257 Vận dụng thủ tục phân tích trong kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty TNHH Kiểm Toán và Tư Vấn NEXIA ACPA - Pdf 22

Khoá luận tốt nghiệp
LỜI NÓI ĐẦU
Đất nước ta sau khi chuyển đổi từ nền kinh tế tập trung quan liêu bao
cấp sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã có những
bước chuyển biến đáng kể về chất. Các doanh nghiệp dù ở loại hình nào cũng
đều có quyền bình đẳng như nhau và phải đối mặt với sự cạnh tranh hết sức
khốc liệt. Để cạnh tồn tại và phát triển các doanh nghiệp phải tìm mọi cách
thu hút các nhà đầu tư, nhà cung cấp, khách hàng…và vấn đề minh bạch về
tài chính trở nên bức thiết hơn bao giờ hết. Do vậy kiểm toán ra đời như một
nhu cầu tất yếu. Đặc biệt sau khi Việt Nam gia nhập WTO đã mở ra một trang
mới cho thị trường kiểm toán Việt Nam.
Sau Nghị Định 105/2004/NĐ-CP về kiểm toán độc lập thì hàng loạt
công ty kiểm toán ra đời. Tuy nhiên một câu hỏi lớn đặt ra là liệu chất lượng
của các công ty kiểm toán có thực sự đáp ứng được yêu cầu của thị trường?
Làm thế nào để nâng cao chất lượng kiểm toán? Và việc xây dựng một quy
trình kiểm toán phù hợp, có hiệu qủa là mối quan tâm hàng đầu của mỗi công
ty kiểm toán
Thủ tục phân tích với ưu điểm là tiết kiệm thời gian, chi phí mà vẫn
hiệu quả cao, nó là một công cụ hữu ích giúp KTV thu thập bằng chứng cũng
như đưa ra các kết luận kiểm toán, giảm thiểu rủi ro cho các công ty kiểm
toán.
Nhận thức được ý nghĩa của việc áp dụng thủ tục phân tích trong kiểm
toán tài chính. Sau thời gian thực tập tại công ty TNHH Kiểm Toán và Tư
Vấn NEXIA ACPA - một công ty tuy mới thành lập hơn 3 năm nhưng đạt
được những thành quả đáng kể, em đã được các anh chị trong công ty tạo điều
kiệ để tiếp cận với quy trình kiểm toán của công ty cùng với sự hướng dẫn tận
tình của cô giáo Thạc Sỹ Nguyễn Thị Mỹ em mạnh dạn chọn đề tài “ Vận
Lê Thị Tình Lớp: Kiểm toán 46B
Khoá luận tốt nghiệp
dụng thủ tục phân tích trong kiểm toán báo cáo tài chính tại Công ty TNHH
Kiểm Toán và Tư Vấn NEXIA ACPA” trong khoá luận tốt nghiệp của mình.

có thể lượng hoá được liên quan tới một thực thể kinh tế riêng biệt nhằm mục
đích xác định và báo cáo mức độ phù hợp giữa thông tin có thể lượng hoá với
những tiêu chuẩn đã được thiết lập”
Như vậy bằng các nghiệp vụ chuyên môn của mình KTV tiến hành
kiểm tra tính trung thực, hợp lý, hợp pháp của các bàng khai tài chính. Kết
quả xác minh này được trình bày trên Báo cáo kiểm toán.
Đối tượng của kiểm toán BCTC là các bảng khai tài chính của một thực
thể kinh tế bao gồm hệ thống báo cáo được lập theo chuẩn mực và chế độ kế
toán hiện hành phản ánh thông tin tài chính của đơn vị và các bảng kê khai tài
sản cá nhân, bảng kê khai tài sản đặc biệt của đơn vị, bảng dự toán và quyết
Lê Thị Tình Lớp: Kiểm toán 46B
Khoá luận tốt nghiệp
toán ngân sách nhà nước…Là bảng tổng hợp, các bảng khai này đều chứa
những thông tin lập ra tại một thời điểm cụ thể trên cơ sở những tài liệu kế
toán tổng hợp và chi tiết dựa theo những quy tắc cụ thể xác định. Do vậy một
thông tin chứa đựng trong mỗi bảng khai tài chính đều có nhiều mối quan hệ
theo nhiều hướng khác nhau. Do vậy khi nói đối tượng kiểm toán tài chính là
nói đến quan hệ trực tiếp. Trong kiểm toán tài chính cần khái quát được các
loại quan hệ trên bảng khai tài chính để xem xét tính hợp lý chung đồng thời
phải đi sâu vào từng loại quan hệ cụ thể để nghiên cứu những nét đặc thù
trong việc xác minh và bày tỏ ý kiến của các quan hệ trong kiểm toán BCTC
liên kết với các nghiệp vụ và kiểm toán thông tin liên kết với kiểm toán tuân
thủ.
Với kiểm toán BCTC có thể phân chia đối tượng kiểm toán thành các
phần hành kiểm toán theo hai cách cơ bản sau:
Phân chia theo khoản mục là cách phân chia máy móc từng khoản mục
hoặc nhóm các khoản mục theo thứ tự trong các BCTC vào một phần hành.
Cách phân chia này đơn giản song không hiệu quả do tách biệt những khoản
mục có quan hệ chặt chẽ với nhau
Phân chia theo chu trình là cách phân chia thông dụng hơn căn cứ vào

