Lời nói đầu
Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, nền kinh tế đất nớc ta đã và đang
chuyển dần từ kinh tế có kế hoạch sang nền kinh tế hàng hoá vận động theo cơ
chế thị trờng theo định hớng xã hội chủ nghĩa có sự quản lý của Nhà nớc. Công
cuộc đổi mới do Đảng Cộng sản Việt nam lãnh đạo đã tạo điều kiện và cơ hội
thuận lợi cho nhiều nghành nghề phát triển, song cũng phát sinh những vấn đề
mới đặt ra cho nền kinh tế cũng nh các nghành, các cấp những yêu cầu và thách
thức đòi hỏi phải có chuyển biến tích cực và mạnh mẽ để đáp ứng nhu cầu và
đảm bảo nền kinh tế phát triển nhanh bền vững và đúng hớng.
Đối với các doanh nghiệp, cơ chế thị trờng mở cửa đã tạo điều kiện nhất định
thúc đẩy sự phát triển của sức sản xuất, phát huy năng lực và tính chủ động của
doanh nghiệp. Doanh nghiệp đợc chủ động trong việc xây dựng kế hoạch sản
xuất, tự trang trải, tự bù đắp chi phí, tự tiêu thụ sản phẩm và chịu trách nhiệm về
kết quả hoạt động của chính mình.
Các điều kiện hoạt động nêu trên vừa là thuận lợi nhng cũng vừa là thách
thức, đòi hỏi mỗi doanh nghiệp phải có hớng đi đúng đắn để tồn tại trong điều
kiện của nền kinh tế thị trờng. Đối với doanh nghiệp sản xuất, vấn đề sống còn là
phải sản xuất và bán đợc sản phẩm để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của xã hội và
để bù đắp chi phí sản xuất thu hồi vốn và lãi nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt
động sản xuất kinh doanh. Muốn đạt đợc mục tiêu này, trớc hết doanh nghiệp
cần xác định rõ sản xuất cái gì? cho ai? Sản xuất nh thế nào? giá bán ra làm sao
và tiêu thụ ở đâu? hay nói cách khác là tìm thị trờng tiêu thụ cho sản phẩm đó.
Doanh nghiệp trả lời đợc các câu hỏi nêu trên chỉ trên cơ sở thực hiện hiệu
quả công tác tiêu thụ đảm bảo cho sản phẩm đợc lu thông, góp phần tạo ra sự
cân đối nghành và thẩm định gia vào sự phát triển chung của nền kinh tế. Nh vậy
tiêu thụ là khâu then chốt trong hoạt động sản xuất kinh doanh, có tính chất
quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Đứng trớc tình hình
kinh tế hiện tại, cũng nh các đơn vị sản xuất kinh doanh khác, Xí nghiệp Gỗ Hà
Nội với mục đích nhằm tăng cờng mức tiêu thụ hàng hoá luôn chú trọng đến
công tác quản lý, công tác kế toán, đặc biệt là kế toán tiêu thụ thành phẩm và
xác định kết quả sản xuất kinh doanh.
Bán hàng hay tiêu thụ sản phẩm là quá trình trao đổi để thực hiện giá trị của
hàng (thành phẩm), tức là chuyển hoá vốn của doanh nghiệp từ hình thái hiện vật
(hàng) sang hình thái giá trị (tiền).
Thông qua quá trình tiêu thụ, nhu cầu của ngời tiêu dùng về một giá trị sử
dụng nhất định đợc thoả mãn và giá trị hàng hoá đợc thực hiện.
Xét theo góc độ kinh tế, tiêu thụ là quá trình chuyển giao hàng hoá, lao vụ,
dịch vụ cho khách hàng và nhận về một lợng giá trị tơng tơng. Nếu theo nghĩa đó
thì quá trình tiêu thụ có thể chia ra làm 2 giai đoạn:
*Giai đoạn 1: Đơn vị bán căn cứ vào hợp đồng kinh tế đã ký kết để xuất
giao thành phẩm hàng hoá cho đơn vị mua. Về phơng diện pháp lý thành phẩm
gửi bán vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp, chỉ khi nào đơn vị mua đồng
ý trả tiền hoặc xác nhận trả tiền về số thành phẩm gửi đi thì số thành phẩm đó
3 Kế toán A
mới đợc coi là tiêu thụ và nó thuộc quyền sở hữu của đơn vị mua, khi đó kết thúc
giai đoạn 2.
