LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Các số liệu, kết
quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa được công bố trong các công trình
khác.
HỌC VIÊN CAO HỌC
PHẠM THÙY DƯƠNG
2
LỜI CẢM ƠN
Lời cảm ơn gửi tới toàn thể cán bộ, giảng viên trong Khoa Tài chính Ngân
hàng, Viện sau đại học trường Đại học kinh tế Quốc Dân, trong thời gian qua đã
hướng dẫn bổ sung cho tôi những kỹ năng và kiến thức cần có của một Thạc sĩ kinh
tế; từ nền tảng này, tôi có thể hoàn thiện các kỹ năng sống và làm việc để phục vụ
tốt hơn cho công việc cũng như cho cuộc sống, tạo tiền đề cho tôi có thể phát triển
kiến thức hơn nữa trong tương lai!
Lời cảm ơn gửi tới toàn bộ ban lãnh đạo, cán bộ nhân viên Ngân hàng
thương mại cổ phần Sài Gòn – Hà Nội chi nhánh Hà Nội, trong thời gian qua đã tạo
điều kiện cho tôi có thời gian học tập nghiên cứu hoàn thành kiến thức và hỗ trợ tôi
trong việc làm luận văn tốt nghiệp. Tôi tin rằng những nghiên cứu trong bài luận
văn của mình sẽ phần nào giúp chi nhánh có cái nhìn tổng quan và hệ thống hơn về
hoạt động huy động tiền gửi của chi nhánh, từ đó góp phần vào sự phát triển chi
nhánh và SHB!
Lời cảm ơn sâu sắc tới Tiến sĩ: Lê Thanh Tâm - Giảng viên trong khoa Tài
chính Ngân hàng trường đại học kinh tế Quốc Dân – người hướng dẫn trực tiếp để
tôi có thể hoàn thành luận văn thạc sĩ!
Lời cảm ơn tới hội đồng giám khảo bảo về luận văn đã lắng nghe và hướng
dẫn tôi hoàn thiện luận văn tốt nghiệp của mình!
Trân trọng!
MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
NHTM NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
NHTW NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG
mục đích nghiên cứu hoạt động huy động tiền gửi của SHB Hà Nội từ năm 2008
đến năm 2010, từ đó đưa ra những giải pháp, kiến nghị phát triển hoạt động huy
động tiền gửi của chi nhánh nhằm phục vụ công việc tốt hơn.
7
Luận văn ngoài phần mở đầu và kết thúc gồm có 3 chương:
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HUY ĐỘNG
TIỀN GỬI CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Theo pháp lệnh ngân hàng nhà nước Việt Nam: “Ngân hàng thương mại là
tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thường xuyên là nhận tiền gửi
của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay, thực
hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán”. Trong hoạt động của
ngân hàng, Vốn và nguồn vốn là những khoản mục vô cùng quan trọng trong quá
trình hoạt động cũng như trong bảng cân đối kế toán. Vốn vừa mang tính chất tiền
đề vừa là vấn đề cốt lõi cho quá tình hình thành và phát triển của NHTM. Tuỳ thuộc
vào nguồn hình thành và yêu cầu quản lý, người ta chia nguồn vốn của ngân hàng
thành các loại vốn khác nhau, để phục vụ cho việc nghiên cứu, tôi chia Vốn của
ngân hàng thành: Vốn tự có, vốn huy động, vốn đi vay, và các nguồn vốn khác;
trong đó vốn huy động từ tiền gửi là nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng
nguồn vốn của ngân hàng.
Ở các nước phát triển, người ta định nghĩa “tiền gửi” trong một bản luật, luật pháp
Anh định nghĩa: “Được coi là tiền gửi, tiền mà ngân hàng nhận được của khách
hàng bất luận dưới danh từ nào, dù phải trả lãi hay không trả lãi, với quyền sử dụng
tiền đó cho hoạt động kinh doanh của mình và với bổn phận làm nghiệp vụ ngân
quỹ cho người ký gửi, nhất là phải trả trong giới hạn số tiền nhận được, tất cả những
lệnh phải trả tiền của ngườitiền gửi bằng séc, lệnh chuyển khoản, thư tín dụng…
hay bất cứ bằng cách nào khác; cũng thâu nhập vào khoản tiền tiền gửi mọi số tiền
mà ngân hàng thu hộ cho người gửi”. Hay tại Pháp: “Tiền gửi là số tiền của khách
hàng gửi tại tổ chức tín dụng dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ
hạn, tiền gửi tiết kiệm và các hình thức khác. Tiền gửi được hưởng lãi hoặc không
hưởng lãi và phải được hoàn trả cho người gửi tiền”. Tiền gửi của khách hàng là
9
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HUY ĐỘNG TIỀN GỬI TẠI
NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN – HÀ NỘI CHI NHÁNH HÀ NỘI
Hoạt động huy động tiền gửi của ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn –
Hà Nội chi nhánh Hà Nội từ năm 2008 đến năm 2010 đã đạt được những kết quả
nhất định tuy nhiên vẫn còn bộc lộ nhiều hạn chế cần khắc phục và phát triển.
