Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGUYỄN THU THỦY
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM ỔN ĐỊNH VÀ PHÁT TRIỂN
KINH TẾ CỦA NÔNG HỘ BỊ THU HỒI ĐẤT TRONG
QUÁ TRÌNH PHÁT TRIỂN KHU CÔNG NGHIỆP
TẠI HUYỆN PHỔ YÊN - TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
CHUYÊN NGÀNH: KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
MẪ NGÀNH : 60.31.10
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS. TS TRẦN CHÍ THIỆN
THÁI NGUYÊN - 2011
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Đất nước ta đang ở trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hóa,
chuyển nền kinh tế chủ yếu từ nông nghiệp lạc hậu thành một nền kinh tế
công - nông nghiệp - dịch vụ hiện đại. Để phát triển công nghiệp và dịch vụ,
một trong những điều kiện quan trọng nhất là phải chuyển đổi một phần diện
tích đất nông nghiệp để có mặt bằng xây dựng cho phát triển sản xuất công
nghiệp và kinh doanh dịch vụ, hình thành nên những khu công nghiệp (KCN).
Việc phát triển các KCN tạo ra giá trị sản xuất lớn hơn và làm cho bộ mặt
kinh tế xã hội thay đổi cả về mặt lượng và chất.
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực, quá trình phát triển các KCN
đã nảy sinh những vấn đề tiêu cực như ổn định cuộc sống, việc làm cho một
bộ phận người lao động mất đất, giải quyết các vấn đề về chất thải và ô nhiễm
môi trường, và các hệ luỵ về văn hóa - xã hội…Không nằm ngoài sự phát
triển chung của cả nước, trong những năm gần đây huyện Phổ Yên tỉnh Thái
Nguyên cũng đã thúc đẩy quá trình xây dựng KCN hết sức mạnh mẽ và nhanh
chóng. Vấn đề ổn định và phát triển kinh tế cho các nông hộ bị thu hồi đất để
xây dựng KCN luôn được các cấp chính quyền và nhân dân địa phương quan
tâm sâu sắc. Không thu hồi được đất thì không có đất để phát triển các KCN.
Thu hồi đất thì người dân, đặc biệt là nông dân sẽ mất đi kế sinh nhai, cần có
và phát triển kinh tế của hộ gia đình
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
1.3.2.1. Phạm vi thời gian
Thời gian thực hiện đề tài từ tháng 10/2010 đến tháng 10/2011
Số liệu thứ cấp được thu thập trong giai đoạn 2001-2010.
Số liệu sơ cấp được khảo sát trong năm 2010.
3
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
1.3.2.2. Phạm vi không gian
Đề tài được tiến hành điều tra nghiên cứu các hộ dân bị thu hồi đất
nông nghiệp trên địa bàn huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
1.3.2.3. Phạm vi nội dung
- Ảnh hưởng của quá trình phát triển KCN đến phát triển kinh tế của
các nông hộ
- Sự điều chỉnh cuộc sống của nông hộ bị thu hồi đất
- Những giải pháp phát triển kinh tế cho từng nhóm hộ chịu ảnh hưởng.
1.4. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
- Góp phần hệ thống hóa lý luận về tác động của quá trình phát triển
KCN đến đời sống nông hộ, sự thích ứng của các hộ và các giải pháp ổn
định, phát triển.
- Cung cấp hệ thống số liệu cho địa phương về thực trạng ảnh hưởng của
các hộ bị mất đất sản xuất trên địa bàn. Các ứng xử của nông hộ, cách sử dụng
tiền đền bù của các nhóm hộ. Giúp địa phương nhận dạng được các vấn đề hiện
đang nảy sinh trong các nông hộ bị ảnh hưởng của quá trình phát triển KCN.
- Giúp địa phương có các chính sách và giải pháp ổn định kinh tế cho
nông hộ, đặc biệt là các hộ nghèo thiếu kinh nghiệm và khả năng xoay sở
kém, các hộ bị mất nhiều đất sản xuất và đang gặp các vấn đề khó khăn.
1.5. Bố cục của luận văn
trung trên một phạm vi lãnh thổ nhất định. Một khu công nghiệp có thể gồm
các cụm công nghiệp hoặc nhiều cụm công nghiệp
+ Cụm công nghiệp được phân bổ trên phạm vi lãnh thổ không lớn. Các
cơ sở thuộc cụm công nghiệp có thể là đơn vị cùng nganh hoặc khác ngành
nhưng có mối liên hệ sản xuất với nhau hoặc sử dụng chung một kết cấu hạ tầng.
