thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh trường cao đẳng công nghệ và kinh tế công nghiệp ở huyện phổ yên, tỉnh thái nguyên - Pdf 22

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO
TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ
MINH
Lê Thị Ngọc Thảo
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ
HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO
HỌC SINH TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG
NGHỆ VÀ KINH TẾ CÔNG NGHIỆP Ở
HUYỆN PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
Thành phố Hồ Chí Minh –
2011
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO
TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ
MINH
Lê Thị Ngọc Thảo
THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ
HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO
HỌC SINH TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG
NGHỆ VÀ KINH TẾ CÔNG NGHIỆP Ở
HUYỆN PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
Chuyên ngành: QUẢN LÝ GIÁO DỤC

số
: 60.14.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA
HỌC:
TS. VÕ VĂN

ơn!
Tp. Hồ Chí Minh, tháng 8 năm
2011
Tác
giả
LÊ THỊ NGỌC
THẢO
4
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BGH : Ban giám hiệu
CB-GV : Cán bộ - giáo viên
CB-GV-NV : Cán bộ - giáo viên - nhân viên
CBQL

: Cán bộ quản

CMHS
: Cha mẹ học sinh
CLB

: Câu lạc bộ
CNH-HĐH : Công nghiệp hóa- hiện đại hóa
ĐTB

: Điểm trung bình
ĐTN

: Đoàn thanh niên
GD : Giáo dục
GDCD

MỤC LỤC
6
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài:
Giáo dục đạo đức cho học sinh là một trong năm nhiệm vụ quan trọng của
giáo dục toàn diện. Ngày 21 tháng 10 năm 1964, khi về thăm trường đại học sư
phạm Hà Nội, Bác Hồ đã dạy:“Công tác giáo dục đạo đức trong nhà trường là một
bộ phận quan trọng có tính chất nền tảng của giáo dục trong nhà trường xã hội chủ
nghĩa. Dạy cũng như học phải biết chú trọng cả đức lẫn tài. Đức là đạo đức
cách
mạng,
đó là cái gốc quan trọng”.
Nhiệm vụ và mục tiêu cơ bản của giáo dục là: Nhằm xây dựng những con
người và thế hệ thiết tha gắn bó với lý tưởng độc lập và chủ nghĩa xã hội, có đạo
đức trong sáng, có chí kiên cường xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; thực hiện tốt sự
nghiệp công nghiệp hóa - hiện đại hóa đất nước; giữ gìn và phát huy các giá trị văn
hóa của dân tộc và con người Việt Nam, có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích
cực của cá nhân, làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại, có tư duy sáng
tạo, có kỹ năng thực hành giỏi, có tác phong công nghiệp, có tính tổ chức và kỷ
luật; có sức khỏe, là những người kế thừa xây dựng
chủ
nghĩa xã hội “vừa hồng ,
vừa chuyên”.
Giáo dục đạo đức cho học sinh trong bối cảnh toàn cầu hóa ở Việt Nam lại
càng trở nên đặc biệt quan trọng. Từ khi nước ta chuyển sang nền kinh tế thị trường,
mặt trái của cơ chế thị trường đã tác động mạnh mẽ đến thế hệ trẻ.Các tệ nạn xã hội
tác động tiêu cực đến đạo đức, lối sống của học sinh phổ thông, không ít học sinh đã
sa vào các tệ nạn xã hội, sống tùy tiện ,cẩu thả, như Đảng ta đã nhận định trong
Nghị Quyết Trung ương II, khóa VIII:“Đặc biệt đáng lo ngại là trong một bộ phận
sinh viên, học sinh có tình trạng suy thoái đạo đức, mờ nhạt về lý tưởng, theo lối

