NGHIÊN CỨU MÔ HÌNH KINH TẾ CHUYỂN ĐỔI CHO CÁC HỘ NÔNG DÂN SAU THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP TẠI CÁC KHU CÔNG NGHIÊP Ở HUYỆN PHỔ YÊN TỈNH THÁI NGUYÊN - Pdf 13

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Tính cấp thiết của đề tài 1
2. Mục tiêu 3
2.1. Mục tiêu chung 3
2.2. Mục tiêu cụ thể 3
4. Ý nghĩa của đề tài 4
Bảng 2.20. Phân tích SWOT (điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức) 80
trong quá trình chuyển đổi mô hình kinh tế của người dân sau thu hồi đất 80
i
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CĐ :Cố định
CN :Công nghiệp
CCN :Cụm công nghiệp
CNH :Công nghiệp hoá
DT :Diện tích
DVNN :Dịch vụ nông nghiệp
ĐTH :Đô thị hoá
GPMB :Giải phóng mặt bằng
GTSX :Giá trị sản xuất
HĐH :Hiện đại hoá
HH :Hiện hành
KCN :Khu công nghiệp
KCX :Khu chế xuất
KKT :Khu kinh tế
LN :Lâm nghiệp
NL :Nông lâm
NLKH : Nông lâm kết hợp
HTX :Hợp tác xã
TNbq :Thu nhập bình quân
TM :Thương mại

nghiệp dịch vụ cũng như xây dựng khu đô thị mới, tạo điều kiện thu hút đầu
tư, đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tuy nhiên quá trình này
cũng đã đặt ra rất nhiều vấn đề bức xúc trong đời sống người dân bị thu hồi
đất, đặc biệt là vấn đề việc làm, ổn định thu nhập và đảm bảo đời sống kinh tế
của nhiều hộ nông dân mất đất. Điều này khiến cho cuộc sống của hàng triệu
nông dân đang gặp rất nhiều khó khăn sau khi bị THĐ, và một thực tế mà
người dân đang phải đối mặt đó là: Nếu không tìm được việc làm mới, quay
lại nghề nông khi đất nông nghiệp không còn thì họ lại bị rơi vào cảnh thất
nghiệp và cận kề nghèo đói. Chính vì thế một câu hỏi lớn đặt ra là làm thế nào
để giải quyết những vấn đề cấp bách trên, đảm bảo đời sống của người dân
được tốt hơn trước thu hồi hoặc tối thiểu cũng bằng trước thu hồi, câu hỏi này
cũng đang được Đảng và nhà nước quan tâm tháo gỡ.
1
Thái Nguyên là một tỉnh trung du miền núi phía bắc đã và đang thực
hiện mục tiêu đến năm 2020 trở thành 1 trung tâm kinh tế, văn hoá, giáo dục
của vùng. Để đạt được mục tiêu này, trong những năm qua do có nhiều điều
kiện thuận lợi nên quá trình CNH, HĐH ở Thái Nguyên đã và đang diễn ra
mạnh mẽ, nhiều KCN, khu chế xuất được hình thành như: KCN Sông công,
KCN Nam Phổ Yên, KCN Yên Bình…Bên cạnh những tác động tích cực mà
quá trình CNH, HĐH mang lại thì Thái Nguyên cũng đang phải đối mặt với
khó khăn lớn đó là làm sao có thể ổn định đời sống kinh tế của người dân sau
khi họ bị THĐ sản xuất.
Trong số các huyện ở Thái Nguyên thì Phổ Yên được xem là một
huyện đang có đà phát triển kinh tế rất mạnh mẽ do có nhiều điều kiện
thuận lợi về giao thông, địa hình, vị trí địa lý… nên Phổ Yên được coi là
một trong những địa bàn hấp dẫn các nhà đầu tư nhất, đặc biệt 5 năm qua
do thực hiện chủ trương đẩy mạnh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo hướng phát triển công nghiệp dịch vụ nên rất nhiều các KCN được
hình thành và quy hoạch. Vấn đề đặt ra sau khi người nông dân mất đất sản
xuất nông nghiệp thì mô hình kinh tế chuyển đổi của hộ như thế nào để