+ Khu công nghiệp kỹ thuật cao tập trung những doanh nghiệp công
nghiệp thuộc những ngành sản xuất có hàm lượng khoa học công nghệ cao và
những cơ sở nghiên cứu khoa học, công nghệ nhờ đó quan hệ giữa nghiên cứu
và ứng dụng triển khai tổ chức có hiệu quả, loại hình khu công nghiệp này cũng
5
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
được coi là hạt nhân cho sự phát triển khoa học và công nghệ của đất nước.
b. Vai trò của khu công nghiệp
Trong thời kỳ CNH-HĐH việc xây dựng các khu, cụm công nghiệp là
cần thiết và được nhà nước khuyến khích.
Từ năm 1994 các KCN được xây dựng để cung ứng cơ sở hạ tầng thuận
lợi, tạo điều kiện dễ dàng cho đầu tư nước ngoài và đặc biệt khuyến khích các
DN nhỏ và vừa gia nhập các khu vực công nghiệp. Lợi ích của việc sản xuất
tập trung tại các cụm CN so với phát triển công nghiệp tản mạn là đảm bảo
tiết kiệm về kết cấu hạ tầng, quản lý hành chính và quản lý môi trường mặt
khác cung cấp các dịch vụ thuận lợi.
Các KCN, KCX được hình thành cũng nhằm tránh sự phân tán các cơ
sở sản xuất trong khu dân cư sinh sống vừa không thuận lợi cho hoạt động sản
xuất kinh doanh của các doanh nghiệp vừa gây ô nhiễm môi trường xung
quanh khu dân cư làm ảnh hưởng đến đời sống của cộng đồng dân cư trong
vùng, nhất là ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân.
Trên góc độ hiệu quả kinh tế thì khu công nghiệp trở thành động lực
của vùng kinh tế. Không có khu công nghiệp thì không có vùng kinh tế trọng
phong làm việc chuyên nghiệp, thậm chí có cả các cấp quản lý bậc cao cũng
được hình thành từ đây. Tuy vậy, số lượng lao động trực tiếp và quản lý trong
các khu công nghiệp chưa đạt được chất lượng và cơ cấu phù hợp. Thực tế
này, một mặt do các KCN chưa tạo được các điều kiện cần thiết cho người lao
động chỗ ăn ở đi lại và nhất là tiền lương còn quá thấp (mức thu nhập bình
quân của người lao động ở đây khoảng 1,2-1,5 triệu đồng/tháng, kéo dài trong
nhiều năm và tính cả tiền tăng ca). Mặt khác, công tác đào tạo của nước ta còn
kém về tay nghề và cơ cấu chưa phù hợp với KCN.
c. Đặc điểm của khu công nghiệp
Khu công nghiệp thể hiện những đặc trưng chung nhất của tổ chức sản
xuất công nghiệp trên vùng lãnh thổ. Khu công nghiệp là khái niệm phổ biến
nhất ở nhiều nước. Trên góc độ khác nhau của sự phân bố, khu công nghiệp
được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau:
7
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
+ Xét về quy mô: Do điều kiện thuận lợi về tài nguyên, lao động, vị trí
địa lý và cơ sở hạ tầng kỹ thuật nên có những khu công nghiệp phát triển gắn
với những thành phố hàng triệu dân hoặc hàng chục vạn dân. Bên cạnh đó có
khu công nghiệp chỉ bao gồm một số doanh nghiệp quy mô vừa và nhỏ gắn
với các thị trấn, thị xã vài vạn dân.
+ Xét về vị trí địa lý: Khu công nghiệp được phân bố trong một tỉnh,
một vùng, trên lãnh thổ liên tỉnh, liên vùng.
+ Xét về trình độ phát triển: Nếu xét trong mỗi thời điểm nhất định nào
đó có thể thấy khu công nghiệp đã được xây dựng tương đối hoàn chỉnh, có
khu công nghiệp cần đầu tư xây dựng bổ xung, có khu công nghiệp đang xây
dựng. Trong tiến trình phát triển, việc phân loại khu công nghiệp theo cách
này chỉ mang ý nghĩa tương đối.