Cũng như các NHTM khác, SHB chi nhánh Hà Nội luôn coi công tác huy
động tiền gửi là yếu tố vừa mang tính chất tiền đề, vừa có tính chất quyết định cho
sự tăng trưởng và phát triển của toàn hệ thống. Do đó công tác huy động tiền gửi
của chi nhánh trong thời gian qua đã đạt được kết quả rất khả quan:
SHB chi nhánh Hà Nội đạt được tốc độ tăng trưởng tiền gửi huy động từ khi
thành lập rất ấn tượng. Quy mô nguồn tiền gửi tăng trưởng mạnh qua các năm 2008
tăng trưởng 405% năm 2009: 522% và đến năm 2010 là 132%. Cơ cấu nguồn tiền
gửi huy động chuyển dịch theo hướng giảm lãi suất chi phí đầu vào, từ đó giảm lãi
suất đầu ra, tạo lợi thế trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng thể hiện việc điều
hành và sử dụng linh hoạt công cụ lãi suất của ngân hàng: Trong cơ cấu nguồn,
nguồn tiền gửi thanh toán có cơ cấu khá ổn định và tốc độ tăng trưởng nhanh, đây là
nguồn tiền gửi có chi phí huy động thấp nhất. Tuy chiếm tỷ trọng không cao trong
tổng nguồn tiền gửi huy động nhưng số tăng tuyệt đối khá ấn tượng trong các năm
vừa qua; Nguồn tiền gửi tiết kiệm chuyển dịch mạnh cơ cấu từ ngắn hạn sang dài
hạn. Đây cũng chính là chủ trương huy động tiền gửi của chi nhánh, bởi các khoản
huy động dài hạn giúp ngân hàng ổn định được chi phí đầu vào, giảm chi phí bảo
hiểm tiền gửi và dự trữ bắt buộc. Cơ cấu huy động và cho vay từng bước được điều
chỉnh hợp lý về kỳ hạn và loại tiền. Trong những năm gần đây, chi nhánh đã tập
trung hơn đến công tác xây dựng kế hoạch, chiến lược hoạt động phát triển, trong
đó chú trọng đến việc tăng trưởng về quy mô hoạt động phải gắn với hiệu quả huy
động tiền gửi. Các hình thức huy động ngày một đa dạng hơn, các sản phẩm huy
động đã thu hút, hấp dẫn đối với khách hàng hơn về loại tiền, loại kỳ hạn, lãi suất và
phương thức trả lãi. Sản phẩm tiền gửi có kỳ hạn thực sự đem lại cho khách hàng
những tiện ích về lãi suất, kỳ hạn rút, các điều khoản thanh toán phụ đã thu hút các
tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu tiền gửi huy động của các NHTM, nhưng trong
những năm gần đây, tỷ trọng tiền gửi tiết kiệm của chi nhánh lại giảm mạnh. Nguồn
tiền tiết kiệm của dân cư tuy lãi suất huy động cao nhưng độ ổn định của nguồn là
rất lớn. Nguồn tiền gửi có kỳ hạn tăng đột biến chủ yếu tiền của các tổ chức kinh tế
hoặc của cá nhân có nhu cầu vốn ngắn hạn gửi với mục đích “tranh thủ” kiếm thêm
11
lợi nhuận, do vậy tính ổn định không cao và ngân hàng phải thường xuyên cập nhật
lãi suất để “giữ chân” khách hàng.
