Sáng kiến kinh nghiệm: Một số biện pháp kể cho trẻ mẫu giáo 5 - 6 tuổi nghe chuyện cổ tích Tấm Cám theo hướng tích hợp GV: V.Phương Thảo - Pdf 22


1PHÒNG GIÁO DỤC ĐÀO TẠO QUẬN CẦU GIẤY
TRƯỜNG MẦM NON MAI DỊCH

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ BIỆN PHÁP KỂ CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 – 6 TUỔI
NGHE CHUYỆN CỔ TÍCH TẤM CÁM
THEO HƯỚNG TÍCH HỢP
Giáo viên : Vũ Phương Thảo
Ngày sinh: 07 / 03 / 1982
Lớp : MGL A2

Năm học 2010 - 1011
2


tưởng tượng của chúng theo những cách riêng mà những tác giả hiện đại chỉ có thể
mơ ước đến chứ không làm nổi. Thế cho nên tôi đã chọn đề tài MỘT SỐ BIỆN
PHÁP KỂ CHO TRẺ MẪU GIÁO 5 – 6 TUỔI NGHE CHUYỆN CỔ TÍCH
TẤM CÁM THEO HƯỚNG TÍCH HỢP
2. Lý do thực tiễn:
Hiện nay trong chương trình giáo dục mâm non, tác phẩm “Tấm Cám” đã
được thực hiện, nhà trường và giáo viên mầm non đã lên tiết dạy trẻ. Tuy nhiên
theo như bản thân tôi thấy các phương pháp dạy trẻ của giáo viên chưa đạt kết quả
cao. Nên tôi chọn để tài: “ Một số biện pháp kể cho trẻ mẫu giáo 5 – 6 tuổi nghe
chuyện cổ tích Tấm Cám theo hường tích hợp” nghiên cứu và hi vọng góp tiếng
nói nhỏ của mình vào thực tiễn dạy học để cho trẻ nghe chuyện đạt kết quả cao
hơn.

4


Khi điều tra tôi sử dụng hệ thống câu hỏi sau?
- Chị có thích tổ chức hoạt động kể chuyện cho trẻ nghe không? Vì sao?
- Chị có cảm nhận gì về truyện cổ tích Tấm Cám? Truyện có phù hợp với trẻ
5 – 6 tuổi không?
- Chị đã chuẩn bị những gì khi kể truyện cổ tích cho trẻ nghe.
- Chị đã sự dụng những phương pháp gì, biện pháp gì khi tổ chức tiết học
này?
- Chị gặp những khó khăn và thuận lợi gì khi tổ chức tiết học này?
- Chị có đọc, nghiên cứu tài liệu gì để xây dựng tiết học kể truyện cổ tích
cho trẻ nghe không?
- Chị có đề xuất gì không?
Hệ thống câu hỏi này tôi đã điều tra trên 20 giáo viên đang trực tiếp dạy lớp
mẫu giáo lớn 5 – 6 tuổi thuộc các trường mầm non quận Cầu Giấy, Hà Nội.
Kết quả:
Nói chung về nhận thức và đánh giá của giáo viên mầm non vấn đề này
tương đối đồng nhất, tuy nhiên chỉ dừng lại ở mức độ nhất định.
- Với câu hỏi 1: 20/20 (100%) giáo viên đều đã đưa ra cách hiểu của mình
về truyện cổ tích. Giáo viên đã đưa ra được đặc điểm đặc trưng của truyện cổ tích
là truyện có từ xa xưa, có mở đầu và kết thúc thường có hậu: Người nghèo khó
chăm chỉ, hiền lành được hạnh phúc.
- Với câu hỏi 2: 18/20 (90%) giáo viên thích kể truyện cho trẻ nghe vì trẻ
chăm chú lắng nghe cô kể chuyện. 2/20 (10%) giáo viên không thích kể chuyện
cho trẻ nghe vì lý do chủ quan của bản thân như: Kể chuyện cho trẻ nghe cô phải
có giọng kể tốt kết hợp với yếu tố hình thể khác mà bản thân cô giáo không làm
được điều đó.

