LỜI MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài
Trong thời đại toàn cầu hóa, xuất khẩu đóng vai trò quan trọng đối với tăng
trưởng kinh tế của Việt Nam. Nó góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh thế thông qua
sự tích luỹ từ khoản thu ngoại tệ cho đất nước, phát huy tính sáng tạo của các đơn vị
kinh tế thông qua cạnh tranh quốc tế. Kinh doanh xuất khẩu là phương tiện để khai
thác các lợi thế về tự nhiên, vị trí địa lý, nhân lực và các nguồn lực khác. Ngoài ra
hoạt động xuất khẩu còn thúc đẩy quan hệ hợp tác quốc tế giữa các nước và đẩy
mạnh tiến trình hội nhập nên kinh tế toàn cầu.
Doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNNVV) luụn cú vai trò đặc biệt quan trọng
trong nền kinh tế của mỗi quốc gia, ngay cả các nước có trình độ phát triển cao.
Trong xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, các quốc gia đều chú trọng
hỗ trợ DNNVV nhằm huy động tối đa các nguồn lực phát triển kinh tế, tăng sức
cạnh tranh trên thị trường,
Theo thống kê ở Việt Nam hiện nay, DNNVV chiếm tỷ lệ khoảng trên 90%
tổng số doanh nghiệp, là nơi tạo việc làm chủ yếu cho gần 90% lực lượng lao động
trong khu vực doanh nghiệp ở cả thành thị và nông thôn, đóng góp khoảng 40%
GDP. Tiếp tục đẩy mạnh xuất khẩu nói chung, xuất khẩu của DNNVV nói riêng là
một trong những chiến lược quan trọng nhằm thực hiện chủ trương phát triển kinh
tế đa thành phần. Tuy nhiên trong hoàn cảnh hiện nay, DNNVV chưa phát triển
mạnh, khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế cón rất hạn chế. Điều này do
nhiều nguyên nhân như máy móc thiết bị lạc hậu, hệ thống thông tin còn hạn chế,
trình độ cán bộ quản lý cũng và lao động đã qua đào tạo còn thấp… Đặc biệt, một lý
do không thể không nhắc đến và cũng là khó khăn lớn nhất đối với DNNVV là tình
trạng thiếu hụt tài chính, trong đó có nguồn vốn tín dụng.
Trải qua nhiều năm đổi mới, hệ thống các chính sách tài chính nói chung,
chính sách tín dụng xuất khẩu dành cho DNNVV của các ngân hàng thương mại nói
riêng đã có nhiều chuyển biến tích cực, tạo điều kiện cho DNNVV tham gia vào
1
kinh doanh xuất khẩu. Tuy nhiên, nếu đánh giá một cách toàn diện và khách quan,
chính sách tín dụng xuất khẩu vẫn còn nhiều bất cập, thông lệ hoạt động của các tổ
Chính sách tín dụng xuất dành cho DNNVV của ngân hàng thương mại
Phạm vi thời gian:
Luận văn tập trung phân tích chính sách hỗ trợ tín dụng xuất khẩu cho
DNNVV trong thời gian từ năm 2000 đến nay. Luận văn đi sâu phân tích thực trạng
tín dụng xuất khẩi tại Ngân hàng TMCP Xuất nhập khẩu Việt Nam (Eximbank),
một trong những ngân hàng có chiến lược mở rộng tín dụng xuất khẩu rõ nét nhất.
Phương pháp nghiên cứu:
Khung lý thuyết sử dụng:
Luận văn vận dụng những lý thuyết sau:
Lý thuyết của kinh tế phát triển vế tầm quan trọng của xuất khẩu đối với tăng
trưởng kinh tế, vai trò của DNNVV đối với tăng trưởng kinh tế nói chung và xuất
khẩu nói riêng được trình bày trong Giáo trình Kinh tế phát triển, Đại học Kinh tế
Quốc dân, NXB Lao động xã hội xuất bản năm 2005.
Lý thuyết về vai trò của vốn tín dụng xuất khẩu với doanh nghiệp và nghiệp
vụ tín dụng xuất khẩu trình bày trong sách nghiệp vụ “Tớn dụng và thẩm định tín
dụng ngân hàng” do TS. Nguyễn Minh Kiều chủ biên, NXB Tài chính xuất bản năm
2009.
Nguồn dữ liệu:
Luận văn chủ yếu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp, được thu thập từ báo cáo
tài chính của các Ngân hàng TMCP, số liệu thống kê của Tổng cục thống kê và
Ngân hàng nhà nước và các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài.