cho học sinh trung học phổ thông ở huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên” làm đề
tài luận văn Thạc sĩ.
2. Mục đích nghiên cứu:
-Xác định thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học
sinh trung học phổ thông ở huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
-Đề xuất các giải pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh
Cao đẳng Công nghệ và Kinh tế Công nghiệp ở huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên
trong giai đoạn hiện nay.
3.Khách thể và đối tượng nghiên cứu:
-Khách thể: Thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục toàn diện cho
học sinh trường Cao đẳng Công nghệ và Kinh tế Công nghiệp ở huyện Phổ Yên, tỉnh
Thái Nguyên .
-Đối tượng nghiên cứu: Thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo
đức cho học sinh Cao đẳng Công nghệ và Kinh tế Công nghiệp ở huyện Phổ Yên,
tỉnh Thái Nguyên .
8
4. Nhiệm vụ nghiên cứu:
-Nghiên cứu cơ sở lý luận về công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho
học sinh trung học phổ thông.
-Khảo sát thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học
sinh tại các trường Cao đẳng Công nghệ và Kinh tế Công nghiệp huyện Phổ Yên,
tỉnh Thái Nguyên.
-Đề xuất các giải pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh
Cao đẳng Công nghệ và Kinh tế Công nghiệp trong huyện Phổ Yên, tỉnh Thái
Nguyên.
5. Giả thuyết khoa học:
Giả thuyết 1: Công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức của Hiệu trưởng
trường Cao đẳng Công nghệ và Kinh tế Công nghiệp ở huyện Phổ Yên, tỉnh Thái
Nguyên thực hiện khá tốt việc xây dựng kế hoạch giáo dục đạo đức; công tác kiểm
tra , đánh giá được tiến hành thường xuyên, kịp thời.

các
vấn đề liên quan đến đối tượng nghiên cứu.Cụ thể :
*Khảo sát 100% Cán bộ quản lý của 6 trường Cao đẳng Công nghệ và Kinh
tế Công nghiệp trong huyện Phổ Yên
(gồm 6 hiệu trưởng và 13 phó hiệu trưởng ).
*Khảo sát 100% giáo viên chủ nhiệm của 3 trường đại diện cho 3 vùng:1
trường thuộc vùng sâu (Cao đẳng Công nghệ và Kinh tế Công nghiệp Nguyễn Thị
Minh Khai, 1 trường thuộc vùng ven thị trấn (Cao đẳng Công nghệ và Kinh tế
Công nghiệp Ngô Văn Cấn) và 1 trường tại trung tâm thị trấn Phổ Yên (Cao
đẳng Công nghệ và Kinh tế Công nghiệp Chêguevara), gồm có 95 GVCN.
*Khảo sát 290 học sinh tại 3 trường thuộc 3 vùng : vùng sâu, vùng ven thị
trấn và tại trung tâm thị trấn.
+Phương pháp lấy ý kiến chuyên gia: nhằm thu thập những thông tin khoa
học, những
nhận

định,
đánh giá của các chuyên gia giáo dục, cán bộ quản lý có
nhiều kinh nghiệm trong công tác giáo dục đạo đức ở trường Cao đẳng Công nghệ
và Kinh tế Công nghiệp .
-Phương pháp thống kê toán học: sử dụng phần mềm thống kê SPSS 11.5
nhằm xử lý các
kết

quả
đã khảo sát.
7.Những đóng góp mới của luận văn:
-Góp phần bổ sung cơ sở lý luận về vấn đề quản lý hoạt động giáo dục đạo
đức cho học sinh cấp Cao đẳng Công nghệ và Kinh tế Công nghiệp.
-Đánh giá một cách đầy đủ, toàn diện và khách quan về thực trạng quản lý


U: Thực trạng công tác quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học
sinh Cao đẳng Công nghệ và Kinh tế Công nghiệp ở
huyện

