những hình ảnh
gợi cảm cụ thể để đặc tả các trạng thái cảm xúc tinh thần. Điều này lôi cuốn người đọc
vào thế giới hoài niệm, miên man mà nhà văn đang tha thiết vọng về. Vũ Bằng trước
hết đã tự lấy bản thân ra làm đối tượng so sánh: “Vậy mà không; lòng người xa nhà y
như thể là khúc gỗ bị mối ăn, mục nát từ lúc nào không biết…” hay “Con tim của
người khách tương tư cố lí cũng đau ốm y như là gỗ mục”. Rất nhiều hình ảnh trong
Thương nhớ mười hai được nhà văn sử dụng để so sánh đã lột tả đầy đủ, sinh động
các trạng thái cảm xúc tinh thần. Chẳng hạn như: “Nhựa sống ở trong người căng lên
như máu căng lên trong lộc của loài nai, như mầm non cây cối, nằm im mãi không
chịu được, phải trỗi ra thành những cái lá nhỏ tí ti giơ tay vẫy những cặp uyên ương
đứng cạnh” và “Tôi yêu sông xanh, núi tím; tôi yêu đôi mày ai như trăng mới in
ngầm…” .
Điều đặc biệt ở Vũ Bằng là lối so sánh rất tài hoa, dung dị. Nhà văn sử dụng
biện pháp so sánh nhẹ nhàng, giản đơn trong từng câu văn, con chữ. Không gọt dũa,
trau chuốt mà như lối trực ngôn, thấy sao phản ánh vậy. Chính sự tài hoa, tinh tế trong
cách dụng công ở phương thức nghệ thuật này đã tạo cho ngôn từ của Vũ Bằng mang
nét đặc sắc rất riêng, không lẫn với ai được. Ngôn từ trong Thương nhớ mười hai vì
thế từ chỗ dung dị, không kiểu cách, giũa gọt đã trở nên mượt mà, tinh tế. Nhẹ nhàng
mà sâu lắng, từng câu chữ đi sâu vào lòng người như mạch suối nguồn tươi mát.
Thêm một chút bâng khuâng, chút nhớ nhung và thương yêu cho cõi lòng bao thế hệ
người con xa xứ.
b. Biện pháp tu từ ẩn dụ.
Bên cạnh so sánh, thủ pháp nghệ thuật ẩn dụ cũng được Vũ Bằng sử dụng hết
sức khéo léo, tài tình và đạt hiệu quả thẩm mĩ cao. Tiếp cận tác phẩm từ nhan đề,
người đọc nhận thấy ngay độ sắc sảo của người cầm bút. Thương nhớ mười hai không
đơn thuần là mười hai tháng trong một năm. Đó là cả một trời, một đời thương nhớ về
người, về đất, về không gian và thời gian,…của đất Bắc Việt yêu thương: “Nhớ không
biết chừng nào là nhớ, nhớ sao nhớ quá thế này! Thì ra cái nhớ Hà Nội, nhớ Bắc Việt
cũng như thể chàng trai nhớ gái,…”.

nghệ sĩ ngôn từ, Vũ Bằng đã vận dụng rất thành công biện pháp nghệ thuật ẩn dụ
chuyển đổi cảm giác. Tạo ra một hiệu quả nghệ thuật to lớn. Mang đến cho tác phẩm
sức mạnh biểu cảm thông qua lối nói giàu hình ảnh, kín đáo như : “Trăng dãi trên
đường thơm thơm, trăng cài trên tóc ngoan ngoan của những khóm tre xào xạc, trăng
thơm môi mời đón của dòng sông chảy êm đềm, trăng ôm lấy những bộ ngực xanh
của những trái đồi ban đêm ngào ngạt mùi sim chín…” .
Phải có tâm hồn thật nhạy cảm trước cái đẹp. Phải có vốn ngôn ngữ thật dồi
dào và tấm lòng yêu thiên nhiên, đất nước, Vũ Bằng mới phát hiện được hết cái sống
động, cái hồn của từng nhánh cây, ngọn cỏ: Trăng tháng giêng “là cái đẹp của nàng
trinh nữ thẹn thùng, vén màn hoa ở lầu cao nhìn xuống để xem ai là tri kỉ, mặc dầu
không có ai thấy để đoán biết tâm sự mình, nhưng cứ thẹn bâng khuâng, thẹn với
chính mình”.
Trang 7
Đại cương thi pháp học
Nhìn chung, những hình ảnh mà Vũ Bằng đưa vào tác phầm đều là những hình
ảnh gần gũi, thân quen với cuộc sống thường ngày. Đó là những hình ảnh đặc trưng
của thiên nhiên, đất trời, cảnh vật, con người,…của đất Bắc việt. Qua ẩn dụ, ngôn ngữ
trở nên giàu biểu cảm và nhạc điệu. Từ đó, từng con chữ cứ như những nốt nhạc trầm
nhẹ nhàng đi vào lòng người. Thật sâu và đầy khuấy động. Ngôn ngữ cứ mang những
cảm xúc, những dịu vợi đi thật xa trong sâu thẳm tâm hồn mỗi người khi lần giở từng
trang Thương nhớ mười hai của Vũ Bằng.
c. Biện pháp tu từ nhân hóa
Không chỉ dùng những so sánh, ẩn dụ để định dạng, bình giá hình thức theo
cảm thụ có tính chủ quan mà Vũ Bằng còn vận dụng linh hoạt phép tu từ nhân hoá.
Nhân hóa làm cho sự vật trở nên có hồn, sống động, giục giã lòng người:
“Trăng dãi trên đường thơm thơm, trăng cài trên tóc ngoan ngoan của những khóm tre
xào xạc, trăng thơm môi mời đón của dòng sông chảy êm đềm, trăng ôm lấy những bộ
ngực xanh của những trái đồi ban đêm ngào ngạt mùi sim chín… trăng ơi, sao trăng
khéo đa tình, cứ đi hoài theo chân cô gái tuyết trinh và lẻn cả vào phòng the của người
cô phụ lay động lá màn chích ảnh…?”. Còn trăng tháng giêng lại có vẻ đẹp của “nàng