*Giai đoạn 2: đơn vị mua trả tiền hoặc chấp nhận trả tiền.Đây là giai đoạn
doanh nghiệp đã tiêu thụ thành phẩm và đã thu tiền (hoặc sẽ thu đợc tiền). Kết
thúc giai đoạn này cũng là lúc hoàn tất quá trình tiêu thụ.
2. Đặc điểm
- Tiêu thụ là cầu nối giữa khâu sản xuất và khâu tiêu dùng.
- Tiêu thụ góp phần tăng cờng vòng quay vốn kinh doanh, đẩy mạnh thu
hồivốn và lãi; thực hiện đợc doanh lợi để bù đắp chi phí và tạo lãi kinh doanh.
3. Vai trò của công tác tiêu thụ thành phẩm trong các doanh nghiệp sản
xuất.
Sản xuất ra của cải vật chất là cơ sở để tồn tại của xã hội loài ngời, đáp ứng
nhu cầu tiêu dùng của toàn xã hội và dân c. Theo quy luật tái sản xuất quá trình
sản xuất bao gồm : Sản xuất - trao đổi - phân phối - tiêu dùng, các giai đoạn này
diễn ra tuần tự. Tiêu thụ khâu cuối cùng trong chu kỳ tái sản xuất. Sau khi kết
thúc quá trình sản xuất sản phẩm đợc đa đến tay ngời tiêu dùng thông qua công
tác tiêu thụ mang sản phẩm ra thị trờng để bán tức là thực hiện giá trị và giá trị
Để tính giá thành thực tế thành phẩm xuất kho, có thể sử dụng một trong các
phơng pháp hạch toán nh: phơng pháp giá đơn vị bình quân, Phơng pháp nhập tr-
ớc xuất trớc, phơng pháp nhập sau xuất trớc,
Tuy nhiên, do việc tính giá thành thực tế của thành phẩm nhập kho thờng thực
hiện vào cuối kỳ hạch toán (cuối tháng, cuối quý, ), nên để theo dõi chi tiết
tình hình biến động thành phẩm trong kỳ, kế toán có thể sử dụng giá hạch toán.
Giá hạch toán thành phẩm có thể là giá thành kế hạch hoặc giá nhập kho thống
nhất quy định. Cuối tháng, sau khi tính đợc giá thành thực tế thành phẩm nhập
kho, kế toán tiến hành điều chỉnh giá hạch toán theo giá thực tế. Đồng thời, xác
định giá thành thực tế thành phẩm xuất bán trong kỳvà tồn kho cuối kỳ theo
công thức sau:
5 Kế toán A
Giá thực tế thành phẩm Giá hạch toán thành phẩm Hệ số giá
Xuất bán trong kho = xuất bán trong kỳ x thành
(hoặc tồn kho cuối kỳ) (hoặc tồn kho cuối kỳ) phẩm
Trong đó:
Nh vậy, khi dùng phơng pháp giá hạch toán, việc hạch toán chi tiết thành
phẩm trên các chứng từ nhập, xuất, các sổ (thẻ ) kế toán chi tiết thành phẩm đợc
ghi theo giá hạch toán; còn việc hạch toán tổng hợp thành phẩm nhất thiết phải
ghi theo giá thực tế. Kế toán chi tiết thành phẩm đợc mở theo từng kho, từng loại
, từng nhóm và từng thứ thành phẩm.
b. Hạch toán tiêu thụ theo phơng pháp kê khai thờng xuyên ở các doanh
nghiệp tính thuế GTGT bằng phơng pháp khấu trừ.
Có nhiều phơng thức tiêu thụ khác nhau đợc tiến hành trên thị trờng. Tuỳ
theo đặc điểm sản phẩm, khách hàng, theo sự linh hoạt trong tổ chức công tác
tiêu thụ mà mỗi đơn vị lựa chọn một hoặc một vài phơng thức tiêu thụ để áp
dụng cho phù hợp với đặc điểm tiêu thụ của doanh nghiệp trong số các phơng
thức tiêu thụ sản phẩm sau:
- Hạch toán tiêu thụ theo phơng thức trực tiếp.
- Bên B : Đơn vị nhận làm đại lý.