6

- Với câu hỏi 3: 20/20 (100%) giáo viên cho rằng phù hợp với trẻ 5 – 6 tuổi
- Vơi câu hỏi 4: 20/20 (100%) giáo viên cho rằng để tiết học đạt kết quả cao

12/20 ( 60%) giáo viên cho rằng chuẩn bị tiết dạy ngoài tranh chuyện để thu
hút trẻ hơn cần giáo án điện tử power point mất nhiều thời gian và một số cô không
thành thạo máy tính.
- Với câu hỏi 7: 19 (95%) giáo viên nhận xét trẻ hứng thú với tiết học.
- Với câu hỏi 8: 20/20 (100%) giáo viên khi được hỏi đến tài liệu đều cho
rằng tài liệu cho giáo viên mầm non ít, chủ yếu là cuốn “Chương trình chăm sóc và
hướng dẫn thực hiện của Trần Thị Trọng và Phạm Thị Sửu. và cuốn “Hướng dẫn
thực hiện chương trình đổi mới của Nhà xuất bản giáo dục.
20/20 (100%) giáo viên đề xuất cần có lớp đào tạo nghiệp vụ về phương
pháp luận của bộ môn cho giáo viên mầm non.
2. Việc soạn giáo án của giáo viên
Qua quá trình điều tra việc soạn giáo án của giáo viên tôi thấy một số vấn đề
cần lưu ý:
- Trước hết đó là việc xác định mục đích yêu cầu của giờ học: Hầu hết các
giáo án đưa ra mục đích yêu cầu chung chung. Chủ yếu giáo viên xác định 3 mục
đích yêu cầu sau:
- Trẻ hiểu nội dung truyện.
- Trẻ biết cảm xúc và lắng nghe cô kể chuyện.
- Trẻ hiểu tính cách và ngôn ngữ khác nhau của từng nhân vật.
Trong 20 giáo án thì có 8 giáo án xác định được mục đích yêu cầu sau:
- Trẻ nhận biết tên truyện cổ tích, hiểu nội dung truyện
- Trẻ cảm nhận ý nghĩa nhân hậu của truyện: Người tốt bụng, chăm chỉ
được hưởng hạnh phúc.
- Trẻ trả lời được các câu hỏi cô nêu ra.

8

- Trẻ nói rõ ràng mạch lạc, biểu cảm, thể hiện cảm xúc biết lắng nghe cô
kể truyện.
- Đồ dùng chuẩn bị: thì giáo viên đều chỉ dùng bộ tranh minh họa có sẵn.

hứng thú cho trẻ. Ở tiết học cô chỉ chú ý đến những trẻ chú ý lắng nghe trong giờ
học mà chưa chú ý đến những trẻ nhút nhát, cô chưa chú ý đến việc phát triển ngôn
ngữ cho trẻ và cách thức tổ chức tiết học của mình.
b. Lớp A1 trường mầm non Mai Dịch.
Tại lớp mẫu giáo lớn A1 cô Lê Phương Hằng dạy, tôi đã ghi được như sau:
- Vào bài: Cô tạo tình huống, Chim vàng anh bay vào lớp trò chuyện với các
bạn, sau đó cô hỏi trẻ Vàng Anh là nhân vật trong chuyện gì? Muốn biết được
Vàng Anh là nhân vật trong chuyện gì chúng ta cùng lắng nghe cô kể chuyện Tấm
Cám thì rõ nhé!
- Cô kể chuyện cho trẻ nghe với giọng khoan thai chậm chạp, thể hiện ngữ
điệu, nhịp điệu mang tính chữ tình. Sau đó cô đặt câu hỏi đàm thoại với trẻ:
- Tryện có tên là gì?
- Cô Tấm là người như thế nào?
- Mẹ con cô Cám là người như thế nào?
- Con có yêu nhân vật nào nhất? Vì sao?
Cô cho trẻ xem tranh minh họa và đặt câu hỏi đàm thoại với trẻ và giúp trẻ
nhớ lại, tự tin hơn khi trả lời câu hỏi của cô.
Kết thúc giờ học cô cho cả lớp xem diễn dối vở kịch “Tấm Cám”
Tiết học của cô có ưu điểm là giọng kể của cô diễn cảm, cô biết tận dụng thế
mạnh của mình để diễn rối cho trẻ. Trẻ lớp này số đông các cháu hứng thú với tiết
học và một vài trẻ có sáng tạo trong ngôn ngữ khi trả lời các câu hỏi của cô. Tuy
nhiên trẻ vẫn chưa thể hiện được giọng điệu rõ ràng của từng nhân vật trong
truyện. Cô giáo đã động viên khuyến khích trẻ kịp thời. Vì vậy mà trẻ đã tự tin hơn
trong tiết học và tham gia tích cực trong các hoạt động kể của cô.