Đề tài tập trung nghiên cứu vào các hộ nông dân bị thu hồi đất sản xuất
nông nghiệp tại Khu công Nghiệp Nam Phổ Yên và Khu công nghiệp Tây
Phổ Yên.
KCN Nam Phổ Yên được xác định mở rộng quy mô diện tíchtrên cơ sở
02 KCNN xã Trung Thành, xã Thuận Thành và KCNN Tân Đồng với quy mô
diện tích 310ha.
KCN Tây Phổ Yên với quy mô diện tích là 450 ha thuộc xã Minh Đức,
Đắc Sơn, Vạn Phái.
3
4. Ý nghĩa của đề tài
4.1. Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học
- Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về việc thu hồi đất nông nghiệp của
các hộ nông dân.
- Nghiên cứu những ảnh hưởng của các KCN đến đời sống hộ
- Nghiên cứu một số mô hình kinh tế chuyển đổi cho các hộ nông dân
sau khi mất đất nông nghiệp
4.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn nghiên cứu thực trạng sản xuất của các hộ nông dân sau khi
thu hồi đất nông nghiệp từ đó đưa ra các mô hình kinh tế phù hợp cho các
hộ nông dân sau khi đã bị mất đất nông nghiệp một cách thực tế và phù hợp
với điều kiện của địa phương.
5. Bố cục của luận văn
Ngoài phần đặt vấn đề, kết luận và kiến nghị. Luận văn được kết cấu
thành 3 chương.
Chương I. Tổng quan tài liệu và phương pháp nghiên cứu.
Chương II. Thực trạng mô hình kinh tế chuyển đổi của các hộ nông
dân sau thu hồi đất nông nghiệp tại các khu công nghiệp ở huyện Phổ Yên -
tỉnh Thái Nguyên.
Chương III. Một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả các mô
hình kinh tế chuyển đổi cho các hộ nông dân sau khi thu hồi đất nông

vực nông thôn nói riêng và sự phát triển KT - XH của cả nước nói chung.
1.1.1.2. Vấn đề về thu hồi đất
Trong quá trình quản lý của Nhà nước về đất đai, Nhà nước đã dùng
nhiều biện pháp khác nhau để phân phối và phân phối lại quỹ đất quốc gia cho
nhiều chủ sử dụng đất, một trong những biện pháp đó chính là thu hồi đất.
Vậy, thu hồi đất là việc nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử
dụng đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, uỷ ban nhân dân xã, phường, thị
trấn quản lý theo quy định của luật đất đai năm 2003. Có thể nói, thu hồi đất
là giai đoạn kết thúc việc sử dụng đất của chủ thể này, nhưng lại là bước kế
tiếp của việc sử dụng đất của một chủ thể mới. Đó cũng là mối quan hệ qua
lại giữa giao đất và thu hồi đất. Do vậy các quy định về THĐ cần kết nối được
lợi ích của 3 chủ thể quan trọng là Nhà nước, chủ đầu tư sử dụng đất và người
bị THĐ, đồng thời phải có những chính sách quan tâm tới đời sống KT-XH
của những chủ thể sau THĐ.
Đặc trưng của thu hồi đất:
+ THĐ phải là quyết định hành chính của người có thẩm quyền nhằm
chấm dứt quan hệ pháp luật đất đai và thẩm quyền này phải tuân thủ theo điều
44 của luật đất đai 2003.
+ Việc THĐ phải xuất phát từ nhu cầu của Nhà nước về KT- XH hoặc
là những biện pháp chế tài được áp dụng nhằm xử lý các hành vi vi phạm pháp
luật đất đai của người sử dụng.[6]
1.1.2. CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn với vấn đề thu hồi đất
1.1.2.1. Các vấn đề liên quan đến CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn
CNH, HĐH đất nước nói chung và CNH, HĐH nông nghiệp nông thôn
nói riêng là một quá trình tất yếu, khách quan để phát triển nên kinh tế, nâng
cao mức sống của người dân. Tuy nhiên, ở mỗi nước trong mỗi thời kỳ cần có
6
mục tiêu, bước đi thích hợp. Vùng nông thôn nước ta là một vùng rộng lớn
với 73% dân số sinh sống, tỷ lệ GDP còn thấp song lại có một vị trí vô cùng
quan trọng. Do vậy, Đảng và Nhà nước ta luôn luôn coi CNH, HĐH nông