Phổ Yên
, tỉnh Thái
Nguyên.
U
Ch ư ơ

ng
II

I

U: Các giải pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho học sinh
Cao đẳng Công nghệ và Kinh tế Công nghiệp ở huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.
11
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ HOẠT
ĐỘNG GIÁO DỤC ĐẠO ĐỨC CHO HỌC SINH TRUNG HỌC
PHỔ THÔNG
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề:
Đạo đức là một hình thái ý thức xã hội được phản ánh dưới dạng những
nguyên tắc,yêu cầu,chuẩn mực, qui tắc điều chỉnh hành vi của con người trong các
mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, xã hội, lao động của con người. Nó được
hình thành rất sớm trong lịch sử nhân loại và được mọi xã hội, mọi tầng lớp, mọi
thời đại quan tâm. Con người của thời đại nào thì phục vụ cho sự nghiệp và sự phát
triển của thời đại đó, của xã hội đó.Vì vậy, giáo dục đạo đức là một vấn đề thiết
thực và quan trọng góp phần trong việc hình thành và phát triển nhân cách cho học

người “quân tử” có đủ phẩm cách và năng lực thi
hành “đạo lớn” theo tôn chỉ của Nho gia. Khổng tử quan niệm sự hiểu biết không
phải là sinh ra đã có sẵn mà phải được tích lũy qua quá trình học tập, rèn luyện khá
công phu.Các đức tính như
2
T
nhân,
trí, tín, trực, dũng,
cương
2
T
cần phải học tập rèn
12
luyện thì mới có thể phát triển đúng hướng, ứng dụng hoàn hảo. Kết hợp chặt chẽ
việc truyền thụ
tri

thức
văn hóa với việc rèn luyện phẩm chất đạo đức. Ở mức độ
nhất định, có thể nói Khổng tử chủ trương coi việc rèn luyện đạo đức là ưu tiên số
một. Ông từng căn dặn các học trò
rằng
:
2
T
Ở nhà thì ăn ở hiếu thuận với cha mẹ, ra
ngoài xã hội thì kính trọng nhường nhịn các bậc huynh trưởng; nên ít lời và đã nói
thì phải thành thực, nên thân yêu rộng khắp mọi người.
2
T

trong đời sống, trong mọi sinh hoạt để trẻ em noi theo và bắt chước mà vào đời một
cách chân chính…”. Ông coi những trẻ em yếu kém về học tập và hạnh kiểm như là
những trái chín muộn, nếu ta biết cách giáo dục và kiên trì giáo dục thì cũng sẽ đem
lại kết quả tốt đẹp. Nhà giáo bằng thái độ trân trọng, kiên nhẫn, hoàn toàn có thể
xóa bỏ ở học sinh những thói xấu, những mặc cảm và khơi dậy những tiềm năng
của các em. [24]
Sau Komenski có nhiều nhà giáo dục đã nghiên cứu và bàn về vấn đề đạo đức,
nhân cách học sinh, như Jean Jacques Russeau (1712-1778), Petxtalogi (1746-
1827).
Theo quan niệm học thuyết Mac-Lênin: đạo đức là một hình thái ý thức xã hội
có nguồn gốc từ lao động sản xuất và đời sống cộng đồng xã hội, nó phản ánh và
chịu sự chi phối của tồn tại xã hội .
Nếu

tồn
tại xã hội thay đổi thì đạo đức cũng
thay đổi theo. Do vậy đạo đức mang tính lịch sử, tính giai cấp và tính dân tộc.
Thế kỷ XX , một số nhà giáo dục nổi tiếng Xô Viết cũng nghiên cứu về giáo
dục đạo đức học sinh ,các nghiên cứu của họ đã đặt nền tảng cho việc giáo dục đạo
đức mới trong giai đoạn xây dựng CNXH ở Liên Xô.
-A.C.Macarenco: Trong tác phẩm Bài ca sư phạm, đã khái quát các vấn đề
giáo dục người công dân (giáo dục trẻ em phạm pháp và không gia đình) đặc biệt
nhấn mạnh đến vai trò của giáo dục đạo đức và các biện pháp giáo dục đúng đắn
như sự nêu gương, nguyên tắc giáo dục bằng tập thể và thông qua tập thể.
- V.A Xukhomlinxky, nhà giáo dục lớn người Nga cũng rất quan tâm đến
những biện pháp
quản