10
6. Kết quả điều tra:
Dựa trên những gì đã thu được qua điều tra bằng phiếu Anket, giáo án của
giáo viên, dự giờ, trao đổi với trẻ ở một số trường khác nhau tôi đã rút ra được kết
quả sau:

mình. Các cô mới chú ý đến việc ổn định tổ chức lớp và chú ý đến những trẻ mạnh
dạn khi trả lời câu hỏi mà chưa quan tâm đến các cháu nhút nhát khả năng tiếp thu
kém.
Về phía trẻ: Phần nhỏ một số trẻ chưa chú ý vào tiết học. Khả năng trả lời
các câu hỏi của trẻ còn kém.
3. Nguyên nhân dẫn đến những nhược điểm trên:
Trong quá trình điều tra qua các tiết dạy tôi nhận thấy các cô đểu rơi vào
tình trạng kể thuộc truyện, giọng kể của cô đều đều. Khi kể cử chỉ điệu bộ của cô
chưa thể hiện được rõ ràng, ngữ điện của cô chưa phù hợp với diến biến truyện,
chưa thể hiện rõ ràng giọng điệu của từng nhân vật trong truyện, cô kể chưa sáng
tạo, chưa có sự tích hợp và chưa diễn cảm.
Cô có sử dụng biện pháp đàm thoại những câu hỏi đặt ra chưa phong phú,
các cô chưa đặt ra được tầm quan trọng vị trí vai trò của hoạt động văn học nghệ
thuật trong công tác chăm sóc giáo dục trẻ.
Trường mầm non là môi trường thuận lợi tạo điều kiện cho trẻ phát triển
toàn diện. Vì trẻ có khả năng tự hoạt động nghệ thuật. Cách thức tổ chức tiết học
cũng có vai trò rất lớn trong quá trình giáo dục trẻ. Tổ chức làm sao để phát huy
được ở trẻ tính tích cực học tập sáng tạo trong mọi hoạt động, nhất là hoạt động
văn học nghệ thuật. Qua việc điều tra sơ bộ thực trạng việc tổ chức cho trẻ nghe
truyện thần thoại ở trường mầm non, kết hợp với khả năng phát triển ở trẻ. Tôi
thấy rằng cần thiết phải có các biện pháp để giáo viên sử dụng linh hoạt trong việc

12
tổ chức kể truyện cho trẻ nghe, kích thích trẻ có sự sáng tạo và phát triển tính tích
cực, tư duy và khả năng tự hoạt động của trẻ.
Kết luận: qua điều tra chúng tôi nhận thấy cần trang bị thêm cơ sở lý luận,
các biện pháp cụ thể trong từng tiết học đặc biệt là tiết dạy trẻ kể lại truyện cho
giáo viên nhằm giúp trẻ lĩnh hội được kiến thức một cách hiệu quả.
thích tính tích cực. Tư duy, tưởng tượng nghệ thuật và khẳ năng sáng tạo trong tiết
học: “Theo từ điển Tiếng Việt: Biện pháp là cách làm cách giải quyết một vấn đề
cụ thể”. Như mục đích đề tài đã đặt ra ở đề tài này chúng tôi đã hệ thống hóa và
đưa ra một số biện pháp mới dựa trên những cơ sở khoa học liên ngành, các
phương pháp chung cơ bản cho trẻ làm quen với tác phẩm văn học.

II. Hệ thống các biện pháp dạy trẻ
Tác phẩm văn học nói chung và truyện cổ tích nói riêng góp phần quan trọng
vào sự phát triển toàn diện của trẻ mẫu giáo. Cho trẻ làm quen với tác phẩm văn
học là một môn quan trọng trong trường mầm non. Nó được chia làm 2 quá trình
sư phạm:
Quá trình sư phạm thứ nhất: Cô đọc thơ, kể truyện, đọc truyện cho trẻ nghe.
Quá trình này hoạt động chủ đạo nghiêng về phía cô, cô giáo chủ động hướng dẫn
cho trẻ tri giác tác phẩm, động viên khuyến khích trẻ tham gia.
Quá trình sư phạm thứ hai: Cô tổ chức cho trẻ tự hoạt động văn học nghệ
thuật. Cô tổ chức cho trẻ đọc thuộc thơ, diễn cảm, kể lại truyện, chơi đóng kịch.