tuổi quy định thực tế có tham gia lao động (đang có việc làm) và những người
không có việc làm nhưng đang tích cực tìm việc làm.
- Độ tuổi lao động: Theo quy định của Bộ luật lao động thì độ tuổi lao
động được tính như sau: + Đối với nam giới: Từ 15 đến 60 tuổi
+ Đối với nữ giới :Từ 15 đến 55 tuổi
Tuy nhiên, theo khái niệm trên thì những người trong độ tuổi lao động
không có nhu cầu làm việc hoặc không có khả năng làm việc thì không được
tính trong lực lượng lao động: Ví dụ như học sinh, người tàn tật
- Lao động có thể được phân loại theo những tiêu thức sau:
+ Phân loại theo tính chất lao động gồm có: Lao động trực tiếp và lao
động gián tiếp
+ Phân loại theo thời gian lao động gồm có: Lao động thường xuyên
và Lao động tạm thời
+ Phân loại theo trình độ được đào tạo: Lao động trình độ cao đẳng,
đại học trở lên, Lao động trình độ trung cấp, Lao động trình độ sơ cấp và
Lao động phổ thông
+ Phân loại theo ngành nghề gồm có: Lao động nông nghiệp, Lao động
công nghiệp,tiểu thủ công nghiệp và Lao động dịch vụ [9]
1.1.3.2. Việc làm và các vấn đề liên quan đến việc làm
Theo điều 13 Bộ luật lao động nước Việt nam (2006) thì việc làm được
định nghĩa như sau: “ Mọi hoạt động lao động tạo ra nguồn thu nhập, không
bị pháp luật cấm đều được thừa nhận là việc làm”.
8
Theo định nghĩa trên, các hoạt động được xác định là việc làm bao gồm:
+ Các hoạt động tạo ra của cải, vật chất và giá trị tinh thần, không bị
pháp luật cấm, được trả công dưới dạng bằng tiền hoặc hiện vật.
+ Những công việc tự làm mang lại lợi ích cho bản thân hoặc tạo ra thu
nhập cho gia đình và cho cộng đồng kể cả những việc trả công bằng tiền hoặc
hiện vật.
- Người có việc làm: Là những người thuộc lực lượng lao động mà

- Thiếu việc làm được thể hiện dưới 2 dạng: Thiếu việc làm vô hình và
thiếu việc làm hữu hình.
+ Thiếu việc làm vô hình: Là trạng thái những người có đủ việc làm,
làm đủ thời gian, thậm chí nhiều thời gian hơn mức bình thường nhưng thu
nhập thấp. Trên thực tế họ vẫn làm việc nhưng sử dụng ít thời gian trong sản
xuất do vậy thời gian nhàn rỗi nhiều.
+ Thiếu việc làm hữu hình: Là hiện tượng lao động làm việc thời gian ít
hơn thường lệ, họ không đủ vệc làm đang kiếm thêm việc làm và sẵn sàng
làm việc.
* Thất nghiệp
Thất nghiệp là hiện tượng mà người lao động trong độ tuổi lao động có
khả năng lao động muốn làm việc nhưng lại chưa có việc làm và đang tìm
kiếm việc làm.
Thất nghiệp là một hiện tượng phức tạp cần phải được phân loại để
hiểu rõ về nó. Thất nghiệp có thể được chia thành các loại như sau:
- Xét về nguồn gốc thất nghiệp có thể chia thành:
+ Thất nghiệp tạm thời: Xảy ra khi có một số người đang trong thời
10
gian tìm kiếm công việc hơặc nơi làm tốt hơn, phù hợp với ý muốn riêng,
hoặc những người mới bước vào thị trường lao động đang tìm kiếm việc hoặc
chờ đợi đi làm.
+ Thất nghiệp cơ cấu: Xảy ra khi có sự mất cân đối cung - cầu giữa các
loại lao động (không đồng bộ giữa tay nghề và cơ hội có việc làm khi động
thái của nhu cầu và sản xuất thay đổi).
+ Thất nghiệp do thời vụ: Xuất hiện như là kết quả của những biến
động thời vụ trong các cơ hội lao động.
+ Thất nghiệp chu kỳ: Là loại thất nghiệp xảy ra do giảm sút giá trị
tổng sản lượng của nền kinh tế. Trong giai đoạn suy thoái của chu kỳ kinh
doanh, tổng giá trị sản xuất giảm dần dẫn tới hầu hết các nhà sản xuất giảm
lượng cầu đối với các yếu tố đầu vào trong đó có lao động