Về mặt pháp lý:
cách thức phân bổ nguồn lực sao cho đạt được kết quả tối ưu. Thế nhưng một
trong những điều kiện quan trọng nhất để xây dựng KCN là phải chuyển đổi
đất từ sản xuất nông nghiệp sang. Đối với những nước đất đai được thừa nhận
là của dân, việc chuyển mục đích sử dụng đất giữa các chủ sở hữu thuộc các
ngành kinh tế chủ yếu được thực hiện thông qua quan hệ mua bán do cơ chế
thị trường và quan hệ cung-cầu điều tiết, nhà nước chỉ hỗ trợ việc chuyển đổi
đạt được mục tiêu nhà nước đã lựa chọn.
Đối với nước ta, do đất đai thuộc sở hữu toàn dân, nhà nước là đại diện
chủ sở hữu và thống nhất quản lý, nên nhà nước có quyền giao đất cho các tổ
chức, cá nhân sử dụng và có quyền thu hồi đất để chuyển đổi mục đích sử
dụng. Về thực chất, đất nông nghiệp là đất Nhà nước giao cho nông dân nhằm
đưa vào phát triển sản xuất nông nghiệp. Theo pháp luật, người nông dân
không chỉ có quyền có đất sản xuất, mà còn có các quyền trong sử dụng đất,
được hưởng thành quả lao động và kết quả đầu tư trên đất khi được Nhà nước
giao. Việc Nhà nước thu hồi một phần diện tích đất nông nghiệp chuyển sang
phát triển công nghiệp và xây dựng các kết cấu hạ tầng khác trong giai đoạn
đẩy mạnh CNH-HĐH là cần thiết và đây là lẽ đương nhiên của người đại diện
9
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
chủ sở hữu đất.
Đây không phải là việc làm tùy tiện, mà nó được xuất phát từ yêu cầu
CNH-HĐH đất nước vì lợi ích công cộng, lợi ích quốc gia. Không những thế,
nó còn do chính yêu cầu phát triển ngành nông nghiệp và kinh tế nông thôn.
Bởi lẽ sự phát triển CN không chỉ tạo cơ hội việc làm mới mà nó còn tạo
nhiều cơ hội phát triển cho các đối tượng khác nhau và đây cũng là nội hàm
của việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế hợp lý. Bên cạnh đó nó cũng tạo ra sức
mua của các sản phẩm được sản xuất từ nông nghiệp. Còn những sản phẩm
được sản xuất ra từ CN sẽ là những yếu tố sản xuất và hàng tiêu dùng đáp ứng
- Có khả năng giải quyết thị trường tiêu thụ sản phẩm cả nội tiêu và
ngoại tiêu.
- Tiết kiệm tối đa đất nông nghiệp đặc biệt là trồng trọt trong việc sử
dụng đất để xây dựng khu công nghiệp.
- Chú ý kết hợp với yêu cầu đảm bảo an ninh quốc phòng trong những
điều kiện cụ thể ở từng khu vực và từng giai đoạn.
Theo các chuyên gia đến từ Nhật Bản, chìa khóa cho sự thành công của
các khu công nghiệp là vị trí, dịch vụ hạ tầng và năng lực quản lý.
f. Ảnh hưởng của quá trình phát triển KCN đến sự phát triển kinh tế -
xã hội và môi trường
Phát triển các KCN là một quá trình đã, đang và sẽ tiếp tục diễn ra một
cách phổ biến trên thế giới. Nó từng bước đưa con người tiếp cận cuộc sống
văn minh, đồng thời cũng đặt ra không ít vấn đề tiêu cực, khó khăn - những
vấn đề ảnh hưởng xấu đối với quá trình phát triển một cách bền vững.
* Mặt tích cực:
Một là, phát triển KCN thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Sản xuất hàng hóa
và dịch vụ thường đạt hiệu quả cao tại những đô thị lớn - nơi có quy mô mật
độ dân số tương đối lớn với nguồn lao động dồi dào, có quy mô hoạt động
kinh tế đủ lớn do các doanh nghiệp tập trung đông, có hệ thống phân phối
rộng khắp trên một không gian đô thị nhất định. Đồng thời khi kinh tế của các
11
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
đô thị lớn đạt tới độ tăng trưởng cao thì nó sẽ gây ra hiệu ứng lan toả kích
thích mạnh tới tăng trưởng kinh tế của cả nước.