nghiệm với việc sử dụng liên hoàn các phương pháp kiểm toán cơ bản để đưa
ra ý kiến đúng đắn. Trong kiểm toán BCTC thì trình tự phổ biến là tiến hành
theo trình tự ngược với trình tự kế toán. Tuy nhiên trên thực tế trình tự kiểm
toán rất đa dạng cho từng khách hàng và từng loại đối tượng kiểm toán.
Thử nghiệm tuân thủ: Cung cấp cho KTV bằng chứng cho các đánh
giá của mình về rủi ro kiểm soát. Khi rủi ro kiểm soát được đánh giá ở mức
độ không cao KTV cần thu thập bằng chứng để chứng tỏ kiểm soát hoạt động.
Lê Thị Tình Lớp: Kiểm toán 46B
Khoá luận tốt nghiệp
KTV quan tâm đến việc thiết kế và hoạt động của hệ thống kiểm soát nội bộ
có hiệu quả hoàn thành mục tiêu kiểm soát hay không? Có liên tục hay
không? Nếu các kiểm soát tồn tại và kiểm toán viên muốn dựa vào chúng
KTV tiến hành các thử nghiệm tuân thủ, trong trường hợp ngược lại KTV sẽ
tiến hành thử nghiệm cơ bản
Thử nghiệm cơ bản: Trong kiểm toán tài chính bằng cách thức xác
định hay trình tự xác định trong việc vận dụng các phương pháp kiểm toán
chứng từ và kiểm toán ngoài chứng từ vào việc xác minh các nghiệp vụ, các
số dư tài khoản… đã hình thành nên ba loại thử nghiệm cơ bản :thử nghiệm
cơ bản về nghiệp vụ, thử nghiệm co bản về số dư, các thủ tục phân tích
Thử nghiệm cơ bản về nghiệp vụ: Mục tiêu là cung cấp sự đảm bảo hợp
lý về sự hợp lệ và đúng đắn của BCTC hoặc xác định số tiền sai sót nhằm
giảm rủi ro phát hiện. Thử nghiệm này chú trọng vào từng nghiệp vụ tạo
thành số dư nó khẳng định số dư cuối của tài khoản là có thật
Thử nghiệm cơ bản về số dư: Là cách thức kết hợp các phương pháp
cân đối, đối chiếu lôgic, phân tích đối chiếu trực tiếp với kiểm kê và kiểm tra
thực tế để xác định độ tin cậy của số dư cuối kỳ. Đây là cách thức chủ đạo của
kiểm toán tài chính nhờ đó phần lớn bằng chứng thu thập được từ một nguồn
độc lập với khách thể kiểm toán nên bằng chứng thu được thường có chất
lượng cao.
Thử nghiệm phân tích: Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam 520 là

