262 Tính độc lập của kiểm toán viên - Pdf 22

Phần I

Lời mở đầu
Cùng với sự phát triển kinh tế- xã hội, nhiều loại hình dịch vụ mới ra đời.
Nguyên nhân của những sự ra đời đó thì rất đa dạng, nhng tựu chung lại chúng
đều nhằm giải quyết những vấn đề mới nảy sinh trong xã hội, phục vụ cho cuộc
sống với chất lợng ngày càng cao của loài ngời .
Tất nhiên kiểm toán ra đời cũng là để nhằm thực hiện mục đích đó.Thực tế
chỉ ra rằng, một ngành mới dù là thuộc lĩnh vực nào, loại hình hoạt động gì thì
cũng phải tuân theo những nguyên tắc cơ bản . Kiểm toán cũng hoạt động dựa
trên những nguyên tắc cơ bản của riêng nó, trong đó tính độc lập là nguyên tắc
đầu tiên mà chúng ta phải kể đến.
Nhận thức đợc vai trò quan trọng của nguyên tắc này , cũng nh nhận đợc sự
giúp đỡ của các thầy cô, em quyết định chọn đề tài Tình độc lập của kiểm
toán viên cho đề án môn học của mình. Điều đó không chỉ có ý nghĩa củng cố
kiến thức mà em đợc học và nghiên cứu tại mái trờng đại học mà còn với hy
vọng góp phần thiết thực cho công việc sau này của bản thân. Bài viết của em cơ
bản đợc chia thành những phần chính sau:
I . Lý luận chung về tính độc lập của kiểm toán viên
II. Những nhân tố hạn chế tính độc lập của kiểm toán viên
III. Nhng quy định về sự độc lập của kiểm toán viên tại Việt Nam
IV. Một số giải pháp nâng cao tính độc lập của kiểm toán viên
Em xin chân thành cảm ơn thầy giáo Nguyễn Quang Quynh đã tận tình giúp đỡ
em hoàn thành đề án này.
1
Phần hai
Nội dung
I. Lý luận chung về tính độc lập của kiểm toán viên
1.Các quan điểm khác nhau về tính độc lập của kiểm toán
viên
Nhìn chung thì khái niệm độc lập đợc hiểu là sự khách quan, không bị phụ

của một doanh nghiệp. Nh chúng ta đã biết kiểm toàn cần làm tăng mức độ tin
cậy của báo cáo tài chính. Mục tiêu này sẽ không thể thực hiện đợc nếu ngời sử
dụng báo cáo kiểm toán cho rằng vẫn còn những mối liên hệ giữa đơn vị đợc
kiểm toán với công ty kiểm toán hoặc với kiểm toán viên. Kiểm toán viên có thể
dợc xem là độc lập nếu ngời đó giải quyết mâu thuẫn này một cách thành thực,
không lẩn chốn trách nhiệm của mình trớc những ngời sử dụng báo cáo kiểm
toán. Điều này có thể đòi hỏi ban giám đốc của khách hàng thay đổi cách nhìn
nhận về một vấn đề kế toán hay là kiên quyết công bố báo cáo kiểm toán biểu lộ
thái độ dè dặt về những con số hay những t liệu mà giám đốc của khách hàng đã
phát hành trớc đó. Nếu không thì các giám đốc của khách hàng sẽ có những
biện pháp trả thù. Trong trờng hợp kiểm toán viên cố tình đa ra những ý kiến
không trung thực thì kiểm toán viên đó sẽ có thể bị trừng phạt về thái độ đó.
Theo chuẩn mực kiểm toán Việt Nam.
Tuy rằng ở các nớc khác nhau thì quan điểm về tính độc lập cũng có những
nét đặc thù riêng, nhng tựu chung lại chúng vẫn tuân theo những ý nghĩa cơ bản.
Tổng hợp những quan điểm trên, áp dụng vào tình hình Việt Nam , trong chuẩn
mực kiểm toán Việt Nam, chúng ta đã đa ra cách hiểu về tính độc lập của kiểm
toán viên nh sau: Độc lập là nguyên tắc cơ bản của nghề kiểm toán , và trong
quá trình hành nghề kiểm toán , kiểm toán viên phải thực sự không bị chi
phốihoặc tác động bởi bất kỳ lợi ích vật chất hoặc tinh thần nào.Chuẩn mực này
cũng đồng thời khẳng định , kiểm toán viên không đợc nhận làm kiểm toán cho
đơn vị mà mình có quan hệ kinh tế hoặc có quyền lợi kinh tế nh góp vốn cổ
phần , cho vay , hoặc vay vốn từ khách hàng, hoặc là cổ đông chi phối của
khách hàng ; kiểm toán viên không đ ợc nhận làm kiểm toán cho những công
3
ty khách hàng mà mình có quan hệ nhân thân; kiểm toán viên không đợc cung
cấp dịch vụ kiểm toán cho đơn vị khách hàng mà mình cung cấp các dịch vụ t
vấn khác..
2. Độc lập trong các giai đoạn kiểm toán
2.1. Độc lập trong giai đoạn lên chơng trình kiểm toán.