Nếu xét cơ cấu theo kỳ hạn: có sự chuyển dịch rất hợp lý của cơ cấu theo kỳ
hạn theo hướng tăng tỷ trọng nguồn huy động tiền gửi trung và dài hạn, làm tăng
tính ổn định của nguồn và sự chủ động của Ngân hàng trong việc sử dụng vốn. Tuy
nhiên, đó chỉ là kỳ hạn danh nghĩa chi nhánh đưa ra để tiết kiệm chi phí dự trữ bắt
buộc và đảm bảo tỷ lệ an toàn giữa huy động và cho vay, còn kỳ hạn thực tế ngắn
hơn rất nhiều. Phần lớn các khoản tiền gửi có kỳ hạn có thời hạn thực gửi dưới 03
tháng, tức nguồn tiền gửi ngắn hạn.
Cơ cấu theo loại tiền tệ có sự mất cân đối lớn trong các loại tiền huy động.
Tiền gửi huy động chủ yếu là tiền Việt nam đồng, tiền ngoại tệ (USD và EUR)
chiếm tỷ trọng rất ít. Điều này thể hiện hoạt động của SHB Hà Nội chưa thực sự là
một ngân hàng đa năng với sự đa dạng về các sản phầm dịch vụ và phạm vi hoạt
động.
Chi phí huy động: Chi phí trả lãi của chi nhánh nhìn chung chưa phản ánh hết
chi phí huy động thực, những khoản chi ngoài: chi chênh lệch lãi suất danh nghĩa và
lãi suất thực gửi còn hạch toán vào các tài khoản với tính chất khác nhau, do vậy
gây khó khăn cho công tác quản lý vốn huy động tiền gửi cũng như việc cân đối
nguồn sử dụng. Điều này nguyên nhân chủ yếu do những quy định của Ngân hàng
Nhà Nước về lãi suất trần huy động khiến không chỉ SHB Hà Nội mà các NHTM
khác cũng rất khó khăn trong việc hạch toán và theo dõi các khoản chi lãi suất và
các chương trình khuyến mại vượt khung lãi suất cho phép.
Mối quan hệ với sử dụng nguồn: Việc sử dụng nguồn chưa thật sự hiệu quả,
chi nhánh còn để “lãng phí” nguồn khi sử dụng nguồn còn thấp. Mặc dù với nguồn
khủng hoảng Tài chính - Tiền tệ trên toàn thế giới từ đầu năm 2008 và Việt Nam
cũng không tránh khỏi cuộc khủng hoảng đó. Cơ chế, văn bản hướng dẫn của Ngân
hàng nhà nước có nhiều thay đổi chưa sát với tình hình thực tế nên việc tổ chức và
thực hiện còn nhiều vướng mắc. Mặt khác, môi trường cạnh tranh ngày một quyết
liệt và chưa được lành mạnh hoá. Sự cạnh tranh ngày càng gay gắt trong lĩnh vực
kinh doanh ngân hàng. Chi phí huy động tiền gửi chưa phản ánh trung thực và chính
xác chi phí chi nhánh phải trả. Đây chủ yếu mới chỉ là phần chi phí cho lãi suất
niêm yết và chi khuyến mại, chi thưởng cho khách hàng theo khung lãi suất được
phép của NHNN.
13
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP TĂNG CƯỜNG HUY ĐỘNG TIỀN GỬI TẠI
NGÂN HÀNG TMCP SÀI GÒN – HÀ NỘI, CHI NHÁNH HÀ NỘI
Từ những phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động huy động tiền gửi của
SHB chi nhánh Hà Nội, và nghiên cứu những định hưởng của chi nhánh trong
tương lai, tôi đưa ra những giải pháp để chi nhánh phát triển hơn nữa hoạt động huy
động tiền gửi của mình, những kiến nghị tới SHB Hội sở để hội sở tạo điều kiện cho
các chi nhánh, phòng giao dịch SHB có thể chủ động huy động trong điều kiện thị
trường huy động ngày càng cạnh tranh:
Giải pháp
Hoàn thiện chiến lược huy động tiền gửi của chi nhánh: Trong định hướng
huy động cần chú trọng tới việc làm thế nào để phát triển được hệ thống khách hàng
rộng khắp? Đây là một vấn đề lớn mà để giải quyết nó chi nhánh cần phải xây dựng
được một chính sách khách hàng hoàn chỉnh.
Phát triển các kênh phân phối: SHB Hà Nội cần không ngừng mở rộng các
kênh phân phối, thành lập thêm các PGD mới, mở rộng thời gian giao dịch ngoài
giờ cho khách hàng. Với việc phân chia ca giao dịch, chi nhánh nên mở rộng thời
gian giao dịch buổi chiều từ 14 giờ 30 đến 15giờ 30 để thu hút đối tượng khách
hàng gửi tiền là người công chức, giới nhân viên văn phòng.