don ngày trước bán đắt lắm cũng chỉ hai hào…hợp giọng không chịu được”. Cái nhớ
rất cụ thể nhưng cũng rất bao quát, quay quắt, trải đều lên khắp vùng quê Bắc Việt:
“Nhớ quá, bất cứ cái gì của Hà Nội cũng nhớ, bất cứ cái gì của Bắc Việt cũng nhớ,
nhớ từ cánh đồng lúa mơn mởn nhớ đi,…cam Bố Hạ, đào Sa Pa nhớ xuống”.
Có thể nói, những thức ngon của vùng quê Bắc Việt làm cho nỗi nhớ của nhà
văn nhân lên gấp bội. Trang văn cứ đẫm nỗi đau đáu hoài niệm của nhà văn: “Có ai ở
Bắc Việt vào đây cho hỏi thăm tháng Một mấy năm nay ở Bắc Việt, trời có rét lắm
không, mưa vẫn riêu riêu buồn như trước hay thời tiết vì ảnh hưởng bom đạn của Mĩ
đã khác xưa?
Giọng văn buồn thương, tha thiết đã liên tục đưa người đọc đi suốt Bắc Việt
bằng con đường hoài niệm của nhà văn. Những cuộc hồi cố bằng tâm tưởng được thể
hiện qua những giấc mộng về Bắc Việt: “Mùa thu Bắc Việt xa xưa ơi, ta buồn da diết
khi nghĩ đến kiếp chúng sinh hệ lụy trong biển trầm luân…mộng từ sắc ố quan hà mà
mộng xuống”. Mộng để rồi thêm tiếc thương, thêm đau đáu về xứ sở mà nhà văn luôn
ước mơ quay về.
b. Giọng văn da diết yêu thương, ngọt ngào trìu mến.
Đọc Thương nhớ mười hai, chúng ta nhận ra một tình yêu lớn lao bao trùm lên
cả tác phẩm. Từ ngôn từ, giọng điệu, đều hàm chứa một tình cảm chứa chan của nhà
văn về Bắc Việt: “Bắc Việt mến thương ơi! Nhớ Bắc Việt ngày trước quá, nhớ sao
nhớ quá thế này! mà càng nhớ lại càng yêu…” hay “Càng nhớ như vậy lại càng
Những gì thuộc về đất Bắc, dù là nhỏ nhất cũng được Vũ Bằng dành cho một
tình yêu lớn với giọng văn tha thiết yêu thương, trìu mến như: “…nhưng tôi lại yêu
hơn cái thú la cà, chậm rãi của Bắc Việt xưa cũ, đi hát thì phải đi hát cô đầu,… nấu
cho mình” hay “Yêu quá, cái đêm tháng hai ở Bắc; thương quá cái đêm tháng hai ở
Bắc, thành ra cái gì cũng thấy qua đi nhanh quá…” .
Nhà văn đã dành tặng cho Hà Nội những mĩ từ đẹp nhất. Với giọng văn đầy
yêu thương, trìu mến, nhà văn đã đưa chúng ta đến gần hơn với Hà Nội. Chúng ta cảm
nhận được rất rõ tình cảm tha thiết chứa chan của nhà văn dành cho quê hương xứ sở
Trang 9
Đại cương thi pháp học