công việc kiểm toán cần đợc thực hiện với sự hợp tác đầy đủ của ban lãnh đạo cũng
nh cán bộ cong nhân viên của công ty đó. Nếu kiểm toán viên cho rằng họ gặp khó
khăn trong quá trình thu thập bằng chứng kiểm toán mà họ cần, thì công việc kiểm
toán có thể trở nên tốn kém hơn rất nhiều. Tuy nhiên, điều này cũng có thể gây ra
những ấn tợng xấu cho những ngời quan tâm, do vậy điều này sẽ làm cho uy tín của
các giám đốc không còn đợc tốt nữa.
2.3. Độc lập trong giai đoạn lập báo cáo kiểm toán
Thể hiện: kiểm toán viên phải khách quan , trung thực trong việc nêu ý kiến
trên cơ sở kết quả công việc kiểm toán mà mình đã thực hiện.
Nhân tố ảnh hởng: Nếu các giám đốc đã muốn lừa dối những ngời quan tâm
bằng cách công bố những thông tin sai lệch hay không đầy đủ, thì chắc chắn họ sẽ
không, muốn để cho các kiểm toán viên công khai ra điều đó.Đó là lúc mà sự độc
lập của kiểm toán viên trở nên quan trọng hơn bao giờ hết. Phần lớn những bất
đồng đều bắt đầu từ những ý kiến, quyết định chủ quan, nh cách giải quyết một tiêu
chuẩn kế toán hay là một con số ớc tính, nh khoản dự phòng cho những khoản khó
đòi. Nếu kiểm toán viên cứ khăng khăng không nhất chí với khách hàng thì điều đó
cũng không đảm bảo rằng kiểm toán viên sẽ nhận đợc sự ủng hộ của nhng quan
tâm khác, nh là các cổ đông trong công ty khi họ có nhng quan điểm chung với
giám đốc vì một mục tiêu nào đó. Kiểm toán viên thờng hay bị cám dỗ theo con đ-
ơng it bị chống đối một cách đơn giản là ngả theo ý kiến ban quản trị khách hàng
trong tất cả những mâu thuẫn, ngoại trừ những bất đồng cơ bản nhất. Làm nh vậy là
kiểm toán viên tránh đợc sự trừng phạt có thể bị đe doạ bởi ban quan trị doanh
nghiệp. Tuy nhiên, lại có nguy cơ sẽ bị chừng phạt nghiêm khắc hơn nếu nh bị phát
hiện, thế nhng điều đó cha chắc sẽ xẩy ra. Dĩ nhiên, việc làm này sẽ gây ra những
5
sai lầm cho ngời sử dụng báo cáo tài chính đã đợc kiểm toán vì khi đó báo cáo
kiểm toán sẽ đợc trình bày một cách mơ hồ, khó hiểu.Trong trờng hợp nh vậy việc
tiến hạnh kiểm toán sẽ bị giảm thiểu ý nghĩa vốn có của nó.
II. Những hạn chế với dự độc lập.
Trong thực tế , kiểm toán viên thờng phát sinh những mâu thuẫn với ban