14
Quá tình này hoạt động chủ đạo nghiêng về phía trẻ, cô là người tổ chức hướng
dẫn.
Để tiến hành hai quá trình sư phạm này khi cho trẻ làm quen với tác phẩm
văn học, tôi lựa chọn các phương pháp sau:
Phương pháp đọc kể tác phẩm nghệ thuật.
Phương pháp trao đổi gợi mở.
Phương pháp trao đổi sử dụng các hình thức trực quan.
Phương pháp đưa trẻ vào hoạt động văn học nghệ thuật.
Có nhiều phương pháp, biện pháp có thể sử dụng trong tiết học kể chuyện
cho trẻ nghe. Ở đây tôi thực hiện quá trình sư phạm thứ nhất đó là chủ yếu dựa vào
phương pháp đọc kể tác phẩm nghệ thuật, và kết hợp một số phương pháp, biện
pháp khác như trao đổi gợi mở sử dụng cách hình tượng trực quan sao cho việc kể

Khi kể truyện cô có thể kết hợp với nhạc cụ, cô ghi âm tiếng nhạc trên đàn
organ khi kể truyện, có thể sử dụng khi bắt đầu vào tiết học để gây hứng thú cho
trẻ. Cũng có khi sử dụng tiếng nhạc cuối tiết để kết thúc tình tiết nào đó trong
truyện để nội dung truyện có ý nghĩa hơn.
Kể diễn cảm với đồ dùng trực quan.
Cô vừa kể vừa kết hợp cho trẻ xem tranh ảnh mô hình. Để trẻ nhìn thấy cụ
thể hơn những biểu tượng trong truyện kể. Có thể treo tranh trên bảng, trên tường
hoặc góc tạo hình để trẻ tự tri giác, trao đổi về nội dung trước hoặc sau khi nghe cô
kể. Lời kể vẫn là trọng tâm tranh ảnh, mô hình, sa bàn…chỉ là đồ dùng bổ sung
giúp cho lời kể thêm phong phú.
Kể trích dẫn kết hợp trò chuyện giải thích.
Cô kết hợp kể truyện với trò chuyện giải thích về nội dung . Hỏi trẻ về nội
dung nghệ thuật và cảm nghĩ của trẻ đối với từng nhân vật, các hình tượng, cô

16
cũng có thể nói về tình cảm của mình đối với các nhân vật, các hình tượng, gợi mở
cho trẻ cách diễn đạt, suy nghĩ của trẻ. Cô có thể giải thích từ và khái quát đặc
điểm nội dung các nhân vật hiện tượng trong truyện kể.
Phương pháp đọc diễn cảm kết hợp với kể chuyện.
Phương pháp đòi hỏi phải đọc đúng, đọc hay, đọc diễn cảm, đòi hỏi mức độ
cao đọc diễn cảm đi vào bản chất nghệ thuật của tác phẩm.
Đòi hỏi sự khúc triết sinh động, tạo khả năng ghi nhớ thông qua năng lực
nghe nhìn, sự cảm nhận sắc thái biểu cảm và thái độ tình cảm của tác giả, của
người kể với người nghe. Cô là trung tâm để nối tác giả, tác phẩm với trẻ. Đòi hỏi
sự giao tiếp giữa cô và trẻ.
Kể tóm tắt truyện.
Biện pháp này có thể sử dụng khi kể lần cuối truyện trong tiết học. Việc tóm
tắt khái quát những ý chính theo trình tự cốt truyện nhằm khắc câu biểu tượng nghệ
thuật của truyện, giúp trẻ ghi nhớ tốt hơn về nội dung truyện khi lược bỏ bớt đi
những chi tiết phụ, câu chuyện trở nên cô đọng hơn, vừa sức hơn đối với trẻ khi

Thì giặt cho sạch.
Giặt mà không sạch.
Tao rạch mặt ra.
Đó là lời nói của nhân vật nào trong câu chuyện nào?
Những câu hỏi gợi mở cho trẻ đánh giá và bộc lộ suy nghĩ, tình cảm và cách
đánh giá nhân vật về nội dung, các nhân vật, tình tiết của truyện.
Ví dụ: Các con thấy Tấm là người như thế nào?
Trong truyện Tấm Cám con thích nhân vật nào hơn? Vì sao?
1.3. Phương pháp sử dụng các hình tượng trực quan.