rất nhiều bức xúc hiện nay. Chính vì vậy, việc THĐ ảnh hưởng rất lớn tới việc
làm và đời sống kinh tế của người dân. [8]
1.1.4. Thu nhập và các vấn đề liên quan đến thu nhập
* Thu nhập
Thu nhập là giá trị thu được (quy ra thóc hoặc tiền) sau khi đã trừ đi chi
phí trung gian (IC) và khấu hao tài sản cố định.
- Thu nhập hỗn hợp (MI): Là phần thu nhập thuần tuý của người sản
xuất bao gồm cả công lao động và lợi nhuận thu được do người sản xuất trong
1 chu kỳ sản xuất trên quy mô diện tích.
MI = GO - IC - TSX - C
1
MI: Thu nhập hỗn hợp
GO: Giá trị sản xuất (của cải vật chất và dịch vụ được tạo ra trong 1
thời kỳ nhất định của hộ, thường là 1 năm).
IC: Chi phí trung gian
TSX: Thuế sản xuất
12
C
1
: Khấu hao tài sản cố định
- Thu nhập ổn định: Là khả năng tạo thu nhập một cách ổn định, lâu
dài qua các năm, đảm bảo ổn định cuộc sống lâu dài thông qua các hoạt động
sản xuất, kinh doanh của hộ.
- Phân loại thu nhập: Theo mức độ, thì thu nhập bao gồm: Thu nhập
thường xuyên và thu nhập không thường xuyên
+ Thu nhập thường xuyên: Là các khoản thu nhập có tính chất lặp đi
lặp lại và ổn định như: Tiền lương, tiền công,tiền trợ cấp, các khoản thu nhập
do tổ chức cá nhân chi trả,
+ Thu nhập không thường xuyên: Là các khoản thu nhập không ổn
định, đột xuất như: Quà biếu tặng, thu nhập từ các hoạt động khoa học,

- Thứ nhất: công nghiệp hóa tạo tiền đề cho quá trình đô thị hóa.
- Thứ hai: công nghiệp hóa thúc đẩy các mối liên kết trong kinh tế.
- Thứ ba: công nghiệp hóa là con đường cơ bản nâng cao khả năng
cạnh tranh của nền kinh tế.
1.2.2. Khu công nghiệp, vai trò của khu công nghiệp đến phát triển kinh tế
- xã hội nông thôn
KCN, KCX ở nước ta được hình thành và phát triển từ năm 1991, khởi
đầu là KCX Tân Thuận tại thành phố Hồ Chí Minh trong 20 năm phát triển,
kết quả hoạt động của các KCN đã góp phần thúc đẩy công nghiệp phát triển,
tăng trưởng kinh tế, hình thành các trung tâm công nghiệp gắn liền với phát
triển đô thị, đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH,
HĐH, góp phần giải quyết việc làm cho lao động địa phương, đào tạo cán bộ
quản lý, công nhân lành nghề, tạo điều kiện để xử lý các tác động tới môi
trường một cách tập trung. Các KCN thực sự đóng vai trò tích cực trong công
14
cuộc CNH, HĐH đất nước.
Quá trình phát triển các KCN, KCX ở Việt Nam trong những năm qua
đã thể hiện sự đúng đắn trong đường lối phát triển kinh tế của Đảng. Các
KCN, KCX đã có những đóng góp không nhỏ trong việc tăng kim ngạch xuất
khẩu, nâng cao trình độ và hiện đại hóa công nghệ, tăng cường khả năng tổ
chức quản lý sản xuất và quản lý nhà nước, từ đó làm giảm chi phí sản xuất,
tăng cường năng lực cạnh tranh của sản phẩm trong quá trình hội nhập. Các
KCN, KCX cũng thể hiện vai trò không thể thiếu trong việc xây dựng và hiện
đại hóa hệ thống kết cấu hạ tầng trong và ngoài KCN, KCX nhằm thích ứng
với nền công nghiệp tiên tiến, hiện đại, nó cũng đặt ra cho các cơ quan quản
lý nhà nước những mục tiêu khắc phục các yếu kém, hạn chế, nâng cao hơn
nữa hiệu quả và vai trò của KCN, KCX trong các giai đoạn tới, góp phần tích
cực hơn nữa vào sự nghiệp CNH, HĐH đất nước.[14]
1.2.3. Hộ nông dân và đặc trưng cơ bản của kinh tế hộ nông dân
* Hộ nông dân