cho ban giám đốc đơn vị khách hàng thì có nguy cơ kiểm toán viên đó sẽ bị mất kế
sinh nhai, và thị phần dành cho công ty họ đơng nhiên bị thu hẹp.Tất nhiên,là rất
khó khăn để có thể đo lờng mức độ bất đồng giữa ban giám đốc doanh nghiệp với
kiểm toán viên cũng nh ảnh hởng của những mâu thuẫn đó. Tuy nhiên có một
nghiên cứu gần đây cho rằng khi kiểm toán viên tỏ ra nghi ngờ về những con số mà
ban giám đốc doanh nghiệp cung cấp thì họ có khả năng bị thay thế nhiều hơn.
Kiểm toán viên sẽ chỉ thực sự độc lập nếu họ đợc bảo vệ không bị ảnh hơng
hay những chi phối về mằt kinh tế đại loại nh bị cắt hợp đồng một cách vô lý. Tuy
nhiên chúng ta cũng không nên cố gắng đảm bảo cho kiểm toán viên một vị trí
vững chắc trong công ty khách hàng vì nh vậy sẽ góp phần làm ảnh hởng đến hiệu
quả kiểm toán với chi phí hợp lý.Phải làm cách nào đó , sao cho việc lựa chọn công
ty kiểm toán phải đợc thực hiểu một cách dân chủ , khách quan. Ví dụ nh đối với
công ty cổ phần thì doanh nghiệp đó nên để quyền đó cho cổ đông quyết định. Tuy
nhiên , trong bất kỳ trờng hợp nào thì ban gám đốc doanh nghiệp cũng vẫn có
những ảnh hởng đáng kể với việc lựa chọn công ty cung cấp dịch vụ kiểm toán , bởi
ít nhât thì họ cũng là những thành viên quan trọng của doanh nghiệp , là ngời có
quyền ra những quyết định quan trọng.
1.2.Thông qua việc cung cầp dịch vụ t vấn
Phí kiểm toán nói riêng hay là mối quan hệ kinh tế nói chung không phải là
nguyên nhân duy nhất tạo ra sự phụ thuộc của kiểm toán viên vào công ty khách
hàng. Công ty kiểm toán đều có một khoản thu nhập ngày càng tăng từ việc cung
ứng các dịch vụ trong tổng thu nhập của mình. ở Việt Nam tình hình phổ biến hiện
nay là rất nhiều công ty kiểm toán cung cấp các dịch vụ t vấn thuế cũng nh làm
quản lý trong các mảng kinh doanh khác nhau hay là cung cấp dịch vụ t vấn nhân
sự. Nếu nh phí kiểm toán phải đợc nghi và giải thích rõ ràng thì khoản thu nhập từ
các dịch vụ này rất it khi đợc công bố. Đồng thời ban quản trị của đơn vị khách
hàng cũng có quyền khen thởng trong những trờng hợp nhất định mà không cần
7
thông qua toàn bộ doanh nghiệp. Điều này có nghĩa là kiểm toán viên , công ty
kiểm toán có thể bị phụ thuộc hoàn toàn vào thiện chí của đơn vị khách hàng đối

nhất chí với chính sách kế toán mà khách hàng áp dụng hay không. Nếu họ bất
đồng thì ngời đó có nguy cơ bị thay thế.
Trong trờng hợp kiểm toán viên hiểu sai vấn đề thì rất có thể công ty khách
hàng thờng hay sử dụng một biện pháp là họ yêu cầu một công ty kiểm toán khách
hàngác cho ý kiến về vấn đề đó. Dĩ nhiên, sẽ khó khăn hơn cho kiểm toán viên này
trong trờng hợp muốn giữ vừng lập trờng của mình, nếu đơn vị kia ủng hộ ý kiến ,
lập luận của khách hàng. Điều này gây ra một xu hớng là công ty thờng hay có một
thiện cảm nhất định với bên thứ ba và họ sẽ dành sự đãi ngộ đặc biệt cho đơn vị kia
cơ hội thực hiện hợp đồng kiểm toán năm tiềp theo. Điều này làm phát sinh ra
nhiều vấn đề mà chúng ta cần phải giải quyết , đó là phải làm thế nào để tăng cờng
sự độc lập của kiểm toán viên trong những trờng hợp nh thế này.Một số nớc đã phải
ban hành những chuẩn mực cụ thể cho trờng hợp tơng tự nhằm mục đich điều chỉnh
, hớng tới hoàn thiện tính độc lập của kiểm toán viên.
III. Những quy đinh về sự độc lập ở Việt Nam
Thực tế đã chỉ ra rằng, tại các nớc khác nhau thì sự độc lập của kiểm toán
viên cũng bị điều chỉnh riêng theo những cách khác nhau tuy vẫn nằm trong một
khung chung của quốc tế . Điều này cũng là hệ quả của xu hơng hội nhập kinh tế
khu vực , toàn cầu đang diễn ra rất mạnh mẽ. Việt Nam cũng không là một ngoại lệ
, Việt Nam cũng xây dựng cho mình những văn bản quy phạm pháp luật đa dạng
nhằm điều chỉnh hoạt động kế toán , kiểm toán nói chung và tính độc lập của kiểm
toán viên nói riềng. Những quy định nà không bao giờ hàm ý sự phủ nhận các quy
định mang tính chất quôc tế , mà chúng đợc xây dựng nhằm để hội nhập kiểm toán
Việt Nam với khu vực và thế giới, đồng thời lại phải tn thủ những nét đặc thù của
Việt Nam trên các khĩa cạnh kinh tế , chính trị , xã hội, văn hoá ...
1. Những quy định về việc chỉ định đơn vị kiểm toán
Việc chỉ định đơn vị kiểm toán là rất quan trọng và ảnh hởng không nhỏ tới
tính độc lập của kiểm toán viên. Điều này ảnh hởng tớitính độc lập của kiểm toán
viên theo khía cạnh sau: Nếu ngời đợc giao quyền chỉ định kiểm toán của công ty
9


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status