Thủ tục phân tích là một công cụ hữu dụng để đưa ra các quyết định khi
báo cáo tài chính có chứa các mối quan hệ cũng như những khoản mục bất
thường. Thủ tục phân tích có thể được tiến hành từ việc so sánh một cách cơ
bản các khoản mục đơn giản đến các thủ tục phức tạp có mối quan hệ.
Lê Thị Tình Lớp: Kiểm toán 46B
Khoá luận tốt nghiệp
Có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về thủ tục phân tích trong kiểm
toán tài chính
Theo chuẩn mực Kiểm Toán Quốc Tế số 56 “ Thủ tục phân tích là quá
trình đánh giá thông tin tài chính được thực hiện thông qua việc nghiên cứu
các mối quan hệ đáng tin cậy giữa các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính…bao
gồm cả quá trình so sánh số liệu phản ánh trên sổ sách với số liệu ước tính của
kiểm toán viên”
Theo chuẩn mực Kiểm Toán Viêt Nam số 520 “ Thủ tục phân tích là việc
phân tích các số liệu, thông tin, tỷ suất quan trọng, qua đó tìm ra những xu
hướng biến động và tìm ra mối quan hệ có mâu thuẫn với thông tin có liên
quan hoặc có sự chênh lệch so với giá trị dự kiến”
Tóm lại thủ tục phân tích trong kiểm toán BCTC là quá trình dự đoán,
đánh giá, so sánh các mối quan hệ để xác định tính hợp lý của số dư các
khoản mục trên các khía cạnh khác nhau. Trong đó:
• Dự đoán: Là việc kiểm toán viên uớc đoán về số dư tài khoản, xu
hướng liên quan đến dữ kiện về tài chính và hoạt động.
• So sánh: Là việc kiểm toán viên thực hiện so sánh thông tin tương
ứng kỳ này với kỳ trước, với số bình quân ngành và với số ước tính của KTV
• Đánh giá: Bằng trình độ, kiến thức chuyên môn nghiệp vụ KTV
phân tích đưa ra kết luận về các chênh lệch xảy ra và giải thích các chênh lệch
khi so sánh.
Thủ tục phân tích là một trong những thủ tục kiểm toán quan trọng nó là
một công cụ hữu dụng để thu thập bằng chứng kiểm toán và giảm chi phí tới
mức có thể. Thủ tục phân tích có mối quan hệ mật thiết với các thủ tục kiểm

khoản hay một nhóm các nghiệp vụ nhất định của kỳ này so với kỳ trước hay
qua một vài kỳ kế toán (Kiểm tra tính hợp lý chỉ bao gồm việc phân tích
Lê Thị Tình Lớp: Kiểm toán 46B
Khoá luận tốt nghiệp
những biến động trong một kỳ kế toán). Qua đó KTV đạt được sự hiểu biết về
nguyên nhân gây nên xu hướng biến động của số dư tài khoản hay nhóm
nghiệp vụ. Dựa vào đó KTV có thể ước tính ra số liệu của năm hiện tại dựa
trên xu hướng biến động và những hiểu biết về các giao dịch hiện tại của
khách hàng. Từ đó KTV so sánh số ước tính với số ghi sổ để nhận diện những
sai phạm tiềm tàng.
Phân tích tỷ suất: Là cách thức so sánh số dư tài khoản hoặc những loại
hình nghiệp vụ. Phân tích tỷ suất cũng giúp so sánh tính hợp lý về tình hình
tài chính của công ty so với công ty khác hoạt động trong ngành hay tập đoàn.
KTV có thể phân tích các biến động về tỷ suất trong doanh nghiệp theo thời
gian hay phân tích tỷ suất của các doanh nghiệp khác nhau hay các bộ phận
khác nhau bên trong doanh nghiệp. Trong thực tế KTV thường sử dụng các
nhóm tỷ suất sau:
Nhóm tỷ suất về khả năng thanh toán: tỷ suất khả năng thanh toán hiện
thời, tỷ suất thanh toán nhanh, tỷ suất thanh toán chung.
Nhóm tỷ suât về hoạt động: tỷ suất vòng quay khoản phải thu, vòng quay
hàng tồn kho, tỷ suất lợi tức tổng tài sản…
Nhóm tỷ suất đòn bẩy: Tỷ suất nợ, tỷ suất tài trợ, tỷ suất nợ trên vốn cổ
phần
Nhóm tỷ suất lợi nhuận: Tỷ suất lãi gộp, tỷ suất lãi ròng, tỷ suất lãi từ
hoạt động kinh doanh…
Các nhóm tỷ suất này sẽ được trình bày cụ thể trong phần phụ lục 1
Lê Thị Tình Lớp: Kiểm toán 46B
Khoá luận tốt nghiệp
1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến việc vận dụng thủ tục phân tích trong
kiểm toán báo cáo tài chính