đạo đức cho học sinh, đóng góp nhiều lí luận, kinh nghiệm

Đến trước Cách mạng Tháng Tám 1945, ở nước ta có nhiều sách dạy về luân
lý, dạy làm người, dạy giao tiếp. Đó là của các tác giả: Trương Vĩnh Ký, Huỳnh
Tịnh Của, Đỗ Thận, Tản Đà, Trần Trọng Kim, Trần Hữu Độ, Lê Văn Siêu, Phan
Bội Châu, Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng Các tác phẩm được dùng làm
sách giáo khoa, sách dùng cho người dạy, sách đọc ở nhà Trong đó có “Phong hóa
điều hành”, “Cờ bạc nha phiến”, “Huấn nữ ca” (dịch), “Gia huấn ca” (dịch) của
Trương Vĩnh Ký; “Khổng học đăng” của Phan Bội Châu; “Đạo đức và luân lý” của
Phan Chu Trinh. [37].
Phan bội Châu, trong tác phẩm “Khổng học đăng”, với quan điểm tiến bộ đã
đúc kết những tinh hoa của Khổng học, chắt lọc tính nhân bản sâu sắc, phát huy
15
những phẩm chất cao cả của con người nhằm phục vụ bản thân và xã hội. Nhân,
nghĩa, lễ, trí,
tín,

dũng,
liêm là những đức tính cần phải được mọi người trau dồi,
học tập, nhất là thế hệ thanh niên.
Phan Chu Trinh, với “Đạo đức và luân lý” (Bài nói chuyện sau in thành sách
năm 1927) đã đề cao sức mạnh đạo đức, nhân cách, bản lĩnh con người. Theo ông,
một dân tộc muốn đứng lên không bị người ta chèn ép thì phải có một nền đạo đức
vững chặt, đó là cái tính chất của dân tộc đã trải qua hàng ngàn năm lịch sử [37].
Như vậy, mặc dù dựa trên các quan điểm tiếp cận khác nhau, từ các nhà lãnh
đạo đến các học giả, các sĩ phu yêu nước, những nhà nghiên cứu đều rất coi trọng
việc giáo dục đạo đức cho thế hệ trẻ.
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người đặc biệt quan tâm đến đạo đức và giáo dục
đạo đức cho cán bộ và học sinh. Bác cho rằng đạo đức cách mạng là gốc, là nền
tảng của người cách mạng. Quan điểm lấy đức làm gốc của Hồ Chí Minh không có
nghĩa là tuyệt đối hoá mặt đạo đức mà coi nhẹ mặt tài năng. Đức là gốc , nhưng đức
và tài phải kết hợp , phẩm chất và năng lực phải đi đôi , không thể có mặt này mà

và đạo đức, trí lực và thể lực, gắn học với hành”. [35]
Rõ ràng với tư tưởng này, Đảng và Nhà nước ta đã đặt con người vào vị trí
trung tâm của chiến lược phát triển kinh tế xã hội.Thấm nhuần quan điểm này, nhà
trường chúng ta đã coi nhiệm vụ giáo
dục

đạo
đức cho học sinh trở thành một trong
những nhiện vụ trọng tâm. Lý tưởng giáo dục của nhà
trường

không
ngoài mục đích
hình thành và phát triển nhân cách cao đẹp cho học sinh. Đó là con đường tham gia
tích cực vào sự tiến bộ của xã hội.
Trong những năm gần đây, nhiều giáo trình đạo đức được biên soạn khá công
phu.Tiêu biểu như giáo trình của Trần Hậu Kiêm; giáo trình đạo đức học, GS-TS
Nguyễn Ngọc Long- chủ biên, Phạm Khắc Chương- Hà Nhật Thăng; Giáo trình đạo
đức học Mác-Lê nin, PGS-TS Vũ Trọng Dung chủ biên.
Vấn đề giáo dục đạo đức cũng được rất nhiều tác giả nghiên cứu:
-Thứ trưởng Võ Thuần Nho viết bài “ Một số vấn đề lý luận và tư tưởng về
giáo dục đạo đức cách mạng trong trường học”. Báo nghiên cứu giáo dục số 6/1980;
-Đặc trưng của đạo đức và phương pháp giáo dục đạo đức ( Hoàng An-1982);
-Giáo dục đạo đức trong nhà trường (Hà Thế Ngữ-Đặng Vũ Hoạt,1988);
-Tác giả Đặng Vũ Hoạt với bài “Đổi mới công tác của giáo viên chủ nhiệm với
việc giáo dục đạo đức cho học sinh”. Tạp chí nghiên cứu giáo dục số 8/1992;
-Tìm hiểu định hướng giá trị của thanh niên Việt Nam trong điều kiện kinh tế
thị trường (Thái Duy Tuyên, chủ biên,1994);
-Các nhiệm vụ giáo dục đạo đức ( Nguyễn Sinh Huy, 1995);
-Giáo dục giá trị truyền thống cho học sinh, sinh viên (Phạm Minh Hạc-1997 );