Tại bên A khi xuất kho thành phẩm cha đợc coi là tiêu thụ, số thành phẩm này
vẫn đợc theo dõi nh hàng gửi bán. Khi bên đại lý báo bán đợc hàng tức là thành
phẩm đợc tiêu thụ thì lúc này mới phản ánh giá vốn và doanh thu.
Ngay khi xác định là hàng đã bán doanh nghiệp phải trích một phần doanh số
cho bên nhận đại lý theo phần trăm thoả thuận gọi là hoa hồng bán hàng.
Khi xuất kho doanh nghiệp lập phiếu Phiếu xuất kho kiêm vận chuyển nội
bộ làm cơ sở thanh toán và lập 3 liên : liên 1 lu, liên 2 giao khách hàng, liên
3 thủ kho giữ và sau đó chuyển lên phòng kế toán.
Bên B thực chất là bên bán thuê, số tiền nhận đợc coi là doanh thu. Số hàng
nhận bán đại lý đợc coi là giữ hộ, bán hộ. Doanh thu của bên B có thể xác định
ngay thời điểm tiêu thụ hoặc khi thanh toán với bên A, điều này đợc thoả thuận
trong hợp đồng đại lý.
Phơng thức bán hàng trả góp.
7 Kế toán A
Đây là phơng thức bán hàng thu tiền nhiều lần. Số tiền thu đợc của khách
hàng bao gồm doanh thu gốc ( giá bán) và phần lãi xuất trả chậm. Phơng thức
này đợc áp dụng khá phổ biến nhằm phục vụ và đáp ứng kịp thời nhu cầu của
ngời tiêu dùng ngay cả khi họ không đủ tiền thanh toán tại thời điểm mua hàng.
c. Hạch toán tiêu thụ theo phơng pháp kê khai thờng xuyên ở các doanh
nghiệp tính thuế GTGT trực tiếp hoặc đối với các đối tợng không chịu VAT
Trong những doanh nghiệp tính VAT theo phơng pháp trực tiếp hoặc đối với
các đối tợng không chịu VAT, việc hạch toán giá vốn hàng tiêu thụ cũng tơng tự
nh doanh nghiệp tính VAT theo phơng pháp khấu trừ nhng chỉ khác: giá thực tế
vật t xuất dùng cho sản xuất kinh doanh bao gồm cả VAT đầu vào. Đối với bán
hàng, doanh thu bán hàng bao gồm cả thuế VAT(hoặc thuế tiêu thụ đặc biệt hay
thuế xuất khẩu) phải nộp, còn hàng bán bị trả lại và giảm giá hàng bán cũng bao
gồm cả thuế tiêu thụ trong đó.
Số VAT cuối kỳ phải nộp đợc ghi nhận vào chi phí quản lý, còn thuế tiêu thụ
đặc biệt,thuế xuất khẩu đợc trừ vào doanh thu bán hàng để tính doanh thu thuần.
L/C
II. Công tác xác định kết quả kinh doanh tại doanh nghiệp
sản xuất
1. Khái niệm, vai trò của công tác xác định kết quả sản xuất kinh doanh
a. Khái niệm
Kết quả hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp bao gồm kết quả hoạt
động sản xuất kinh doanh, kết quả hoạt động tài chính và kết quả hoạt động bất
thờng. Trong đó: kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh là số chênh lệch giữa
doanh thu thuần và giá trị vốn của hàng bán, chi phí bán hàng, chi phí quản lý
doanh nghiệp.
b. Vai trò của công tác xác định kết quả kinh doanh.
Xuất phát từ mối quan hệ tác động qua lại giữa tiêu thụ và xác định kết quả
kinh doanh trong đó tiêu thụ là cơ sở xác định kết quả đã chỉ rõ tầm quan trọng
của việc xác định kết quả kinh doanh. Kết quả tiêu thụ là mục đích cuối cùng
còn tiêu thụ là phơng tiện để thực hiện.