sau:
+ Giúp KTV xác định nội dung, lịch trình, phạm vi của thủ tục kiểm toán
khác. Đối với những khoản mục phát hiện thấy có những dấu hiệu bất thường
cần tập trung kiểm tra chi tiết, tránh sa đà
+ Thủ tục phân tích được thực hiện như là thử nghiệm cơ bản khi việc sử
dụng thủ tục này có hiệu quả hơn so với kiểm tra chi tiết trong việc giảm bớt
rủi ro phát hiện liên quan đến cơ sở dẫn liệu của BCTC
+ Quy trình phân tích được dùng để kiểm tra toàn bộ các BCTC trong
khâu soát xét cuối cùng của cuộc kiểm toán.
Thủ tục phân tích được vận dụng trong mỗi giai đoạn của cuộc kiểm
toán có những ý nghĩa nhất định. Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán thủ
tục phân tích giúp KTV xác định các biến động về tình hình kinh doanh của
khách hàng, từ đó rút ra những xu hướng quan trọng, xác định những biến
động bất thường có thể ảnh hưởng đến kế hoạch kiểm toán. Như vậy trong
giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán thủ tục phân tích giúp KTV khoanh vùng rủi
ro và xác định thời gian, thủ tục kiểm toán cần thực hiện. Trong giai đoạn
thực hiện kiểm toán thủ tục phân tích giúp hạn chế tối đa các cuộc khảo sát
chi tiết bởi vì khi một thể thức phân tích không làm nổi bật các dao động bất
thường thì khả năng sai sót là rất nhỏ. KTV sẽ tập trung vào những biến động
bất thường do đó giúp giảm bớt thời gian và chi phí mà vẫn đảm bảo hiệu quả
cho cuộc kiểm toán. Kết thúc kiểm toán thủ tục phân tích được sử dụng để
đánh giá tổng quát toàn bộ số liệu đã được kiểm toán nhằm khẳng định thêm
Lê Thị Tình Lớp: Kiểm toán 46B
Khoá luận tốt nghiệp
cho kết luận kiểm toán hoặc quyết định các thủ tục kiểm toán bổ sung nếu cần
thiết.
Như vậy thủ tục phân tích là một thủ tục kiểm toán rất quan trọng. Để có
thể đưa ra ý kiến đối với BCTC của khách hàng với mức chi phí hợp lý thì
các công ty kiểm toán phải nâng cao hiệu quả trong việc áp dụng thủ tục phân
tích trong kiểm toán BCTC. Theo kết luận của Hội đồng Chuẩn mực Kiểm

ước lượng rủi ro kiểm toán cũng như mối quan hệ với giả thiết về hoạt động
liên tục của Ban Giám Đốc trong quá trình lập BCTC. KTV có thể tính toán
các tỷ suất về khả năng thanh toán của khách hàng để xem xét khả năng thanh
toán các khoản nợ đến hạn của công ty, bên cạnh đó cần xem xét tỷ suất khả
năng sinh lời…
Ngoài ra, các thể thức phân tích thực hiện trong lập kế hoạch kiểm toán
còn giúp cho việc xác định bản chất, phạm vi và thời hạn công việc phải hoàn
thành. Việc thực thi các thể thức phân tích trog giai đoạn này giúp KTV nhận
diện những vấn đề quan trọng cần quan tâm đặc biệt trong cuộc kiểm toán..
Trong giai đoạn lập kế hoạch, KTV thực hiện thủ tục phân tịch thông qua
3 bước chính sau:
Bước 1: Thu thập thông tin tài chính và thông tin phi tài chính
BCTC của khách hàng không chỉ bị ảnh hưởng bởi những thông tin tài
chính mà còn chịu tác động bởi các thông tin phi tài chính. KTV cần thu thập
đầy đủ các thông tin liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp. Các thông tin
đó bao gồm:
- Các thông tin về nghĩa vụ pháp lý như giấy phép thành lập, giấy
phép đầu tư, điều lệ công ty, các hợp đồng…
Lê Thị Tình Lớp: Kiểm toán 46B
Khoá luận tốt nghiệp
- Các thông tin về tình hình kinh doanh: Các báo cáo, các thay đổi
trong môi trường kinh doanh ( nhà cung cấp, đối thủ cạnh tranh…) và môi
trường công nghệ…
- Thông tin về hệ thống kiểm soát nội bộ: Điều lệ, sơ đồ tổ chức bộ
máy quản lý, biên bản họp hội đồng quản trị, bộ máy kế toán…
Đối với các khách hàng hoạt động trong lĩnh vực khác nhau hoặc có
nhiều chi nhánh thì KTV cần thu thập thông tin đối với mỗi đơn vị hoạt động
quan trọng. Ngoài ra KTV còn tiến hành thu thập các thông tin về năng lực
sản xuất, số nhân viên, số lượng mua và bán. Các thông tin này được sử dụng
để xác định sự phủ hợp của số liệu trên BCTC của khách hàng với hiểu biết