Phương pháp phân tích dữ liệu:
Sử dụng phương pháp phân tích chỉ số tuyệt đối và tương đối, so sánh theo
thời gian, không gian, so sánh chéo.
Dự kiến các đóng góp của luận văn:
Giá trị khoa học: luận văn làm rõ điều kiện áp dụng các nghiệp vụ tín dụng
xuất khẩu cho DNNVV.
3
Giá trị ứng dụng: luận văn đề xuất một số giải pháp với chính phủ, các ngân
hàng thương mại và các doanh nghiệp nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho
Tín dụng ngân hàng là quan hệ tín dụng phát sinh giữa các ngân hàng và tổ
chức tín dụng với các đối tác kinh tế - tài chính của toàn xã hội, bao gồm doanh
nghiệp, cá nhân, tổ chức xã hội, cơ quan nhà nước. Tín dụng ngân hàng có những
đặc điểm riêng:
Thứ nhất, Huy động vốn và cho vay vốn đều thực hiện dưới hình thức tiền tệ
Thứ hai, Ngân hàng đóng vai trò trung gian trong quá trình huy động vốn và
cho vay;
Thứ ba, Tín dụng ngân hàng thúc đẩy quá trình tập trung và điều hòa vốn
giữa các chủ thể trong nền kinh tế.
Tín dụng xuất khẩu là một bộ phận thuộc tín dụng ngân hàng, tập trung vào
quan hệ kinh tế trong hoạt động xuất khẩu. Hoạt động tín dụng xuất khẩu có thể
diễn ra trước hoặc sau khi giao hàng.
Tín dụng xuất khẩu dành cho DNNVV là những gói sản phẩm tín dụng được
5
các NHTM thiết kế dành riêng cho nhóm đối tượng khách hàng là DNNVV tham
gia xuất khẩu, với mục đích khuyến khích, hỗ trợ DNNVV tham gia vào thị truờng
quốc tế.
1.1.2. Nội dung họat động tín dụng xuất khẩu
1.1.2.1. Cho vay hỗ trợ xuất khẩu
Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó ngân hàng giao cho khách hàng
một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định
theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Lãi suất cho vay được áp
dụng trên cơ sở lãi suất huy động đầu vào và đảm bảo lợi nhuận cho ngân hàng.
Cho vay phục vụ xuất khẩu nhằm mục đích, một là bổ sung nguồn vốn lưu động
nhằm mua sắt nguyên vật liệu, vận hành sản xuất, trả lương cụng nhõn…. để thực
hiện các đơn hàng xuất khẩu; hai là đầu tư mua sắm tài sản cố định nhằm tăng năng
lực sản xuất. Quy trình cho vay cơ bản gồm các buớc:
Bước 1: Lập hồ sơ vay vốn
Bước này do cán bộ tín dụng thực hiện ngay sau khi tiếp xúc khách hàng.
Nhìn chung một bộ hồ sơ vay vốn cần phải thu thập các thông tin như:năng
Thanh lý hợp đồng tín dụng xảy ra khi khỏan vay đến hạn hoặc khách hàng
vi phạm hợp đồng tín dụng. Truờng hợp nếu khách hàng khụng hũan trả gốc
và lãi vay đúng hạn, ngân hàng sẽ xem xét cho gia hạn hoặc chuyển sang nợ
quá hạn để có biện pháp xử lý như giải chấp tài sản đảm bảo hoặc thực hiện
khiếu kiện theo quy định của pháp luật.
1.1.2.2. Chiết khấu và bao thanh túan
Trong hoạt động tài trợ xuất khẩu của NHTM, hai nghiệp vụ chiết khấu và
bao thanh túan cú đặc điểm chung là mua lại các khỏan phải thu của người xuất
khẩu sau khi đó hũan tất việc giao hàng. Mục đích của các nghiệp vụ này giúp cho
doanh nghiệp không bị nợ đọng vốn, quay vòng và sử dụng vốn hiệu quả hơn. Nội
dung cụ thể của từng nghiệp vụ được trình bày dưới đây.
Chiết khấu là một hình thức cấp tín dụng theo đú cỏc tổ chức tín dụng nhận
các chứng từ có giá và trao cho khách hàng một số tiền bằng mệnh giá của chứng từ
7
nhận chiết khấu trừ đi phần lợi nhuận và chi phí mà ngân hàng được hưởng. So với
hình thức cho vay, chiết khấu có điểm khác biệt sau:
Một là, Không cần tài sản thế chấp mà sử dụng ngay chứng từ nhận chiết
khấu làm đảm bảo tín dụng.