không biết chừng nào, yêu, yêu… không biết bao nhiêu, yêu sông xanh, núi tím; yêu
đôi mày ai như trăng mới in ngần… yêu nhất mùa xuân, yêu luôn từ bông hoa mà yêu
xuống đến trái cây, yêu từ cái lá hòe lăn tăn mà yêu lan sang chùm hoa mộc, yêu
tháng ba đất Bắc, yêu người vợ tấm mẳn không biết chừng nào, thương không biết
ngần nào là thương, thương biết bao nhiêu, thương biết chừng nào…
Có thể xem đó là “sự cởi mở trọn vẹn của tầm ý thức đối với điều hiện hữu”. Cùng
với sự cởi mở ấy, sự cởi mở về tình cảm, ý tưởng của Vũ Bằng đã làm nên những
ngôn từ, câu văn đầy chất sáng tạo.
Trang 10
Đại cương thi pháp học
b. Sự lạ hóa ngôn từ Trong văn học hiện đại Việt Nam.
Đến với những tác phẩm kí của Vũ Bằng, người đọc cũng sẽ ngạc nhiên không
kém khi đứng trước sự “lạ hoá” ngôn từ của nhà văn như : “con tim có cánh” hay “bầu
không khí… biêng biếc sầu”; “buổi tà huân” , “trời đất xuống màu”, “buổi trưa tiền
kiếp”, “mây đỏ đòng đọc”, và những cụm từ chỉ người chồng xa nhà, người vợ yêu
thương. Rõ ràng, đó không hoàn toàn là sự sáng tạo mà là sự “lạ hoá” ngôn từ. Sự lạ
hoá này bắt nguồn từ sự chuyển hoá cảm giác, cảm xúc của nhà văn qua ngôn từ với
cách ghép mới.
Trong hoàn cảnh biệt li xứ sở và người thân, nỗi cô đơn đã gặm nhấm con tim
đau ốm y như là gỗ mục của Vũ Bằng. Vì vậy, ranh giới giữa nhu cầu khao khát thổ lộ
và nhãn quan ngôn ngữ với những quy phạm của nó dường như đã bị xóa nhoà. Tình
yêu mãnh liệt, nỗi nhớ da diết cố hương và cố nhân đã dẫn dắt, “mặc cho ngòi bút đưa
đi, đến đâu hay đó”.
6. Nỗi hồi cố trong “thương nhớ mười hai” của Vũ Bằng.
Trong nỗi hoài cố, Vũ Bằng dành rất nhiều “thương nhớ” cho những “thời trân”
mang hồn vía của miền đất “bờ xôi ruộng mật”. Mùa nào thức nấy theo nhịp hải hà :
tháng hai cá anh vũ Việt Trì nướng chả; tháng ba hái ngọn rau cần tươi hơn hớn nấu
bát canh với tôm Thanh; tháng tư muối cái quả cà Nghệ ăn cùng canh trứng cua đồng
vắt chanh cốm; tháng chín có cốm với hồng, rươi với vỏ quít, gạo mới với chim ngói;
tháng mười gió bấc mưa phùn có nồi cơm ba giăng ăn với cá mương đầm Vạc, tháng

ba Tết Hàn Thực kiêng dùng lửa, chỉ ăn đồ lạnh. Tháng năm Tết Đoan Ngọ nhuộm
móng tay, móng chân bằng lá móng, ăn rượu nếp, quả roi, quả nhót và bỏng bộp để
“giết sâu bọ”. Tết Trung Nguyên tháng bảy với lễ Vu Lan xá tội vong nhân. Tháng
tám là Tết Trung Thu, nhà nhà bày cỗ, trên thắp cái đèn kéo quân, đèn quả trám lung
linh, “trong khi người lớn ăn ốc trông trăng thì trẻ con múa sư tử lùng tùng xoèng ở
trước sân gạch trăng chiếu sáng như ban ngày”. Tháng chín Tết Trùng Cửu đăng cao
uống rượu. Tháng mười Tết cúng cơm mới. Tháng chạp Tết tiễn ông Táo lên trời, Tết
Nguyên Đán đầu năm mới. Trong “mối tình tư quy” của Vũ Bằng, Tết Nguyên Đán
được tâng tiu nhất. Tết gắn với chợ Tết, sắm Tết, sửa Tết, gửi Tết, biếu Tết, ăn Tết,
chơi Tết… với bao tập tục như về quê ăn Tết, thăm mộ gia tiên nội ngoại, cắm cây
nêu, vẽ vôi cung tên, dán câu đối, treo tranh lợn gà, tiễn ông Táo, tục xông đất, kiêng
không quét nhà, không đánh vỡ chén bát, tục “mở hàng” cho nhau, thăm viếng, chúc
tụng nhau… Sở dĩ ông ưu ái dành cho Tết cả hai chương sách vì nó gắn với không
gian gia đình, với “người vợ tấm mẳn” không biết đến bao giờ mới được gặp lại.
Người phụ nữ tên Quỳ với “bóng lưng thon nhỏ”, “đôi má đỏ hây hây mùi cốm giót”,
“thơm ngát mùi hoa cau” trong ký ức Vạn Lý Trình Vũ Bằng không chỉ là “người bạn
chiếu chăn” mà còn tiêu biểu cho vẻ đẹp nhã lịch của dân kinh kỳ, của người phụ nữ
Việt Nam truyền thống. Ở Quỳ hội tụ nhiều giá trị nhân văn dễ gợi lên sự say mê,
ngưỡng mộ trong lòng độc giả.
Với kết cấu lắp dựng, đề tài quê hương Bắc Việt với vẻ đẹp phong phú, đa diện
của cảnh vật, sản vật, con người… đã được nhà văn Vũ Bằng chăm chút tái hiện.
Bằng cảm hứng lãng mạn và tư duy hồi cố, đời sống văn hóa Việt Nam trong Thương
nhớ mười hai không dừng lại ở cảm hứng chân thực mà còn được nâng lên đến mức lý
tưởng.
7. Cách dùng từ láy, từ tượng thanh, tượng hình trong “thương nhớ mười
hai”.
Trang 12
Đại cương thi pháp học
a. Cách dùng từ láy.
Có thể nói, ngôn từ trong Thương nhớ mười hai đa dạng, phong phú, được lựa