Đưa thêm các hình thức quỹ tiết kiệm lưu động, trước hết là đến các phường
xã, định kỳ mỗi tháng từ một đến hai lần phối hợp với chính quyền địa phương
15
Ngân hàng là một loại hình tổ chức vô cùng quan trọng đối với một nền kinh
tế. Hệ thống ngân hàng với hàng nghìn chi nhánh hoạt động trên toàn thế giới có thể
tác động đến sự phát triển của mọi lĩnh vực và của toàn bộ nền kinh tế thế giới.
Những năm gần đây, trước bài học từ những cuộc khủng hoảng tài chính - tiền tệ,
nhiều quốc gia nhận thức được rằng khi ngân hàng ngừng cấp vốn cho những đơn
xin vay khi có mức rủi ro cao thì nền kinh tế gần như “ngừng hoạt động” – giá cổ
phiếu, bất động sản giảm trầm trọng, số lượng thất nghiệp tăng nhanh và ảnh hưởng
đến sự hưng thịnh của quốc gia.
Ở Việt Nam, hoạt động ngân hàng đang không ngừng phát triển, sự phát
triển đó được nhận thấy trên tất cả các phương diện của đời sống kinh tế xã hội, có
ảnh hưởng lớn đến nền kinh tế của Việt Nam: chiến lược và định hướng phát triển
của cả nền kinh tế. Trong những năm qua, cùng với sự phát triển vượt bậc của nền
kinh tế, ngành Ngân hàng tại Việt Nam cũng phát triển không ngừng với vai trò
“đầu tầu”, là động lực và có trách nhiệm thúc đẩy kinh tế Việt Nam phát triển theo
hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước. Với một nền kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa, hoạt động kinh doanh Ngân hàng ở Việt Nam cũng
mang những đặc điểm và “trọng trách” riêng so với hoạt động kinh doanh Ngân
hàng ở các quốc gia khác. Các ngân hàng ở Việt Nam hoạt động không chỉ vì mục
tiêu tìm kiếm lợi nhuận đơn thuần, mà thông qua hoạt động của hệ thống các ngân
hàng, chính phủ, Ngân hàng Nhà Nước có thể điều tiết hoạt động của cả một nền
kinh tế, do vậy mọi hoạt động kinh doanh của các ngân hàng đều được kiểm soát
một cách chặt chẽ.
Trong những năm gần đây, khi nền kinh tế Việt Nam đối mặt với nhiều khó
khăn người ta càng nhận thức rõ vai trò quan trọng của hoạt động ngành ngân hàng
với vai trò trung gian thúc đẩy sự hoạt động của nền kinh tế. Với các nghiệp vụ
chính là huy động vốn và tái cấp vốn của mình, hệ thống các ngân hàng thương mại
Việt Nam đang phát triển không ngừng và đóng góp vào quá trình phát triển đất
nước, khôi phục nền kinh tế Việt Nam. Nếu như hoạt động cho vay của Ngân hàng
16
Trên cơ sở các tài liệu thu thập được, bằng phương pháp thống kê và so sánh
giữa các năm, các chỉ tiêu, để thấy được những kết quả đạt được và hạn chế trong hoạt
động huy động tiền gửi. Bên cạnh đó, đề tàì còn sử dụng phương pháp phân tích tổng
hợp, đánh giá thực trạng phát triển, rút ra nguyên nhân và tìm hướng giải quyết.
5. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và phần kết thúc, kết cấu luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề cơ bản về huy động tiền gửi của ngân hàng thương
mại
Chương 2: Thực trạng huy động tiền gửi tại Ngân hàng TMCP Sài Gòn - Hà
Nội, Chi nhánh Hà Nội
Chương 3: Giải pháp tăng cường huy động tiền gửi tại ngân hàng TMCP Sài
Gòn - Hà Nội, Chi nhánh Hà Nội
18
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HUY ĐỘNG TIỀN GỬI CỦA
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Khái quát huy động Vốn của Ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái quát Ngân hàng thương mại
Ngân hàng là một tổ chức kinh tế có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế
nói chung và đối với từng cộng đồng địa phương nói riêng, có nhiều định nghĩa về
ngân hàng và có nhiều nhầm lẫn về định nghĩa ngân hàng. Ngân hàng có thể được
định nghĩa qua chức năng mà chúng thực hiện trong nền kinh tế, tuy nhiên những
chức năng này không ngừng thay đổi. Thực tế, rất nhiều tổ chức tài chính bao gồm
cả các công ty chứng khoán, công ty môi giới chứng khoán, công ty bảo hiểm
hàng đầu đều đang cố gắng cung cấp các dịch vụ của ngân hàng. Ngược lại, ngân
hàng cũng đối phó với các đối thủ cạnh tranh bằng cách mở rộng phạm vi cung
cấp dịch vụ, hướng về lĩnh vực môi giới chứng khoán, tham gia các hoạt động bảo
hiểm, đầu tư vào các quỹ và thực hiện nhiều dịch vụ mới khác.
Ở Pháp, luật ban hành năm 1941 định nghĩa: “Ngân hàng là một xí nghiệp
hay cơ sở mà nghề nghiệp thường xuyên là nhận tiền của dân chúng dưới hình
NHTM chỉ có thể đòi tiền của người vay sau một thời hạn nhất định, nên đã tạo ra
khả năng rủi ro thanh khoản cao cho hoạt động Ngân hàng, kéo theo đó là sự rủi
ro đối với người gửi tiền ở NHTM, cũng như rủi ro đối với nền kinh tế. Vì vậy,
hoạt động Ngân hàng ở nhiều quốc gia khác nhau trên thế giới thường được điều
chỉnh và kiểm soát hết sức chặt chẽ bằng những đạo luật riêng biệt, nhằm đảm bảo
cho hoạt động này được vận hành an toàn và hiệu quả trong nền kinh tế thị trường.
Một số cuộc điều tra về ngân hàng đưa ra kết quả gợi ý rằng các ngân hàng
đang trải qua những thay đổi mạnh mẽ trong chức năng và hình thức hoạt động, đó
là do hiện nay có nhiều khuynh hướng ảnh hưởng tới hoạt động ngân hàng, đó là:
20
- Sự gia tăng nhanh chóng trong danh mục dịch vụ NHTM cung cấp và
nhu cầu của khách hàng.
- Sự gia tăng cạnh tranh trong lĩnh vực kinh doanh tiền tệ
- Phi quản lý hoá trong lĩnh vực ngân hàng
- Sự gia tăng chi phí vốn
- Sự gia tăng các nguồn vốn nhạy cảm với lãi suất
- Cách mạng trong công nghệ ngân hàng
1.1.2 Huy động vốn của Ngân hàng thương mại
Vốn vừa mang tính chất tiền đề vừa là vấn đề cốt lõi cho quá tình hình thành
và phát triển của NHTM. Mục tiêu tổng quát của NHTM là an toàn và sinh lời trong
kinh doanh. Nguồn vốn chính là các nguồn hình thành nên Vốn của ngân hàng, việc
tạo lập những nguồn vốn vững chắc, đảm bảo cho sự phát triển bền vững của ngân
hàng là điều rất cần thiết.
Tuỳ thuộc vào nguồn hình thành và yêu cầu quản lý người ta chia nguồn
vốn của ngân hàng thành các loại vốn khác nhau, để phục vụ cho việc nghiên cứu
tôi chia Vốn của NHTM bao gồm:
- Vốn tự có
- Vốn huy động
- Vốn đi vay
- Các nguồn vốn khác
phát hành thêm cổ phần (thường là cổ phần ưu đãi) hoặc xin cấp thêm vốn từ
ngân sách để mở rộng quy mô hoạt động, hoặc để chống đỡ rủi ro trong trường
hợp cần phải duy trì thị giá của cổ phiếu
Huy động từ các loại quỹ: Nếu như lợi nhuận để lại của ngân hàng đủ để
đáp ứng nhu cầu gia tăng vốn của mình thì thông thường đây chính là nguồn bổ
sung quan trọng nhất. Nguồn bổ sung này có thể lấy trực tiếp từ các quỹ như: Quỹ
dự phòng tài chính, quỹ trợ cấp Mặc dù vậy khó nhất là phải xác định được khi
nào thì được phép trích lập từ các quỹ trên để làm nguồn vốn bổ sung, tỉ lệ trích
lập ra sao cho hợp lý.