Hai là, Ngân hàng thu lãi trước khi phát tiền vay bằng cách khấu trừ vào
mệnh giá.
Ba là, Qui trình xem xét cấp tín dụng đơn giản và nhanh hơn so với cho vay.
Chiết khấu đuợc phân loại thành chiết khấu miễn truy đòi, tức là NHTM mua
đứt, và chiết khấu bảo lưu quyền truy đòi.
Trong hoạt động xuất khấu, nghiệp vụ chiết khấu đuợc NHTM áp dụng chiết
khấu hối phiếu đối với phuơng thức thanh túan Thư tín dụng (L/C). Ở đây hối phiếu
là chứng chỉ có giá do người ký phát lập, yêu cầu người bị ký phát thanh toán không
điều kiện một số tiền xác định khi có yêu cầu hoặc vào một thời gian nhất định
trong tương lai cho người thụ hưởng. Trong thương mại hối phiếu do người xuất
khẩu ký phát để đòi tiền người trả tiền, có thể là người nhập khẩu hoặc ngân hàng
phát hành thư tín dụng theo yêu cầu của người nhập khẩu.
khi khấu trừ tiền ứng truớc và lợi nhuận của ngân hàng.
Quy trình Bao thanh túan xuất khẩu:
Bước 1: Nhà xuất khẩu và bên mua hàng ký kết hợp đồng mua, bán hàng
hóa, tiến hành giao hàng.
Bước 2: Nhà xuất khẩu gởi hồ sơ đến bộ phận tín dụng NHTM đề nghị thực
hiện Bao thanh toán các khoản phải thu.
Bước 3: NHTM và bên bán hàng ký kết hợp đồng Bao thanh toán, hợp đồng
bảo đảm và các thỏa thuận khác.
Bước 4: NHTM và người xuất khẩu đồng ký gởi văn bản thông báo về hợp
đồng Bao thanh toán cho bên mua hàng và cỏc bờn liên quan.
Bước 5: Bên mua hàng gởi văn bản cho NHTM và bên bán hàng xác nhận về
việc đã nhận được thông báo và cam kết thực hiện như thỏa thuận.
Bước 6: Bên bán hàng chuyển giao bản gốc hợp đồng mua bán hàng, chứng
9
từ liên quan khác cho NHTM và ký khế ước nhận nợ với NHTM. NHTM
thu phí và chuyển tiền ứng trước cho khách hàng.
Buớc 7: NHTM theo dõi thu nợ từ số tiền do bên mua hàng thanh toán.
1.1.2.3. Bảo lãnh tín dụng xuất khẩu
Bảo lãnh tín dụng là việc ngân hàng cam kết sẽ thanh toán cho bên thụ
hưởng của hợp đồng khoản đền bù trong phạm vi của số tiền được nêu rõ trong giấy
bảo lãnh nếu bên đối tác không thực hiện được trách nhiệm của mình trong hợp
đồng. Khi uy tín của người xuất khẩu chưa đủ để tạo sự tin tưởng tuyệt đối cho đối
tác, Bảo lãnh tín dụng xuất khẩu của NHTM giúp doanh nghiệp thuận lợi hơn để
giành đuợc các hợp đồng. Quy trình thực hiện bảo lãnh tín dụng xuất khẩu:
Bước 1: Khách hàng gửi hồ sơ xin bảo lãnh đến ngân hàng.
Bước 2: Ngân hàng bảo lãnh thẩm định hồ sơ xin bảo lãnh.
Bước 3: Ngân hàng xác định các chỉ tiêu chủ yếu là mức tiền bảo lãnh, thời
hạn bảo lãnh và phí bảo lãnh.
Căn cứ để ngân hàng bảo lãnh xác định mức tiền bảo lãnh là: Nhu cầu bảo
lãnh của khách hàng; Giá trị tài sản thế chấp cầm cố và mức tiền bảo lãnh tối
1
. Căn cứ vào độ lớn hay quy mô của doanh
nghiệp, người ta phân loại doanh nghiệp thành doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp nhỏ
và vừa (DNNVV). Mặc dù có những khác biệt nhất định giữa các nước về tiêu thức
và tiêu chuẩn cụ thể, song khái niệm chung nhất về DNNVV có nội dung như sau:
DNNVV là những cơ sở sản xuất kinh doanh có tư cách pháp nhân, có quy
mô doanh nghiệp trong những giới hạn nhất định tính theo cỏc tiờu thức: vốn, lao
động, doanh thu, năng lực sản xuất, tổng tài sản, giá trị gia tăng thu được trong từng
thời kỳ theo quy định của từng quốc gia.