Để đạt được sự hiểu biết tốt hơn về khách hàng trong giai đoạn lập kế
hoạch kiểm toán KTV sử dụng các tỷ suất tài chính
Các tỷ suất tài chính thường dùng để đánh giá tình hình tài chính của
doanh nghiệp trong giai đoạn này là:
Nhóm tỷ suất khả năng thanh toán
+ Tỷ suất thanh toán hiện hành = TS lưu động/ Vay nợ ngắn hạn
+ Tỷ suất khả năng thanh toán nhanh = TS có khả năng thanh toán
nhanh/ Vay nợ ngắn hạn
+ Tỷ suất khả năng thanh toán tức thời = Tiền + tương đương tiền/ Vay
nợ ngắn hạn.
Nhóm tỷ suất khả năng sinh lời
+ Tỷ suất thu hồi VCSH = Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh/VCSH
+ Tỷ suất lợi nhuận gộp (ròng) = Lợi nhuận gộp (ròng)/Doanh thu
Nhóm tỷ suất về khả năng hoạt động
+ Hệ số vòng quay hàng tồn kho = Gía vồn hàng bán/ HTK trung bình
Lê Thị Tình Lớp: Kiểm toán 46B
Khoá luận tốt nghiệp
+ Hệ số quay vòng khoản phải thu = Doanh thu thuần/ Khoản phải thu
trung bình
Nhóm tỷ suất về cấu trúc tài chính
+ Tỷ suất đầu tư = TSDH/ Tổng TS
+ Tỷ suất tự tài trợ = Nguồn vốn CSH/ Tổng NV
+ Tỷ suất nợ = Tổng nợ phải trả/ Tổng NV
Về ý nghĩa của mỗi tỷ suất được trình bày trên đây và một số tỷ suất
thường gặp khác sẽ được trình bày cụ thể trong phụ lục 1
Các tỷ suất này có thể dùng để so sánh với số liệu chung của toàn
nghành hay so sánh với số dự toán. Thông thường việc so sánh với số liệu
năm trước của khách hàng thường được KTV sử dụng nhiều nhất, nó cho biết
tình hình tài chính của khách hàng đang tốt hơn hay xấu đi, có xảy ra những
biến động bất thường hay không. Khi so sánh vơi số liệu chung của nghành

hàng, KTV tiến hành đánh giá xem những biến động trên BCTC có phù hợp
với dự đoán và hiểu biết của KTV hay không? Nếu sự biến động là trọng yếu
KTV cần thảo luận với ban giám đốc của khách hàng và đánh giá sự giải thích
của họ về giá trị thông tin và độ tín nhiệm. Điều đó đòi hỏi KTV phải có sự
hiểu biết về công ty và đánh giá đúng đắn yếu tố rủi ro cố hữu.
KTV cần nhận dạng các sai phạm tiềm tàng có thể xảy ra đối với từng
khoản mục, nghiệp vụ khi thấy xuất hiện những biến động bất thường hay sự
vắng mặt của những biến động dự kiến mà nguyên nhân không được giải
thích một cách hợp lý.
Như vậy kết thúc giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán, thủ tục phân tích
giúp KTV xác định rủi ro kiểm toán cho từng khoản mục trên BCT để tập
trung nhiều hơn trong quá trình thực hiện kiểm toán.
Lê Thị Tình Lớp: Kiểm toán 46B
Khoá luận tốt nghiệp
1.3.2.Thực hiện kế hoạch kiểm toán
Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt Nam VSA số 520 “ Quy trình phân
tích được thực hiện như là một thử nghiệm cơ bản khi việc sử dụng thủ tục
này có hiệu quả hơn so với kiểm tra chi tiết trong việc giảm bớt rủi ro phát
hiện liên quan đến cơ sở dẫn liệu của báo cáo tài chính”
Trong giai đoạn thực hiện kế hoạch kiểm toán, thủ tục phân tích nếu
được thiết kế và sử dụng một cách hiệu quả sẽ đạt được mục tiêu kiểm toán và
khi đó có thể thay thế hoặc giảm bớt việc sử dụng các thủ tục kiểm tra chi tiết.
Thủ tục phân tích có thể xác định những vấn đề khó có thể phát hiện khi thực
hiện thủ tục kiểm tra chi tiết, hướng kiểm toán viên đến những vấn đề cần
quan tâm nhiều hơn. Khi một thể thức phân tích không làm nổi bật lên các
giao động bất thường thì khả năng sai số hoặc sai quy tắc là rất nhỏ. KTV sẽ
tập trung vào các sai sót trọng yếu, những dấu hiệu bất thường. giảm bớt thời
gian, chi phí mà vẫn đảm bảo hiệu quả cho cuộc kiểm toán. Ngoài ra thủ tục
phân tích còn giúp KTV có thể xác định được rủi ro hoặc sự kém hiệu quả của
hệ thống kiểm soát nội bộ mà trước đó chưa được phát hiện.