Kết quả kinh doanh là chỉ tiêu tổng hợp có ý nghĩa quan trọng trong quản lý
kinh tế, quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Chính vì thế việc
xác định kết quả kinh doanh đúng, chính xác là nhiệm vụ hàng đầu trong công
tác quản lý kinh tế nói chung và tronghoạt động của mỗi doanh nghiệp nói riêng
9 Kế toán A
2. Xác định kết quả kinh doanh.
Để đảm bảo cho việc xác định đúng kết quả tiêu thụ thành phẩm trong các
doanh nghiệp sản xuất cần xác định đúng đắn, đầy đủ và kịp thời các yếu tố sau:
a. Doanh thu ban đầu:
Doanh thu ban đầu (doanh thu bán hàng) là giá trị của sản phẩm, hàng hoá,
lao vụ, dịch vụ mà doanh nghiệp đã bán, đã cung cấp cho khách hàng (đã đợc
thực hiện).Giá trị của hàng hoá đợc thoả thuận ghi trong hợp đồng kinh tế về
mua bán và cung cấp sản phẩm, hàng hoá, lao vụ, dịch vụ và đã đợc ghi trên hoá
đơn bán hàng; hoặc ghi trên các chứng từ khác có liên quan đến việc bán hàng,
hoặc là sự thoả thuận về giá bán hàng giữa ngời mua và ngời bán.
nghiệp đã bỏ ra để sản xuất ra sản phẩm cộng chênh lệch hàng tồn kho.
Đối với doanh nghiệp sản xuất, thông qua quá trình sản xuất, giá vốn của
thành phẩm bán ra đợc hình thành từ giá thành sản xuất sản phẩm. Để xác định
đúng đắn giá vốn hàng bán ra trong kỳ, kế toán phải quan tâm đến việc tính
đúng giá thành của thành phẩm nhập kho và xác định đúng trị giá xuất kho của
thành phẩm xuất bán trong kỳ. Bởi trị giá xuất kho thành phẩm tiêu thụ trong kỳ
là căn cứ để xác định trị giá vốn của thành phẩm tiêu thụ (bút toán kép )
Để tính giá trị thành phẩm xuất kho hình thành giá vốn thành phẩm bán ra có
thể áp dụng một số phơng pháp để tính giá sau đây:
* Phơng pháp tính giá bình quân gia quyền:
Với phơng pháp này trị giá thành phẩm xuất kho đợc xác theo công thức sau:
11 Kế toán A
Giá thực tế thành + Giá thực tế thành
Đơn giá bình phẩm tồn đầu kỳ phẩm nhập trong kỳ
quân một đơn vị =
thành phẩm Số lợng thành + Số lợng thành phẩm
phẩm tồn đầu kỳ nhập trong kỳ
Giá vốn hàng bán = Giá thành sản phẩm + Chênh lệch hàng tồn kho
(đầu kỳ cuối kỳ)
Đơn giá bình quân Tổng giá trị hàng có thể bán trong kỳ
một đơn vị =
thành phẩm Số lợng hàng có thể bán trong kỳ
(sản phẩm cùng loại, cùng quy cách)
Từ đó giá thành phẩm xuất trong kỳ đợc tính theo công thức:* Phơng pháp nhập trớc xuất trớc(FIFO)
Theo phơng pháp này có các nội dung chủ yếu sau:
sự tham gia của các chi phí khác nh chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh
nghiệp. Trong các loại chi phí này gồm nhiều khoản mục chi tiết khác nhau góp
phần phục vụ tiêu thụ sản phẩm. Chi phí bán hàng và chi phí quản lý doanh
nghiệp là chi phí gián tiếp có ảnh hởng đến kết quả kinh doanh của doanh
nghiệp.
Chi phí bán hàng là chi phí lu thông và chi phí tiếp thị phát sinh trong quá
trình tiêu thụ sản phẩm , hàng hoá , lao vụ , dịch vụ. Chi phí bán hàng gồm: chi
phí quảng cáo, lu thông, giao dịch, hoa hồng bán hàng, lơng nhân viên bán hàng,
các chi phí gắn liền với kho bảo quản hàng hoá.
Chi phí quản lý chung của doanh nghiệp bao gồm: Chi phí quản lý kinh
doanh, chi phí quản lý hành chính, chi phí chung khác liên quan đến hoạt động
của cả doanh nghiệp. Chi phí quản lý doanh nghiệp đợc hạch toán chi tiết theo
nội dung khoản mục chi phí cụ thể nh: chi phí tiền lơng, các khoản phụ cấp, bảo
hiểm xã hội, kinh phí công đoàn của nhân viên quản lý doanh nghiệp, chi phí vật
liệu dụng cụ đồ dùng phục vụ cho văn phòng, thuế vốn, thuế môn bài
13 Kế toán A
Đơn giá bình Giá thực tế tồn đầu kỳ
=
quân đầu kỳ Số lợng tồn đầu kỳ
Giá thực tế của thành = Số lợng thành phẩm x Đơn giá bình
Phẩm xuất kho xuất kho quân đầu kỳ
Về thực chất hai loại chi phí này mang tính chất điều chỉnh kết quả kinh
doanh của doanh nghiệp. Vì vậy, chi phí phát sinh nhiều hay ít cũng cần theo dõi
chăt chẽ để có thể có đợc kết quả kinh doanh chính xác, kịp thời, sát thực tế.
e. Kết quả tiêu thụ thành phẩm.