Qua nghiên cứu tiêu thức phân loại ở một số nước cho thấy, một số tiêu thức
chung, có tính phổ biến thường đuợc sử dụng để phân loại doanh nghiệp là:
Số lượng lao động thường xuyên;
Vốn sản xuất kinh doanh;
Doanh thu; hoặc
Lợi nhuận.
1
Theo Khoản 1 Điều 4 Luật doanh nghiệp ban hành ngày 29 tháng 11 năm 2005
11
Tiêu thức về số lao động và vốn phản ánh quy mô sử dụng các yếu tố đầu
vào, cũn tiờu thức về doanh thu và lợi nhuận lại đánh giá quy mô theo kết quả đầu
ra. Như vậy, để phân loại doanh nghiệp vừa và nhỏ có thể dụng cỏc yờu tố đầu vào,
các yếu tố đầu ra hoặc là sự kết hợp của cả hai loại yếu tố đó.
Chúng ta có thể tham khảo cách phân loại DNNVV của các nước APEC và
khối EU dưới đây:
Bảng 1.1: Tiêu chí phân loại DNNVV ở các nước APEC
Nước Tiêu chí phân loại
Australia
Canada
Hồng Kông
Indonesia
Tổng tài sản
(Triệu euro)
Vừa
Nhỏ
Siêu nhỏ
<250
<50
<10
50
10
2
43
10
2
Nguồn: “Tài trợ tín dụng Ngân hàng cho các Doanh nghiệp nhỏ và vừa”, Ts.
Trương Quang Thông, NXB. ĐHQG Thành Phố Hồ Chí Minh
Việc sử dụng cỏc tiờu thức để phân loại DNNVV ở các nước trên thế giới có
một số đặc điểm chủ yếu:
Một là, các nuớc sử dụng tiêu thức khác nhau. Trong số cỏc tiờu thức nêu
trên, hai tiêu thức được sử dụng nhiều nhất là quy mô vốn và lao động.
Hai là, Số lượng tiêu thức sử dụng để phân loại cũng không giống nhau. Có
nước sử dụng một tiêu thức, nhưng cũng có nước sử dụng đồng thời hai hay
nhiều tiêu thức.
Ba là, Lượng húa cỏc tiờu thức này thành các tiêu chuẩn giới hạn cụ thể ở
các nước khác nhau cũng không giống nhau. Độ lớn của các tiêu chuẩn giới
hạn phụ thuộc và trình độ, hoàn cảnh, điều kiện phát triển kinh tế, định
hướng chính sách và khả năng trợ giúp DNNVV của mỗi nước.
Ở Việt Nam,Theo Nghị định của Chính phủ về “Giỳp phát triển doanh
nghiệp vừa và nhỏ” số 90/2001/NĐ-CP ban hành, thực hiện thống nhất ngày
23/11/2001, định nghĩa doanh nghiệp vừa và nhỏ là “cơ sở sản xuất, kinh doanh độc
xuống
20 tỷ đồng
trở xuống
từ trên 10
người đến
200 người
Từ trên 20 tỷ
đồng đến
100 tỷ đồng
từ trên 200
người đến
300 người
II. Công nghiệp và
xây dựng
10 người trở
xuống
20 tỷ đồng
trở xuống
từ trên 10
người đến
200 người
Từ trên 20 tỷ
đồng đến
100 tỷ đồng
từ trên 200
người đến
300 người
III. Thương mại và
dịch vụ
10 người trở
Một là, DNNVV cung cấp khối lượng lớn, đa dạng và phong phú về chủng
loại hàng hóa, dịch vụ, góp phần quan trọng vào tốc độ tăng trưởng kinh tế
của mỗi quốc gia. Với các quốc gia đang phát triển, GDP hàng năm do
DNNVV tạo ra chiếm tỷ trọng khá lớn, đảm bảo thực hiện các chỉ tiêu tăng
trưởng kinh tế.
Hai là, DNNVV tạo nguồn thu nhập ổn định, thường xuyên cho dân cư, giúp
phần giảm bớt chênh lệch về thu nhập cho các bộ phận dân cư. Khả năng sản
xuất phân tán, sư dụng lao động tạo chỗ là điểm mạnh của DNNVV.