đến một số đề tài như:
-Từ Thanh Nguyên với đề tài luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quản lý và tổ
chức văn
hoá-g
i
áo

dục
“Những biện pháp quản lý hoạt động giáo dục đạo đức cho
học sinh của Hiệu trưởng các trường Cao đẳng Công nghệ và Kinh tế Công nghiệp
tỉnh Trà Vinh”, năm 2003;
-Nguyễn Thị Đáp với đề tài luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Quản lý và tổ chức
văn hoá-giáo dục “ Thực trạng việc quản lý giáo dục đạo đức cho học sinh Cao
đẳng Công nghệ và Kinh tế Công nghiệp huyện Long Thành và một số giải
pháp”,
năm
2004;
18
-Nguyễn Văn Trung với đề tài luận văn Thạc sĩ khoa học giáo dục: “Công tác
quản lý của Hiệu trưởng trong việc tổ chức giáo dục đạo đức cho học sinh ở các
trường Cao đẳng Công nghệ và Kinh tế Công nghiệp huyện Châu Thành, Đồng
Tháp” , năm 2006;
-Lê Quang Tuấn với đề tài luận văn Thạc sĩ khoa học giáo dục : “Một số giải
pháp công tác
quản


giáo dục đạo đức cho học sinh ở các trường Cao đẳng
Công nghệ và Kinh tế Công nghiệp huyện Cẩm Xuyên-Hà Tĩnh”, năm 2008.


chí

công
vô tư, không kiêu ngạo, không giấu
dốt. Ở người, đạo đức đóng vai trò như lẽ sống thấm sâu vào tư tưởng và chỉ đạo
hành động, lối sống [4].
Theo hai tác giả Hà Thế Ngữ- Đặng Vũ Hoạt thì đạo đức là một lĩnh vực của ý
thức xã hội, là một mặt hoạt động xã hội của con người và là một hình thái chuyên
biệt của quan hệ xã hội, thực hiện chức năng xã hội hết sức quan trọng là điều chỉnh
hành vi con người trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Đạo đức nảy sinh từ nhu
cầu của xã hội điều hoà và thống nhất các mâu thuẫn giữa lợi ích chung (của tập
thể ,của xã hội) và lợi ích riêng (của cá nhân) nhằm bảo đảm trật tự xã hội và khả
năng phát triển xã hội và


nhân.
Để giải quyết các mâu thuẫn đó, một trong những
phương thức của xã hội là đề ra các yêu cầu dưới dạng những chuẩn mực giá trị,
được mọi người công nhận và được củng cố bằng sức mạnh của phong tục, tập
quán, dư luận , lương tâm…[29].
Từ những quan niệm trên ,chúng ta có thể hiểu khái quát khái niệm đạo đức ở
hai góc độ:
-Góc độ xã hội: Đạo đức là những hình thái ý thức xã hội được phản ánh dưới
dạng những nguyên tắc, yêu cầu,chuẩn mực, qui tắc điều chỉnh hành vi của con
người trong các mối quan hệ giữa con người với tự nhiên, xã hội, lao động và con
người với chính bản thân mình.
-Góc độ cá nhân: Đạo đức chính là những phẩm chất nhân cách của con người,
phản ánh ý thức, tình cảm, ý chí , hành vi, thói quen và cách ứng xử của họ trong
20
các mối quan hệ giữa con người với xã hội, giữa bản thân với người khác và với