18
Đây là phương pháp hỗ trợ bổ sung làm sâu sắc hơn, làm sống dậy các hình
tượng trong tác phẩm.
Ví dụ: Cô cho trẻ xem tranh minh họa truyện Tấm Cám kết hợp với kể
chuyện cho trẻ nghe làm cho tiết học sinh động hơn, khơi gợi cảm xúc, tình cảm
đạo đức và duy trì hứng thú cho trẻ tronh suốt tiết học.
Để thực hiện tiết kể truyện cổ tích cho trẻ mẫu giáo, cô có thể sử dụng hài
hòa các biện pháp nêu trên, cần sử dụng linh hoạt các biện pháp, thường xuyên
thay đổi cho tiết học sinh động phong phú. Tất cả các biện pháp trên đây không
phải sử dụng để dạy trẻ trong một giờ học, mà đối với đối tưọng này ta sử dụng
biện pháp này, đối với đối tượng khác ta sử dụng biện pháp khác sao cho phù hợp
và đạt kết quả cao nhất. Thông thường dạng tiết học này thì phương pháp đọc và kể
chuyện có nghệ thuật là phương pháp chính, còn các biện pháp khác hỗ trợ cho tiết
học.

III. Thực nghiệm
1. Mục đích thực nghiệm
Để kiểm chứng biện pháp đã để xuất
2. Địa bàn thực nghiệm:
Đối tượng thực nghiệm: trẻ mấu giáo 5 – 6 tuổi

Mức độ yếu: Trẻ không nhớ nội dung truyện. Câu sử dụng còn chưa đầy đủ
thành phần câu, trật tự còn sai, câu chưa rõ ý, nghèo nàn về hình ảnh.
7. Tiến hành thực nghiệm
a. Mục đích thực nghiệm: Sử dụng một số biện pháp tổ chức kể cho trẻ nghe
truyện theo hướng tích hợp ở lớp mẫu giáo lớn để xem kết quả biển hiện như thế
nào.

20
b. Nội dung thực nghiệm: Để giải quyết nhiệm vụ của đề tài tôi tiến hành
thực nghiệm sau: Kể cho trẻ 5 – 6 tuổi nghe truyện cổ tích Tấm Cám theo hướng
tích hợp.
Lớp đối chứng 20 trẻ, Nhờ cô dạy sử dụng giáo án cũ
Đánh giá kết quả diễn biến
Lớp thực nghiệm: 20 trẻ, sử dụng giáo án thể hiện một trong những biện
pháp trên
Đánh giá trẻ
Phân tích kết quả thực nghiệm
c. Những điều cần chú ý trước khi tổ chức tổ chức kể cho trẻ nghe truyện
theo hướng tích hợp.
Xác định mục đích yêu cầu, nhiệm vụ giáo dục cần đạt trong tiết học.
Đề ra một số biện pháp tổ chức.
Theo dõi mức độ kể lại truyện sáng tạo của trẻ qua 2 thực nghiệm.
Mục đích yêu câu chung.
- Trẻ nhớ tên truyện cổ tích Tấm Cám.
- Trẻ hứng thú, tự nguyện, tích cực và có nhiều sáng tạo trong khi nghe cô
kể truyện.
- Giáo dục tình cảm thẩm mĩ, tình cảm đạo đức, tính kiên trì, sự nỗ lực của
bản thân để hoàn thành nhiệm vụ học tập của mình.
- Rèn kĩ năng ghi nhớ có chủ định và khả năng kể diễn cảm.
- Phát triển ở trẻ tính tích cực tư duy, tính độc lập, trí tưởng tượng, ngôn ngữ