từng âm thanh của sự sống, ngửi - nếm từng mùi vị của món ăn, chạm tay được mọi
thứ nhà văn mô tả. Trước mắt, Hà Nội đang hiện hữu như Vũ Bằng chưa hề mộng và
mơ. Và, người đọc đang cùng nhà văn tung tăng thưởng ngoạn khắp đất trời Bắc Việt.
Những từ tượng thanh như rền rền, riêu riêu, o o…tạo nên một thứ âm thanh
vừa phải, man mác. Không lạc ra ngoài tâm tưởng miên man của nhà văn. Mang đến
cho câu văn tính động nhưng vẫn êm ái, trầm trầm. Trầm trầm chứ không trầm hẳn,
Trang 13
Đại cương thi pháp học
cũng không thật bổng để gợi được những gì đã xa trong quá vãng của người con xa xứ
đang hồi hương bằng tâm tưởng. Những âm thanh của sự sống mà Vũ Bằng đang tìm
kiếm, vọng về.
Cũng như từ tượng thanh, từ tượng hình mang đến cho câu văn tính sinh động,
giàu hình ảnh. Từ tượng hình được Vũ Bằng vận dụng trong Thương nhớ mười hai
như những cây cọ vẽ thần kì. Mỗi từ là một sắc màu, một đường nét: li ti, lê thê,…tất
cả quyện vào nhau vẽ nên một bức tranh hoàn chỉnh về Bắc Việt với thiên nhiên, đất
trời, con người, phong tục,…Không có từ tượng hình, vẫn có một Thương nhớ mười
hai xao động lòng người. Nhưng, có sự góp phần của từ tượng hình, Thương nhớ
mười hai trở nên hay đến từng con chữ, câu văn. Nỗi nhớ của nhà văn nhờ thế được tô
điểm sâu đậm hơn, kí ức hiện về rõ ràng đến từng đường nét, từng dáng dấp.

C. Kết luận.
Có thể nói, ngôn từ trong Thương nhớ mười hai vô cùng đa dạng, phong phú,
được lựa chọn theo hướng đơn giản, gần gũi nhưng hết sức tinh tế nhằm biểu đạt tình
cảm chân thật nhưng không kém phần mãnh liệt của Vũ Bằng. Ông đã có sự tìm tòi,
lựa chọn từ ngữ, kết hợp từ ngữ một cách nghệ thuật, đồng thời sử dụng trường
liên tưởng với nhiều biện pháp tu từ nhằm nâng cao giá trị tạo hình và biểu cảm
của ngôn ngữ. Đó là dấu ấn của nhà văn để lại trong lòng người đọc qua hàng loạt
sáng tác ở nhiều thể loại, đặc biệt là ở thể loại kí.
Nhìn chung, ngôn ngữ nghệ thuật trong sáng tác của Vũ Bằng vừa trong
sáng, giản dị, gần gũi như ngôn ngữ trong các truyện ngắn của Nguyễn Công

b. Sự lạ hóa ngôn từ Trong văn học hiện đại Việt Nam 11
6. Nỗi hồi cố trong “thương nhớ mười hai” của Vũ Bằng 11
7. Cách dùng từ láy, từ tượng thanh, tượng hình trong “thương nhớ mười hai” 12
Trang 15
Trang 16


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status