kiện
nào, mọi hình thái ý thức hoạt động và
giao lưu nếu được ý thức đầy đủ và định hướng rõ rệt về tính chất và nội dung của
quan hệ đạo đức đều có khả năng ảnh hưởng đến sự hình thành mặt đạo đức của
nhân cách.
Chính vì vậy, trong xu thế hội nhập quốc tế và khu vực hiện nay, với nền kinh
tế mở cửa, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định
hướng XHCN, đạo đức cũng có những thay đổi nhất định về tư duy nhận thức, về
quan niệm và cách nhìn của từng thành viên trong xã hội.
Nhiều

ngườ
i đã có những
quan niệm lệch lạc, không biết chọn lọc những giá trị tốt đẹp của những chuẩn mực
21
đạo đức xã hội mà học đòi , lai căng. Do vậy, định hướng giá trị đạo đức hiện nay
phải theo đúng đường lối lãnh đạo của Đảng là sự kế thừa những truyền thống tốt
đẹp của dân tộc với sự tiếp thu những tinh hoa văn hoá của các dân tộc trên thế giới.
1.2.2. Giáo dục:
Con người từ khi xuất hiện, qua quá trình lao động, cải tạo tự nhiên đã phát
hiện và nhận thức được các qui luật phát sinh, tồn tại và phát triển của thế giới
khách quan và cũng qua quá trình này con người đã tích luỹ được kinh nghiệm
sống, lao động và những hiểu biết của quá trình phát triển của xã hội.Những tri thức
và kinh nghiệm của thế hệ đi trước tích luỹ được thế hệ sau lĩnh hội, kế thừa có
chọc lọc và phát triển. Đây là hiện tượng đặc thù chỉ xuất hiện ở xã hội loài người-
hiện tượng giáo dục. Hiện tượng này xuất hiện, tồn tại và phát triển cùng với sự tồn
tại và phát triển của xã hội loài người, là hiện tượng tất yếu và vĩnh hằng.
Giáo dục có đặc trưng là tổ chức định hướng theo những mục đích và chuẩn
mực nhất định, được lựa chọn nội dung, phương pháp , hình thức tổ chức và diễn ra
mang dấu ấn của từng thời kì lịch sử nhất định trong quá trình phát triển của từng xã

-Chức năng văn hoá tư tưởng
-Chức năng kinh tế- sản xuất
- Chức năng chính trị- xã hội.
*Các con đường giáo dục:
-Giáo dục thực hiện qua các giờ dạy chính khoá trên lớp.
-Giáo dục qua các hoạt động ngoài giờ lên lớp.
1.2.3. Giáo dục đạo đức:
Giáo dục đạo đức trong nhà trường là một quá trình giáo dục bộ phận của quá
trình sư phạm tổng thể. Nó có quan hệ biện chứng với các quá trình giáo dục bộ
phận khác như : giáo dục trí tuệ, giáo dục thẩm mỹ, giáo dục thể chất, giáo dục lao
động, giáo dục hướng nghiệp…
Giáo dục đạo đức cho học sinh là quá trình hình thành và phát triển các phẩm
chất đạo đức của nhân cách học sinh dưới những tác động và ảnh hưởng có mục
đích được tổ chức có kế hoạch , có
sự