Hai là, phát triển KCN đẩy nhanh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo
hướng CNH, HĐH. Trong quá trình phát triển, cơ cấu ngành kinh tế thay đổi
theo hướng giảm tỷ trọng của khu vực nông nghiệp và gia tăng nhanh tỷ trọng
của khu vực công nghiệp và dịch vụ. Đối với sản xuất nông nghiệp nói riêng,
trong việc nâng cao thu nhập cho họ. Khi mức thu nhập bình quân/ người/tháng
tăng lên thì nhu cầu chi tiêu đời sống của dân cư cũng tăng nhằm thỏa mãn tốt
hơn nhu cầu tiêu dùng cá nhân. Điều đó cho thấy phát triển KCN làm mức
sống của dân cư được cải thiện đáng kể, góp phần vào việc thực hiện xóa đói
giảm nghèo.
Sáu là, phát triển KCN cũng đem lại một số tiến bộ về mặt xã hội đó là:
nâng tuổi thọ trung bình, giảm tỷ lệ tử vong của trẻ em, giảm tỷ lệ trẻ suy dinh
dưỡng, tăng tỷ lệ dân cư dùng nước sạch, phát triển giáo dục, văn hóa,
* Mặt tiêu cực:
Bên cạnh những mặt mạnh của việc phát triển KCN thì cũng tồn tại
không ít những vấn đề tiêu cực đang xảy ra, đó là:
Thứ nhất, thu hẹp diện tích đất nông nghiệp. Quá trình phát triển KCN
nhanh đã làm cho nhu cầu về sử dụng đất chuyên dùng xây dựng hệ thống cơ
sở hạ tầng và đất đô thị tăng lên rất nhanh. Điều này dẫn đến tình trạng nuốt
chửng những diện tích đất nông nghiệp vốn rất cần thiết cho một đô thị như:
sản xuất lương thực thực phẩm, tạo mảng không gian xanh có vai trò “giải
độc” cho môi trường sống, tạo khu nghỉ ngơi cho thị dân Đồng thời sự suy
giảm diện tích đất nông nghiệp đã ảnh hưởng không nhỏ tới việc cải thiện
mức sống của nhiều người dân ở khu vực ngoại ô vì họ trở nên thiếu phương
tiện lao động và kế sinh nhai truyền thống.
Thứ hai, khoét sâu hố phân cách giàu nghèo. Quá trình phát triển nhanh
đã làm cho hố phân cách giàu nghèo giữa các tầng lớp dân cư trong đô thị,
giữa nông thôn và thành thị trở nên trầm trọng hơn.
13
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Thứ ba, gia tăng tình trạng di dân. Chính sự chênh lệch về mức sống,
điều kiện sống, khả năng tìm kiếm việc làm và cơ hội tăng thu nhập đã và
đang được coi là những nguyên nhân kinh tế quan trọng nhất thúc đẩy một bộ
một phần trong thị trường hoạt động với một trình độ hoàn chỉnh chưa cao.
Hộ nông dân là một đơn vị kinh tế cơ bản, tiến hành sản xuất kinh
doanh đựa trên các nguồn lực sẵn có của gia đình nhằm tạo ra thu nhập theo
nhiều hình thức khác nhau, chịu sự tác động của quy luật khách quan trong
quá trình tồn tại và phát triển.
b. Đặc trưng của kinh tế nông hộ
Kinh tế nông hộ có một số đặc trưng chủ yếu sau:
+ Nông hộ là đơn vị kinh tế cơ sở, vừa là đơn vị sản xuất vừa là đơn vị
tiêu dùng.
+ Quan hệ giữa sản xuất và tiêu dùng được biểu hiện ở trình độ phát
triển của hộ từ tự cấp hoàn toàn đến sản xuất hàng hóa hoàn toàn. Trình độ
này quyết định quan hệ giữa hộ nông dân với thị trường.
+ Ngoài hoạt động nông nghiệp các nông hộ còn tham gia vào hoạt
động phi nông nghiệp với mức độ khác nhau làm khó giới hạn thế nào là một
nông hộ
+ Phương thức tổ chức sản xuất của nông hộ mang tính kế thừa truyền
thống gia đình và không đồng đều giữa các hộ với nhau.
+ Nông hộ ngoài việc tham gia vào quá trình tái sản xuất vật chất còn tham
gia vào quá trình tái sản xuất nguồn nhân lực phục vụ cho các ngành sản xuất.