Ba là, khai thác và thu hút tiềm năng, nguồn lực của các địa phương, các
nguồn tài chính của dân cư trong vùng, tạo ra tính năng động cho nền kinh
tế. Do quy mô gọn nhẹ, vốn ít, DNNVV có khả năng chuyển đổi mặt hàng,
chuyển hướng sản xuõt nhanh mà ớt gõy biến động cho nền kinh tế.
Bốn là, hình thành và phát triển đội ngũ doanh nhân năng động. Cùng với sự
phát triển các DNNVV là sự xuất hiện ngày càng nhiểu hơn các nhà kinh
doanh sáng lập, là lực lượng rất cần thiết để góp phần thức đẩy sản xuất.
Năm là, tạo ra môi trường cạnh trang lành mạnh, tạo ra sức ép buộc cac
doanh nghiệp phải thường xuyên đổi mới sản phẩm, giảm chi phí, tăng chất
lượng để duy trì vị thế trên thị trường.
1.2.2. Lợi ích từ việc mở rộng mở rộng tín dụng xuất khẩu cho DNNVV
1.2.2.1. Thúc đẩy xuất khẩu
Xuất khẩu là đưa hàng hóa (hữu hình hoặc vô hình) ra nước ngoài và thu
ngoại tệ về. Có 2 hình thức xuất khẩu là xuất khẩu ra nước ngoài và xuất khẩu tại
chỗ (bán hàng trong nước nhưng bán cho người nước ngoài và thu ngoại tệ về). Ở
15
các nước đang phát triển, hoạt động xuất khẩu đóng vai trò quan trọng đối với tăng
trưởng và phát triển kinh tế. Xuất khẩu tạo nguồn vốn để phục vụ cho sự nghiệp
công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước, mang lại nguồn thu ngoại tệ cần để nhập
khẩu máy móc, thiết bị, công nghệ hiện đại. Xuất khẩu không chỉ tạo ra giá trị gia
tăng trực tiếp cho sản phẩm được đem trao đổi mà còn làm gia tăng nhu cầu sản
xuất, kinh doanh ở những ngành liên quan khác, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh
nhất, tín dụng ngân hàng bổ sung nguồn vốn thiếu hụt cho DNNVV trong quá trình
sản xuất, cung ứng hàng hóa, dịch vụ. Do những đặc điểm về khoảng cách địa lý xa
xôi, thủ tục xuất nhập khẩu phức tạp, biến động trên thị trừong thế giời phức tạp,
các đơn hàng xuất khẩu thừơng có giá trị lớn, có thể yêu cầu số lượng sản phẩm lớn
và chất lượng sản phẩm cao, nhằm làm cho chi phí vận chuyển, logistic hàng hóa
bình quân thấp xuống. Nếu không có trợ giúp các NHTM, DNNVV khó có thể đảm
đưong được nhiều đơn hàng. Thứ hai, tín dụng ngân hàng giúp DNNVV quay vòng
và sử dụng vốn hiệu quả hơn. Đặc điểm của hoạt động ngoại thương là thời gian
giao hàng kéo dài, thủ tục thanh túan phức tạp hơn rất nhiều so với thanh túan trong
nước, nhất là với phương thức thanh túan qua thư tín dụng (L/C). Chính vì vậy,
doanh nghiệp rất dễ bị nợ đọng vốn. Tài trợ của các NHTM sẽ làm tăng tính thanh
khỏan cho dòng tiền của doanh nghiệp, giải quyết tình trạng ứ đọng vốn. Thứ ba,
NHTM có thể đóng vai trò là định chế tài chính đảm bảo cho DNNVV khi làm việc
với đối tác nước ngũai. Trong bối cảnh các DNNVV nguồn lực còn hạn chế, uy tín
với đối tác chưa cao, NHTM có thể dùng uy tín của tổ chức tín dụng bảo đảm cho
DNNVV được nhận và thực hiện các hợp đồng.
1.2.2.3. Mở rộng đối tượng khách hàng cho các NHTM
NHTM có ba chức năng cơ bản, đó là chức năng trung gian tín dụng, chức
năng trung gian thanh túan và chức năng tạo tiền.