lựa
chọn về nội dung, phương pháp và hình
thức giáo dục phù hợp với lứa tuổi và với vai trò chủ đạo của nhà giáo dục.Từ đó,
giúp học sinh có những hành vi ứng xử đúng mực trong các mối quan hệ giữa cá
nhân với cá nhân, với cộng đồng - xã hội, với lao động, với tự nhiên…Nội dung
phẩm chất đạo đức, tư tưởng của con người bao gồm lập trường chính trị, thế giới
quan và phẩm chất đạo đức. Do đó giáo dục đạo đức mà ta nói đến bao gồm giáo
23
dục thế giới quan, nhân sinh quan , giáo dục tư tưởng chính trị và giáo dục các
phẩm chất đạo đức cao đẹp của con người mới cho học sinh. Như vậy, giáo dục đạo
đức có mối quan hệ chặt chẽ với giáo dục chính trị , tư tưởng và giáo dục pháp luật.
Đó một quá trình lâu dài, liên tục về thời gian, rộng khắp về không gian, từ mọi lực
lượng xã hội; trong đó, nhà trường giữ vai trò rất quan trọng.
Bản chất của giáo dục đạo đức là chuỗi tác động có định hướng của chủ thể

24
Quản lý là khái niệm được xem xét theo hai gốc độ:
-Theo góc độ chính trị -xã hội: quản lý được hiểu là sự kết hợp giữa tri thức
với lao động. Vận hành sự kết hợp này cần có một cơ chế quản lý phù hợp. Cơ chế
đúng, hợp lý thì xã hội phát triển, ngược lại thì xã hội phát triển chậm hoặc rối ren.
-Theo góc độ hành động: quản lý được hiểu là chỉ huy, điều khiển , điều hành.
Theo C. Mác,quản lý là chức năng được sinh ra từ tính chất xã hội hóa lao
động, nó có
tầm

quan
trọng đặc biệt vì mọi sự phát triển của xã hội đều thông qua
hoạt động của con người và thông qua quản lý .C. Mác đã khẳng định: “Tất cả mọi
lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối
lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá
nhân

thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ chế
sản xuất Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc
thì cần phải có nhạc trưởng”. [42]
Từ những cơ sở lý luận trên, ta có thể đi đến định nghĩa như sau:
“Quản lý là tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm
chỉ huy, điều hành hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi của cá nhân hướng
đến mục đích hoạt động chung và phù hợp với qui luật khách quan”. [42]
Với định nghĩa trên, quản lý bao gồm các yếu tố sau:
-Chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động và đối tượng bị quản lý tiếp
nhận trực tiếp các tác động của chủ thể quản lý ,các khách thể khác chịu các tác
động gián tiếp từ chủ thể quản lý. Tác động có thể liên tục nhiều lần.
-Muốn quản lý thành công, trước tiên cần phải xác định rõ chủ thể, đối tượng
và khách thể quản lý. Điều này đòi hỏi phải biết định hướng đúng.

đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh” [18].
“Quản lý giáo dục thực chất là tác động một cách khoa học đến nhà trường
làm cho nó tổ chức được tối ưu quá trình dạy học, giáo dục thể chất, theo đường lối
và nguyên lý giáo dục của Đảng, quán triệt được những tính chất Trường Cao
đẳng Công nghệ và Kinh tế Công nghiệpxã hội chủ nghĩa Việt Nam, bằng cách đó
tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái chất lượng mới” [ 19 ].
Qua các khái niệm nêu trên, chúng ta có thể khái quát như sau: Quản lý giáo
dục là hệ thống những tác động có kế hoạch và hướng đích của chủ thể quản lý ở
các cấp khác nhau đến tất cả các khâu, các bộ phận của hệ thống nhằm đảm bảo cho
các cơ quan trong hệ thống giáo dục vận hành tối ưu, đảm
bảo

sự
phát triển mở rộng
về cả mặt số lượng cũng như chất lượng để đạt mục tiêu giáo dục.
Hệ thống giáo dục là hệ thống mở, luôn vận động và phát triển theo quy luật
chung của sự phát triển kinh tế - xã hội và chịu sự quy định của kinh tế - xã hội. Vì
vậy quản lý giáo dục cũng phải
luôn

được
đổi mới, đảm bảo tính năng động, khả

Trích đoạn Việc kiểm tra đánh giá, rút kinh nghiệm và khen thưởng: Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém. Nguyên tắc xây dựng các giải pháp. Cách tiến hành giải pháp. Xây dựng môi trường sư phạm lành mạnh trong nhà trường 1 Mục tiêu của giải pháp.
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status