Kết quả cuối cùng của hoạt động tiêu thụ đợc phản ánh bằng chỉ tiêu lãi, lỗ và
đợc tính bằng công thức sau:
Trong đó:
f. Hạch toán các khoản dự phòng.
g. Hạch toán thuế giá trị gia tăng phải nộp
Có hai phơng pháp tính thuế GTGT đó là phơng pháp khấu trừ thuế và phơng
pháp tính trực tiếp trên GTGT
- Phơng pháp khấu trừ thuế: Các đơn vị, tổ chức kinh doanh khi áp dụng ph-
ơng pháp này yêu cầu phải sử dụng hoá đơn GTGT. Khi lập hoá đơn phải ghi
đầy đủ, đúng các yếu tố quy định và ghi rõ: giá bán cha có thuế, kể cả phụ thu và
phí ngoài giá bán nếu có, thuế GTGT, tổng giá thanh toán với ngời mua.
Số thuế GTGT phải nộp đợc tính theo công thức sau:
Trong đó:
15 Kế toán A
Giá trị thực hiện thuần = Giá gốc của - Dự phòng giảm giá
Tuý của hàng tồn kho hàng tồn kho hàng tồn kho
Mức dự phòng cần lập năm = Số lợng hàng tồn x Mức giảm giá
tới cho hàng tồn kho i kho i cuối niên độ hàng tồn kho i
Số thuế GTGT phải nộp = Thuế GTGT đầu ra - Thuế GTGT đầu vào
Thuế GTGT Giá tính thuế của Thuế suất thuế GTGT
= hàng hoá, dịch vụ x của hàng hoá, dịch
đầu ra chịu thuế bán ra vụ tơng ứng
Khi lập hoá đơn bán hàng hoá, dịch vụ, cơ sở kinh doanh phải ghi rõ giá bán
cha có thuế, thuế GTGT và tổng số tiền mà ngời mua phải thanh toán.
Trờng hợp trên hoá đơn không ghi rõ các chi tiết trên, mà chỉ ghi tổng số tiền
mà ngời mua phải thanh toán thì giá tính thuế là số tiền mà ngời mua phải thanh
toán. Đồng thời, đơn vị mua hàng hoá, dịch vụ cũng không đợc tính khấu trừ
thuế GTGT đầu vào đối với trờng hợp này.
Trờng hợp hàng hoá, dịch vụ có tính đặc thù đợc dùng các chứng từ thanh toán
là giá đã có thuế thì phải xác định giá cha có thuế GTGT của hàng hoá, dịch vụ
này.
Thuế GTGT đầu vào đợc quy định khấu trừ nh sau: Các cơ sở kinh doanh chỉ
đợc khấu trừ thuế GTGT đầu vào của hàng hoá, dịch vụ dùng vào sản xuất, kinh
kinh doanh
I-Tổng quan về kế toán tiêu thụ và xác định kết quả kinh doanh
Nền kinh tế hàng hoá vận động theo cơ chế thị trờng là nền kinh tế có sự
cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp với phơng châm: Mạnh thì sống, yếu
thì chết. Đứng trớc thách thức về sự tồn tại và phát triển đòi hỏi mỗi doanh
nghiệp phải tích cực, năng động nhạy bén .Không ngừng nâng cao chất l ợng
quản lý kinh doanh.
Hạch toán kế toán có một vị trí quan trọng trong việc phản ánh và cung cấp
các thông tin kinh tế phục vụ yêu cầu quản lý tài chính và quản trị doanh nghiệp.
Với hoạt động sản xuất kinh doanh, kế toán đợc sử dụng nh một công cụ sắc bén
có hiệu lực nhất để phản ánh khách quan và giám đốc toàn diện mọi hoạt động
của đơn vị.