người lao động.
- Kinh tế hộ là đơn vị sản xuất có quy mô nhỏ nhưng hiệu quả. Sản xuất
với quy mô nhỏ không đồng nghĩa với lạc hậu và năng suất thấp.[7]
1.2.4. Tính tất yếu phải phát triển các khu công nghiệp ở vùng nông thôn
Trong những năm qua, các KCN tập trung trong vùng là nhân tố động
lực đóng góp quan trọng cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của vùng,
biến vùng thuần nông thành vùng kinh tế trọng điểm có tốc độ tăng trưởng
kinh tế cao, phổ biến trên 10%/năm. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng
tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp trong GDP
với tốc độ khá nhanh. Nhiều tỉnh thuần nông trước đây nhờ phát triển KCN sẽ
nhanh trở thành những tỉnh công nghiệp như Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hưng
16
Yên, Hải Dương Bộ mặt nông thôn đổi mới theo hướng văn minh, hiện đại.
Các KCN đã và đang thu hút hàng trăm nghìn lao động nông thôn, tạo ra thị
trường sức lao động mới để thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động
xã hội trong vùng. Hệ thống kết cấu hạ tầng được xây dựng mới và nâng cấp,
nhất là khu vực nông thôn, tỷ lệ hộ nghèo giảm.
Tại sao phải công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn?
Vì nông nghiệp, nông thôn là khu vực đông dân cư nhất, lại có trình độ phát
triển nhìn chung là thấp nhất so với các khu vực khác của nền kinh tế. Nông
dân chiếm hơn 70% dân số và hơn 76% lực lượng lao động cả nước, đóng góp
từ 25% đến 27% GDP của cả nước…
Thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn chính là
từng bước để phát triển nông thôn Việt Nam theo hướng hiện đại, xóa dần khoảng
cách giữa thành thị với nông thôn. Để làm được điều này, cần rất nhiều giải pháp,
trong đó một giải pháp quan trọng là phải phát triển dịch vụ và du lịch. Hiện nay
tỷ lệ hộ kinh tế làm dịch vụ trong nông thôn mới chỉ chiếm 11,2%. Tiếp tục
khuyến khích phát triển mạnh thêm du lịch sẽ giúp cho nông thôn giải quyết hàng
loạt vấn đề: tạo công ăn việc làm, nâng cao dân trí, phát triển kết cấu hạ tầng nông
thôn, từ đó, làm thay đổi cơ cấu kinh tế và lao động trong nông thôn theo hướng