+ Sự thống nhất chặt chẽ giữa việc sở hữu quản lý và sử dụng các yếu
tố sản xuất. Sở hữu trong kinh tế hộ là sở hữu chung, tất cả mọi thành viên
trong hộ đều có quyền sở hữu tư liệu sản xuất vốn có cũng như những tài sản
khác của hộ. Mặt khác do dựa trên cơ sở kinh tế chung và có ngân quỹ nên
các thành viên trong hộ đều ý thức trách nhiệm rất cao và việc bố trí sắp xếp
công việc trong hộ cũng rất linh hoạt và hợp lý cho từng người, từng việc tạo
nên việc thống nhất cao trong tổ chức sản xuất của hộ.
+ Sự gắn bó giữa lao động quản lý và lao động sản xuất. Trong nông
15
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
rõ những khó khăn để có thêm những chính sách có tính chất đột phá nhằm
tạo động lực mới, thật sự mạnh mẽ cho kinh tế hộ phát triển”.
1.1.2 Ảnh hưởng của việc phát triển khu công nghiệp đến nông hộ
Theo báo cáo của Bộ Tài nguyên và môi trường trong giai đoạn 2000-
2010, số diện tích đất nông nghiệp cả nước đã được chuyển đổi mục đích sử
dụng là gần 157 nghìn ha, trong đó xây dựng các khu công nghiệp, khu chế
xuất là gần 22 nghìn ha, xây dựng cụm công nghiệp vừa và nhỏ gần 35 nghìn
ha, xây dựng kết cấu hạ tầng đô thị gần 100 nghìn ha.
Bảng 1.1: Diện tích đất bị thu hồi của một số tỉnh, thành phố
STT
Tỉnh, thành phố
Diện tích đất thu hồi
(ha)
Số lao động mất việc làm
(người)
2001-2005
2006-2010
2001-2005
2006-2010
1
Hà Nội
5.208
10.000
104.000
100.000
7
Ninh Bình
500
700
2.500
3.500
8
Lào Cai
599
451
6.875
2.175
9
Vĩnh Phúc
1.200
1.000
8.000
7.000
10
Bắc Ninh
3.087
4.150
7.500
9.000
11
Đà Nẵng
858,4
377
20.000
10.000
2000 – 2010. Trong đó, giai đoạn 2001-2005, tại 14 tỉnh, thành phố có tốc độ
CNH nhanh tổng diện tích đất nông nghiệp đã chuyển đổi mục đích sử dụng
đất nông nghiệp là 20.631,4 ha, giai đoạn 2006-2010 tiếp tục chuyển đổi
29.425 ha. Những địa phương có diện tích thu hồi lớn là Hà Nội, Hải Phòng,
Hà Tây, Hải Dương, Vĩnh Phúc, Phúc Yên, Cần Thơ. Do vậy, số lao động bị
mất việc làm cũng vì thế mà tăng lên. Cụ thể là, cứ thu hồi 1 ha đất nông
nghiệp thì có 13 lao động trước đây làm nông nghiệp phải chuyển sang làm
việc khác, trong đó có một số người chưa tìm được việc làm mới.
Nước ta bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH chính là việc chuyển
dịch mục đích sử dụng đất từ nông nghiệp sang xây dựng kết cấu hạ tầng,
phát triển công nghiệp, dịch vụ, và xây dựng đô thị tăng nhanh, điều này dẫn
đến một bộ phận không nhỏ lao động trong nông nghiệp rơi vào tình trạng
không có việc làm trong khi Nhà nước chưa có chính sách đồng bộ để giải
quyết việc làm cho số lao động nói trên. Do đó thất nghiệp, tăng trưởng kinh
tế, lạm phát là 3 vấn đề quan trọng trong nền kinh tế thị trường đã và đang thể
hiện rõ ở nước ta. Ba chỉ số này phản ánh một cách khái quát và toàn diện
nhất thực trạng nền kinh tế, xã hội của mỗi quốc gia.
Hiện nay thất nghiệp, thiếu việc làm đã và đang là mối quan tâm của
Chính phủ các nước, các tổ chức kinh tế và mọi người trên thế giới. Giải
quyết việc làm cho người lao động đang trở thành vấn đề toàn cầu, là một
thách thức lớn của mỗi quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam. Việt
Nam, thất nghiệp, thiếu việc làm đang và sẽ là bài toán khó trong quá trình
vận động, phát triển của nền kinh tế trên con đường CNH, HĐH đất nước.