cậy càng cao do tính độc lập với tài khoản được dự tính tăng lên ví dụ doanh
thu theo tháng với năm.
Độ tin cậy của dữ liệu được đánh giá trên nhiều mặt như: nguồn của dữ
liệu ( nguồn dữ liệu bên ngoài có độ tin cậy cao hơn nguồn dữ liệu bên trong,
nguồn dữ liệu được kiểm toán tin cậy hơn nguồn dữ liệu chưa được kiểm
toán…), tính kế thừa và phát triển của thủ tục kiểm toán dữ liệu từ những
năm trước, mở rộng phạm vi sử dụng dữ liệu.
Lê Thị Tình Lớp: Kiểm toán 46B
Khoá luận tốt nghiệp
Bước 3: Ước tính giá trị và so sánh với giá trị ghi sổ
Khi so sánh số ước tính với số ghi sổ cần chú ý tới các xu hướng: Tính
thường xuyên của việc đánh giá mối quan hệ đang được nghiên cứu (mối
quan hệ này càng được đánh thường xuyên thì tính nhất quán cũng như độ tin
cậy của mối quan hệ trong phân tích càng cao), tính bíên động tất yếu và biến
động bất thường (thông thường đây là kết quả của quá trình ci tiết hoá số ước
tính và cả quá trình tìm hiểu hoạt động kinh doanh của khách hàng trong bước
lập kế hoạch kiểm toán), sự vắng mặt của những biến động mong đợi cũng
cần được KTV tìm hiểu nguyên nhân.
Bước 4: Phân tích nguyên nhân chênh lệch
Mỗi khoản mục trên BCTC có một mức chênh lệch có thể chấp nhận
được. Nếu chênh lệch cao hơn mức này được đánh giá là trọng yếu. Thông
thường nếu số liệu trên sổ hay tỷ suất tính toán là phù hợp với những tính toán
của KTV thì sẽ không cần tiến hành điều tra thêm và chấp nhận số liệu của
khách hàng. Nếu chênh lệch là trọng yếu thì cần thực hiện thủ tục kiểm toán
khác để phân tích nguyên nhân chênh lệch.
Chênh lệch có thể do số dư khoản mục hay loại nghiệp vụ được kiểm
toán chứa đựng sai sót nhưng cũng có thể do chính bản thân ước tính của
KTV có sai sót. Do đó cần tìm hiểu lời giải thích từ nhân viên của khách thể
kiểm toán đồng thời xem xét lại giả định và dữ liệu sử dụng để ước tính. Nếu
vẫn còn chênh lệch qua xem xét quá trình triển khai thủ tục phân tích thì lời