Kế toán tiêu thụ và xác định kết quả kinh doanh là một trong những nội dung
chủ yếu của kế toán doanh nghiệp sản xuất. Kế toán tiêu thụ và xác định kết quả
kinh doanh đợc thực hiện đúng đắn, phù hợp với điều kiện cụ thể của doanh
nghiệp sẽ giúp cho doanh nghiệp xác định chính xác kết quả hoạt động sản xuất
kinh doanh toàn doanh nghiệp cũng nh sự đóng góp của từng bộ phận.
II. Chứng từ kế toán.
17 Kế toán A
Vận dụng chế độ chứng từ theo quy định của chế độ kế toán trong doanh
nghiệp (ban hành theo quyết định số 1141TC/QĐ/CĐKT ngày 1/11/95 của Bộ
Tài chính) và căn cứ vào đặc điểm sản xuất kinh doanh của từng doanh nghiệp,
kế toán tiêu thụ sử dụng các chứng từ sau:
- Phiếu xuất kho: nhằm theo dõi chặt chẽ vật t, thành phẩm xuất kho cho các
bộ phận sử dụng trong đơn vị làm căn cứ tính chi phí sản xuất, tính giá thành
phẩm và kiểm tra sử dụng vật t.
- Thẻ kho: Theo dõi số lợng nhập, xuất, tồn của thành phẩm trong kho
- Hoá đơn bán hàng theo mẫu Hoá đơn GTGT
- Biên bản kiểm kê hàng hoá nhằm xác định số lợng chất lợng và giá trị vật t,
thành phẩm tại kho vào thời điểm kiểm kê.
Tài khoản này dùng để phản ánh doanh thu của số sản phẩm, hàng hoá, lao vụ,
dịch vụ tiêu thụ trong nội bộ (giữa các đơn vị trực thuộc cùng một công ty, tổng
công ty )
TK 512 - Doanh thu tiêu thụ nội bộ có 3 tài khoản cấp 2:
TK 5121 - Doanh thu bán hàng hoá.
TK 5122 - Doanh thu bán sản phẩm.
TK 5123 - Doanh thu cung cấp dịch vụ.
- TK 521 - Chiết khấu bán hàng.
TK này dùng để phản ánh toàn bộ số tiền giảm trừ cho ngời mua hàng do ngời
mua hàng đã thanh toán số tiền mua hàng (sản phẩm, hàng hoá, lao vụ, dịch vụ)
trớc thời hạn thanh đã thoả thuận(ghi trên hợp đồng kinh tế mua bán hoặc các
cam kết thanh toán việc mua hàng), hoặc vì một lý do u đãi khác.
TK 521 - Chiết khấu bán hàng có 3 tài khoản cấp 2.
TK 5211 - Chiết khấu hàng hoá.
TK 5212 - Chiết khấu thành phẩm.
TK 5213 - Chiết khấu dịch vụ.
- TK 531 - Hàng bán bị trả lại.
19 Kế toán A
TK này dùng để phản ánh trị giá của số thành phẩm, hàng hoá, dịch vụ, lao
-vụ đã tiêu thụ bị khách hàng trả lại do các nguyên nhân vi phạm cam kết; vi
phạm hợp đồng kinh tế; hàng bị mất; kém phẩm chất; không đúng chủng loại,
quy cách.
- TK 532 - Giảm giá hàng bán.
TK này dùng để phản ánh các khoản giảm giá, bớt giá, hồi khấu của hàng bán
trong kỳ hạch toán.
- TK 632 - Giá vốn hàng bán.
TK này dùng để phản ánh trị giá vốn của thành phẩm, hàng hoá, lao vụ, dịch
vụ xuất bán trong kỳ.
-TK 641 - Chi phí bán hàng.
TK này dùng để phản ánh các chi phí thực tế phát sinh trong quá trình tiêu thụ
Thực hiện ghi chép vào sổ kế toán là công việc có khối lợng lớn và phải làm
thờng xuyên. Do vậy chúng ta cần phải tổ chức một cách khoa học và hợp lý hệ
thống sổ kế toán có nh vậy mới tạo điều kiện nâng cao năng suất của cán bộ kế
toán, đảm bảo cung cấp đầy đủ các chỉ tiêu kinh tế theo yêu cầu của đơn vị hoặc
lập báo cáo gửi lên cấp trên. Hiện nay, các hình thức sổ đợc áp dụng thống nhất
theo chế độ kế toán và đợc tiến hành nh sau:
Sổ kế toán tổng hợp gồm các hình thức sau:
Hình thức Nhật ký chung
Hình thức Nhật ký sổ cái
Hình thức Chứng từ ghi sổ
Hình thức Nhật ký Chứng từ
Hiện nay hình thức Nhật ký Chứng từ và Nhật ký chung thờng đợc áp dụng
nhiều ở các doanh nghiệp.