Theo số liệu báo cáo của các sở Lao động – Thương binh và Xã hội ở
các tỉnh, trong năm 2007 diện tích đất nông nghiệp chuyển đổi mục đích sử
dụng là 4.419 ha. Giai đoạn 2006-2010 vùng Đông Bắc sẽ chuyển đổi mục
đích sử dụng đất là 24.615 ha.
Do tốc độ đô thị hóa nhanh cùng với việc tăng cường đầu tư phát triển
18
hợp lý để có thể ổn định được cuộc sống.
Trong những năm vừa qua cùng với quá trình phát triển KCN, hiện đại
19
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
hóa đất nước thì một diện tích lớn đất nông nghiệp ở các vùng nông thôn đã
được chuyển sang đất công nghiệp và đô thị. Người dân không còn đất canh
tác buộc phải chuyển đổi sang các ngành sản xuất khác, trong số đó có ngành
chăn nuôi, đặc biệt là nuôi các loại gia súc, gia cầm như: lợn, gà, trâu,
bò Mặt khác, do tác động của nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần nên
nên hình thức chăn nuôi nhỏ lẻ hộ gia đình dần bị xóa bỏ và chuyển dần sang
hình thức chăn nuôi theo quy mô lớn hơn. Chính việc gia tăng số lượng vật
nuôi một cách đột ngột cùng với cơ sở hạ tầng chuồng trại không đảm bảo,
trình độ quản lý của người dân thấp, cộng với ý thức bảo vệ môi trường của
người dân không cao dẫn đến tình trạng ô nhiễm nguồn nước do nước thải,
phân thải ra từ hoạt động chăn nuôi ở nhiều vùng nông thôn nước ta.
các tỉnh miền Trung, theo kết quả khảo sát tại 5 tỉnh (Quảng Bình,
Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Ngãi và Ninh Thuận) cho thấy việc nuôi
tôm trên cát phát triển khá nhanh. Năm 1999, nuôi tôm trên cát được bắt đầu
từ một hộ gia đình ở huyện Ninh Phước, tỉnh Ninh Thuận với diện tích 0,5ha.
Đến năm 2002, diện tích nuôi tôm đã lên tới 300ha/14.000ha bãi có khả năng
phát triển. Tính trung bình tổng khối lượng nước cung cấp cho 1ha nuôi tôm
trong 1 vụ khoảng 54.600m
3
, trong đó có từ 30-50% là nước ngọt, mà phần
lớn là nguồn nước cấp chủ yếu khai thác từ nước ngầm. Việc nuôi tôm trên
cát không chỉ tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm nguồn nước mặt từ nguồn nước
thải của các ao nuôi mà còn có khả năng ảnh hưởng lớn đến chất lượng nước
ngầm. Việc khai thác nước ngầm để cung cấp cho các ao nuôi một cách tùy
là động lực của những bước tiến kỳ diệu mà nhân loại đã đạt được trong mấy
thiên nhiên kỷ qua. Đối với Việt Nam, một nước nông nghiệp truyền thống
với nền đô thị hoá thấp và chậm trong lịch sử đang bước vào thời kỳ mới của
nền kinh tế thị trường, thời kì CNH - HĐH, việc nghiên cứu tìm hiểu diễn
biến của quá trình đô thị hoá thế giới càng có ý nghĩa to lớn cả về mặt nhận
thức, lý luận cũng như giá trị thực tiễn. Khả năng phục hồi sau sốc Thiết lập trạng thái cân bằng mới
Thu hồi đất là một cú
sốc lớn
- Làm giảm đột ngột
nguồn lực sinh kế
chính: đất đai
- Hộ nông dân không
còn sử dụng cá kỹ
năng sản xuất vốn có
- Nhận số tiền đền bù
lớn
Cơ sở nguồn lực của hộ
Các lựa chọn của hộ
- Các hoạt động tạo
thu nhập
- Xây dựng năng lực
- Các lựa chọn khác
được xem như quá
trình điều chỉnh và
thích ứng sau sốc
Các tài sản
số thế giới sống ở các đô thị.
Bảng 1.3. Tỷ lệ dân số đô thị các khu vực trên thế giới theo các giai đoạn
(ĐVT: %)
Năm
Khu vực
1950
1970
1990
2000
Thế giới
29,7
36,7
43,7
47,4
Khu vực phát triển
54,99
66,7
73,7
76,1
Khu vực kém phát triển
77,8
25,1
34,7
40,5
Khu vực kém phát triển nhất
7,1
12,7
20,1
25,4
(Nguồn: World urbanization prospect: 2000, New York ,2001)