22
Vốn chủ sở hữu chỉ chiếm một phần nhỏ trong tổng Vốn của ngân hàng, do
đặc trưng trong kinh doanh ngân hàng là huy động để cho vay. Theo quy định của
NHNN Việt Nam tỷ lệ Vốn chủ sở hữu/tiền gửi tối thiểu là 1/20.
Tuy chiếm tỷ trọng nhỏ, song Vốn chủ sở hữu có vai trò rất quan trọng
trong cơ cấu nguồn vốn của các NHTM, đóng vai trò sống còn trong việc duy trì
các hoạt động thường nhật và đảm bảo cho ngân hàng khả năng phát triển lâu dài,
đó là:
- Vốn đóng vai trò tấm đệm giúp chống lại rủi ro phá sản vì vốn giúp trang
trải những thua lỗ về tài chính và nghiệp vụ cho tới khi ban quản lý có thể tập
trung giải quyết các vấn đề và đưa ngân hàng trở lại hoạt động bình thường.
- Vốn là điều kiện bắt buộc để ngân hàng có được giấy phép tổ chức và
hoạt động trước khi ngân hàng có thê huy động được những khoản tiền gửi đầu
tiên.
- Quan trọng hơn cả là Vốn tạo niềm tin cho công chúng, là sự đảm bảo đối
với chủ nợ (gồm cả những người gửi tiền) về sức mạnh tài chính của ngân hàng.
Vốn cung cấp năng lực tài chính cho sự tăng trưởng và phát triển của các hình
thức dịch vụ mới, cho các chương trình và thiết bị mới.
Cả các cơ quan quản lý ngân hàng và thị trường tài chính đều đòi hỏi vốn
điều lệ của ngân hàng cần phải được phát triển tương ứng với sự tăng trưởng của
danh mục cho vay và đầu tư những tài sản rủi ro khác. Do vậy, “tấm đệm” dùng
Trong phát hành giấy tờ có giá thì chứng chỉ tiền gửi là phiếu nợ ngắn hạn
với mệnh giá quy định; trái phiếu là loại phiếu nợ trung và dài hạn. Hai loại phiếu
nợ trên được ngân hàng phát hành từng đợt, tuỳ theo mục đích.
Huy động vốn dưới hình thức phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu ngân
hàng, các NHTM phải trả lãi suất cao hơn so với lãi suất tiền gửi huy động. Vì vậy
khi thực hiện huy động vốn dưới các hình thức này, các ngân hàng phải căn cứ
vào đầu ra để quyết định về khối lượng huy động, mức lãi suất, thời hạn và
phương pháp huy động.
24
Vốn này chỉ được huy động trong thời gian nhất định, khi đã huy động đủ
khối lượng vốn theo dự kiến các ngân hàng sẽ ngừng việc huy động (bán) kỳ
phiếu, trái phiếu.
Vay Ngân hàng Nhà Nước (vay ngân hàng Trung Ương)
Đây là khoản vay nhằm giải quyết nhu cầu cấp bách trong chi trả của
NHTM. Trong trường hợp thiếu hụt dự trữ (dự trữ thanh toán ), NHTM thường
vay ngân hàng Nhà nước. Hình thức cho vay chủ yếu của NHNN là tái chiết khấu
(hoặc tái cấp vốn). Các thương phiếu đã được các NHTM chiết khấu (hoặc tái
chiết khấu) trở thành tài sản của họ. Khi cần tiền, ngân hàng mang những thương
phiếu này đến tái chiết khấu tại NHNN.
NHNN điều hành việc vay mượn này một cách chặt chẽ; tuỳ thuộc chính
sách tiền tệ từng thời kỳ mà NHTM phải thực hiện các điều kiện đảm bảo và kiểm
soát nhất định.
Thông thường NHNN chỉ tái chiết khấu cho những thương phiếu có chất
lượng (thời gian đáo hạn ngắn, khả năng trả nợ cao) và phù hợp với mục tiêu của
NHNN trong từng thời kỳ. Còn trong điều kiện chưa có thương phiếu, NHNN cho
NHTM vay dưới hình thức tái cấp vốn theo hạn mức tín dụng nhất định.
Đứng về phía NHTM, vay tại NHTW là một dịch vụ hết sức tiện lợi vào
những khi NHTW hạ lãi suất chiết khấu trong chính sách cung ứng tiền tệ nới lỏng
để kích thích đầu tư.
Trong trường hợp khi NHTM đến vay giữa lúc NHTW đang thắt chặt cung