1. Hình thức Nhật ký - Chứng từ.
Đặc điểm của hình thức này là kết hợp ghi sổ theo thứ tự thời gian và ghi sổ
theo hệ thống kết hợp giã kế toán tổng hợp và kế toán chi tiết, giữa ghi chép
hàng ngày với việc tổng hợp số liệu thực tế phục vụ cho việc lập báo cáo.
21 Kế toán A
Ưu điểm: Theo hình thức này giúp giảm nhẹ khối lợng công việc ghi sổ kế
toán, công việc dàn đều trong tháng.
Nhợc điểm: Mẫu sổ phức tạp, không thuận lợi cho việc tin học hoa công tác
kế toán.
Theo hình thức Nhật ký Chứng từ, Kế toán thành phẩm và xác định kết quả
kinh doanh sử dụng các Nhật ký Chứng từ số 8, Sổ Cái các tài khoản 511,
512, 521, 531, 532, ., Bảng kê số 8, bảng kê số 10, Bảng kê số 11 và một số sổ
chi tiết tiêu thụ, Sổ chi tiết thuế GTGT, Sổ chi tiết thanh toán với khách hàng
2. Hình thức Nhật ký chung.
Theo hình thức này các nghiệp vụ kinh tế phát sinh đợc phản ánh vào một sổ
Nhật ký gọi là sổ Nhật ký chung. Sau đó căn cứ vào sổ Nhật ký chung lấy số liệu
ghi vào Sổ Cái. Ngoài ra để thuận tiện cho việc ghi chép vào Nhật ký chung có
- Báo cáo chi phí lu thông.
- Báo cáo tình hình thanh toán .
- Báo cáo doanh thu tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá.
- Báo cáo tông hợp tiêu thụ.
Báo cáo tài chính: Kế toán tiêu thụ thành phẩm và xác định kết quả kinh doanh
phải lập Báo cáo kết quả kinh doanh mẫu số B02- DN
23 Kế toán A
24 KÕ to¸n A
Phần thứ hai
Thực trạng kế toán tiêu thụ thành phẩm và xác
định kết quả sản xuất kinh doanh tại Xí nghiệp
Gỗ Hà Nội
A - Khái quát chung về Xí nghiệp Gỗ Hà Nội
Tên đơn vị : Xí nghiệp Gỗ Hà Nội
Tên giao dịch: Xí nghiệp Gỗ Hà Nội
Trụ Sở : Số 2 Chơng Dơng Độ - Quận Hoàn Kiếm - Hà Nội
(Ngoài đê sông Hồng)
I. Quá trình hình thành và phát triển của Xí nghiệp gỗ Hà Nội.
1. Lịch sử hình thành và phát triển
Xí nghiệp đợc hình thành từ những năm sau giải phóng Thủ đô (năm 1956).
Xí nghiệp đã trải qua nhiều thăng trầm, tách ra nhập vào nhiều lần. Địa bàn sản
xuất của Xí nghiệp trớc đây rộng khoảng 5ha; Hầu hết là nhà xởng cấp 4 đợc
xây dựng từ năm 1956 - 1960, nhà mái tôn, mái ngói kết cấu tờng bao khung gỗ.
Cùng với thời gian và do nớc lũ hàng năm nhà xởng đã xuống cấp, Xí nghiệp
phải thờng xuyên sửa chữa và gia cố để đảm bảo cho sản xuất của Xí nghiệp.
Cơ sở vật chất kỹ thuật: máy móc cũ và lạc hậu, hiệu quả thấp. Hiện nay hầu
hết các thiết bị đã khấu hao hết. Xí nghiệp đã đánh giá lại nhng chỉ thích ứng với
sản xuất hàng loạt, số lợng nhiều (phù hợp với thời kỳ bao cấp). Thiết bị lại cồng
kềnh, khó di chuyển nên không thích ứng với điều kiện sản xuất hiện nay.
Năm 1992, UBND Thành phố Hà Nội ra quyết định số 3162/QĐ-UB thành lập