- Giáo dục trẻ lòng nhân ái, tình đoàn kết với mọi người, ở hiền gặp lành,
thật thà chăm chỉ, tính kiên trì khi thực hiện nhiệm vụ của bản thân.
Biện pháp sử dụng trong thực nghiệm:

22
- Trao đổi gợi mở vởi trẻ bằng hệ thống câu hỏi dựa vào cái mốc, sự kiện
tình tiết của truyện.
- Sử một số bức tranh thể hiện nội dung của truyện Tấm Cám.
- Cô kể diễn cảm một đoạn, kích thích trẻ nhớ lại truyện và tự kể tiếp.
Đồ dùng: Một bộ truyện tranh Tấm Cám.
Tiến hành:
Ổn định tổ chức: Cô đọc câu thơ: Bống bống bang bang
Lên ăn cơm vàng cơm bạc nhà ta.
Chớ ăn cơm hẩm cháo hoa nhà người.
Và hỏi trẻ: Câu thơ đó trong câu chuyện cổ tích nào mà các con đã được
nghe?
Dẫn dắt trẻ vào bài.
Cô kể chuyện cho trẻ nghe, giọng điệu khoan thai, chậm chạp, thể hiện ngữ
điệu mang tính trữ tình khi thể hiện các câu văn vần. Sau khi kể một lần cô phân
tích cho trẻ rõ:
- Cô Tấm hiền lành, chăm chỉ được ông bụt giúp đỡ và cuối cùng được sung
sướng.
- Mẹ con nhà Cám vừa lười, vừa độc ác nên cuối cùng bị trừng phạt.
Sau lần kể thứ nhất cô kể lại đoạn cuối câu chuyện (đoạn cô Tấm hóa thành
cây thị, về ở với bà cụ và cuối cùng được vua đón về cung). Ở đoạn này cô cần làm
rõ các ý:
- Thị rụng vào bị của bà cụ hàng nước hiền lành (từ “đống tro bên đường”
đến hết câu “Bà cụ nói dứt lời thì quả thị rụng ngay vào bị”)
- Tấm chăm sóc bà cụ ( từ “…Bà cụ vừa đi khỏi nhà” hết câu “có sẵn cơm
dẻo canh ngọt để phần” )


24
+ Trao đổi với trẻ bằng hệ thống câu hỏi gợi mở. Nhằm mục đích để trẻ tiếp
nhận tác phẩm một cách sâu sắc, trẻ nhận ra màu sắc biểu cảm của nhân vật cô
Tấm và những hành động độc ác của mẹ con cô Cám. Kết thúc có hậu đã mang lại
niềm vui cho trẻ thơ. Trẻ thêm yêu nghe chuyện cổ tích nói riêng và yêu thích môn
văn học nói chung.
Hệ thống câu hỏi:
- Cô vừa kể cho các con nghe truyện gì?
- Ai có nhận xét gì về cuộc sống của cô Tấm.
- Tính cách của Mẹ con cô Cám như thế nào?
- Trong truyện con yêu quí nhân vật nào? Vì sao?
- Nếu con là Tấm con sẽ làm gì?
- Nếu là nhân vật Cám, hay dì ghẻ trong câu chuyện con sẽ làm gì?
+ Cho trẻ xem diễn rối vở kịch Tấm Cám.
+ Cho trẻ vẽ tranh các nhân vật trong truyện.
Nhận xét: Khi đưa các biện pháp trên vào tiết học tôi thấy trẻ rất hứng thú,
chăm chú lắng nghe cô kể chuyện. Trẻ cảm nhận được ý nghĩa nhân hậu của
truyện: người tốt bụng chăm chỉ được hưởng hạnh phúc. II. Phân tích kết quả thực nghiệm:
Dạy trẻ 2 tiết truyện “Tấm Cám” trên hai nhóm khác nhau ở hai lớp tôi nhận
thấy rằng ở nhóm thực nghiệm có ngôn ngữ mạch lạc hơn, cũng như sổi nổi hơn
trong giờ học so với trẻ ở nhóm đối chứng.
Dựa vào các tiêu chí đánh giá như đã đưa ra ở phần trên, qua 2 thực nghiệm,
tôi đo được mức độ biểu hiện của nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm như sau:

ức độ 2

08

40%

05

25%

03

M
ức độ 3

0
6

30%

0
8

40%

04

M
ức độ 4


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status