BCTC đã điều chỉnh để so sánh với kỳ trước hay số liệu dự toán… trong đó
có tính đến mối quan hệ của các yếu tố, kinh nghiệm của đơn vị và tình hình
thực tế của ngành.
Lê Thị Tình Lớp: Kiểm toán 46B
Khoá luận tốt nghiệp
Bước 2: Phân tích kết quả
Trong giai đoạn này KTV soát xét lại bảng cân đối thử, BCTC và các
thuyết minh kèm theo để xét đoán sự đầy đủ của bằng chứng thu được để lý
giải cho những biến động bất thường hoặc những biến động không mong đợi
và đánh giá lại xem có mối quan hệ bất thường nào chưa được điều tra hay
không. Nếu khi soát xét phát hiện một vài số dư, khoản mục bất thường mà
chua được lý giải hợp lý có thể ảnh hưởng trọng yếu đến BCTC của khách
hàng thì KTV phải thực hiện các thủ tục kiểm toán bổ sung trước khi đưa ra ý
kiến kiểm toán ( KTV có thể yêu cầu thông tin về quyết định của hội đồng cổ
đông, của cuộc họp hội đồng quản trị, ban giám đốc…có thể ảnh hưởng đến
BCTC)
Thủ tục phân tích được sử dụng trong giai đoạn kết thúc kiểm toán còn
rất hiệu quả trong việc đánh giá khả năng hoạt động liên tục của khách hàng.
Việc thảo luận với ban giám đốc và xem xét kế hoạch hoạt động trong tương
lai của khách hàng là rất quan trọng trong việc đánh giá các thủ tục phân tích.
Có một số dấu hiệu dẫn đến sự nghi ngờ về khả năng hoạt động liên tục của
khách hàng như các tỷ suất thanh toán của khách hàng thấp, tỷ suất khả năng
sinh lời kém, luồng tiền âm, doanh nghiệp bị mất thị trường và mất nhà cung
cấp…
Một số tỷ suất thường sử dụng để đánh giá khả năng hoạt động liên tục
của khách hàng như:
- Tỷ suất khả năng thanh toán nhanh
- Tỷ suất khả năng thanh toán tức thời
- Tỷ suất sinh lời trên vốn chủ sở hữu
- Tỷ suất nợ

thời gian ngắn, công ty nhanh chóng nổi lên như một trong những hãng kiểm
toán hàng đầu Việt Nam.
Đến ngày 10/06/06, công ty đã mở rộng văn phòng chi nhánh tại TP Hồ
Chí Minh, địa chỉ tầng 5, toà nhà Starview, 63A, đường Nam Kỳ Khởi Nghĩa,
quận 1, TP HCM để có thể tiếp cận với khách hàng ở Miền Nam, tạo điều
kiện mở rộng quy mô và phạm vi hoạt động của công ty.
Năm 2006 công ty đã trở thành thành viên chính thức của tập đoàn
kiểm toán quốc tế Nexia International. Nexia International là tập đoàn chuyên
kinh doanh trong lĩnh vực cung cấp các dịch vụ kế toán- kiểm toán và tư vấn
trên toàn thế giới. Được thành lập từ năm 1971 bởi hai hãng nổi tiếng ở Luôn
Đôn và NewYork, đó là Oppenhenin Appel Dixon & Associates USD và
Spicer & Pegles UK. Hiện nay, Nexia là một tập đoàn đứng trong tốp 10 tập
đoàn lớn mạnh nhất thế giới với 334 văn phòng đại diện trên 92quốc gia. Gia
nhập Nexia là cơ hội phát triển mới cho ACPA, không những nâng cao được
chất lượng dịch vụ mà còn quảng bá được tên tuổi cũng như vị thế của công
ty trên thị trường thế giới. Nhân viên của công ty có cơ hội được đào tạo nâng
cao về chuyên môn, nghiệp vụ bằng cách tiếp cận với các phương pháp kiểm
toán đa dạng của nhiều công ty ở các quốc gia khác nhau, trao đổi những
thông tin hữu ích về chuyên ngành kế toán, kiểm toán…từ các thành viên của
Nexia. Tháng 12/2007 công ty chính thức đổi tên thành công ty TNHH
NEXIA ACPA.
Một sự kiện đáng ghi nhận là NEXIA ACPA đã được trao giải “
Thương mại dịch vụ Việt Nam-Top trade service 2007” do Bộ Công Thương
tổ chức nhằm tôn vinh những thành tựu đạt được của các doanh nghiệp hoạt
động trong lĩnh vực thương mại dịch vụ tại Việt Nam sau năm gia nhập tổ
chức thương mại thế giới và đầu năm 2008 được chấp nhận kiểm toán các
Lê Thị Tình Lớp: Kiểm toán 46B

Trích đoạn Kết thúc kiểm toán Khái quát việc vận dụng thủ tục phân tích trong kiểm toán báo cáo tà Vận dụng linh hoạt thủ tục phân tích Trong giai đoạn lập kế hoạch kiểm toán
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status