có tiềm năng và hiệu quả, góp phần quan trọng giải quyết việc làm cho lao
động tại chỗ (kể cả số lao động của những hộ gia đình bị thu hồi đất) và lao
động nhập cư.
* Tác động tới kinh tế hộ nông dân
Sản xuất nông nghiệp ở các địa phương vẫn theo phương thức cũ, nhỏ
lẻ, phân tán nên hiệu quả kinh tế thấp và có nguy cơ kém bền vững trước
thiên tai dịch bệnh và biến động của thị trường. Diện tích đất nông nghiệp
giảm nhanh do quá trình phát triển các khu công nghiệp, từ đó làm hạn chế cơ
hội để nâng cao thu nhập từ ngành chính là trồng trọt, trong khi khả năng phát
triển chăn nuôi, thủy sản và các ngành nghề phi nông nghiệp còn hạn chế. Các
18
sản phẩm rau quả và chăn nuôi gia súc, gia cầm có sức cạnh tranh thấp.
* Tác động tới chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Sự phát triển của các KCN đã đẩy nhanh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế
theo hướng CNH, HĐH. Trong quá trình đó, cơ cấu ngành kinh tế thay đổi
theo hướng giảm tỉ trọng của khu vực nông nghiệp và gia tăng nhanh tỉ trọng
của khu vực công nghiệp và dịch vụ. Đối với sản xuất nông nghiệp nói riêng,
góp phần làm thay đổi về cơ cấu diện tích gieo trồng và cơ cấu giá trị sản
xuất. Các loại cây trồng có giá trị kinh tế thấp, sử dụng nhiều lao động đang
có xu hướng giảm dần diện tích. Các loại cây cần ít lao động hơn và cho giá
trị kinh tế cao hơn đang được tăng dần diện tích canh tác. Trong tổng giá trị
sản xuất của ngành nông nghiệp thì xu hướng chung là giảm dần tỉ trọng của
ngành trồng trọt và tăng tỉ trọng ngành chăn nuôi.
* Tác động tới xã hội nông thôn
Năng lực của hệ thống chính trị cấp cơ sở chưa đáp ứng yêu cầu phát
triển của thực tiễn. Mức hưởng thụ của người nông dân còn thấp, khoảng cách
thu nhập và đời sống giữa thành thị và nông thôn ngày càng tăng. Giá cả leo
thang đang là những vấn đề bức xúc, ảnh hưởng lớn đến cuộc sống của người
nông dân.[11]
Do thúc đẩy tăng trưởng nhanh các khu công nghiệp nhưng chưa quan

cứu đã được xuất bản, các kết quả nghiên cứu đã công bố của các cơ quan
nghiên cứu, các nhà khoa học trong và ngoài nước, các tài liệu trên internet
- Tài liệu, số liệu đã được công bố về tình hình kinh tế, xã hội nông
thôn, kinh tế của các ngành sản xuất, đời sống của các nông hộ nông nghiệp
nằm trong khu vực có các khu công nghiệp… các số liệu này thu thập từ phòng
Thống kê huyện, Phòng Tài nguyên Môi trường huyện và các phòng, ban có
liên quan. Trên cơ sở đó tiến hành tổng hợp các thông tin cần thiết phục vụ cho
20
công tác nghiên cứu.
b. Thu thập thông tin sơ cấp
Số liệu sơ cấp là những số liệu phục vụ cho nội dung nghiên cứu của đề
tài. Những số liệu này được thu thập từ việc điều tra các hộ có sản xuất nông
nghiệp. Các số liệu này được sử dụng để phân tích về tình hình hiện trạng sản
xuất nông nghiệp của các hộ nông dân trong xã, tình hình mất đất nông
nghiệp, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, tình hình chuyển đổi việc làm của các
hộ do ảnh hưởng của các khu công nghiệp. Phương pháp điều tra được tiến hành
như sau:
* Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
Việc chọn địa điểm nghiên cứu có ảnh hưởng quyết định đến kết quả của
việc nghiên cứu. Để chọn địa điểm nghiên cứu đại diện cho vùng nghiên cứu
chúng tôi căn cứ vào bản đồ đất đai, quy hoạch tổng thể các khu công nghiệp
và các chuyến đi khảo sát.
Đối với bản đồ chúng tôi sử dụng bản đồ quy hoạch đất đai của huyện
Phổ Yên thời kỳ 2006 - 2010 tầm nhìn đến năm 2015.
* Phương pháp chọn mẫu điều tra
Chọn mẫu điều tra được phân thành 2 mục đích:
- Chọn mẫu điều tra để nghiên cứu ảnh hưởng của các KCN đế đời
sống hộ nông dân sau khi thu hồi đất nông nghiệp
- Chọn mẫu điều tra để khảo sát các mô hình kinh tế chuyển đổi cho
các hộ nông dân sau thu hồi đất nông nghiệp tại các KCN

chọn được).
•Các hộ phải có mô hình sản xuất đặc trưng của từng nhóm hộ, phù
hợp với những lợi thế của vùng và có thể làm kinh nghiệm nhân rộng cho
22


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status