Chức năng trung gian tín dụng được xem là chức năng quan trọng nhất của
ngân hàng thương mại. Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, NHTM đóng
vai trò là cầu nối giữa người có tiền nhàn rỗi và người có nhu cầu về vốn. Ngân
hàng thương mại vừa đóng vai trò là người đi vay, vừa đóng vai trò là người cho
17
vay và hưởng lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa lãi suất nhận gửi và lãi suất cho
vay. Người đi vay, đa phần là các doanh nghiệp, chính là nhân tố đảm bảo đầu ra và
lợi nhuận cho NHTM.
Với chức năng trung gian thanh toán, NHTM đóng vai trò là thủ quỹ cho các
cá nhân và doanh nghiệp, thực hiện các thanh toán theo yêu cầu của khách hàng với
các sản phẩm như séc, ủy nhiệm chi, ủy nhiệm thu, thẻ … Qua đó NHTM đã thúc
Dư nợ tín dụng xuất khẩu NHTM cấp cho DNNVV. Tiêu chí này cho biết
quy mô tín dụng xuất khẩu dành cho DNNVV tại các NHTM, bao gồm các hình
thức tín dụng như cho vay, chiết khấu, bao thanh túan, bảo lãnh. Theo dõi tỷ lệ tăng
trưởng của dư nợ tín dụng xuất khẩu và so sánh với dư nợ tín dụng xuất khẩu cấp
cho DNNVV với tổng dư nợ tín dụng háng năm của NHTM và sẽ cho thấy sự quan
tâm của NHTM dành cho nhóm khách hàng này.
Các hình thức tín dụng xuất khẩu được triển khai và tỷ trọng từng loại.
Việc NHTM triển khai được các hình thức cấp tín dụng khác nhau sẽ tạo điều kiện
cho DNNVV lựa chọn sản phẩm phù hợp với nhu cầu thực tế. Nhìn chung khi
NHTM mới tham gia hội nhập quốc tế, hình thức cho vay xuất khẩu sẽ chiếm tỷ
trọng rất lớn. Tỷ trọng các hình thức tín dụng khác sẽ được nâng lên dần dần.
Tỷ lệ doanh nghiệp được tiếp cận với tín dụng xuất khẩu. Không phải tất
cả DNNVV có nhu cầu đều được cấp tín dụng xuất khẩu. Phan tích tỷ lệ doanh
nghiệp được tiếp cận với tín dụng xuất khẩu, so sánh với tỷ lệ doanh nghiệp bị từ
chối và tìm hiểu các nguyên nhân khiến doanh nghiệp không nhận được sự chấp
thuận của NHTM sẽ đưa ra những gợi ý chính sach để mở rộng tín dụng chó
DNNVV xuất khẩu.
1.4. Các nhân tố tác động đến việc cấp tín dụng xuất khẩu của NHTM
cho DNNVV
1.4.1. Các chính sách của chính phủ
1.4.1.1. Chính sách phát triển kinh tế nhiều thành phần
Đường lối phát triển kinh tế trong thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội
được xác định là: Phát triển nền kinh tế nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần
19
kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế quốc dân.
Kinh tế nhà nước bao gồm các doanh nghiệp nhà nước, ngân hàng nhà nước, các
quỹ dự trữ quốc gia, các quỹ bảo hiểm nhà nước và các tài sản thuộc sở hữu nhà
nước. Tuy nhiên, vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước không phải là kinh tế nhà
nước chiếm tỉ trọng lớn trong nền kinh tế quốc dân, mà là kinh tế nhà nước nắm lấy
những lĩnh vực then chốt, quan trọng của nền kinh tế quốc dân, là lực lượng vật chất
Vì vậy, việc chính phủ tạo ra một sân chơi bình đẵng giữa các thành phần
kinh tế sẽ có những ảnh hưởng cả trước mắt cũng như lâu dài đến việc DNNVV tiếp
cận được với tín dụng NHTM nói chung và tín dụng xuất khẩu nói riêng.
1.4.1.2. Chính sách điều hành vĩ mô đối với hoạt động của NHTM
Mục tiêu của chính phủ là sử dụng NHTM như một kênh dẫn vốn, phân bổ
trong nền kinh tế, chuyển dịch vốn đến những đơn vị có khả năng sử dụng nguồn
lực một cách hiệu quả nhất. Việc ngân hàng trao vốn cho doanh nghiệp phải nhằm
vào việc thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế, tạo ra sự vững chắc cho những
chiến lược kinh tế lâu dài của đất nước. Chính phủ phải điều tiết hoạt động của các
ngân hàng nhằm gắn mục tiêu kinh doanh của ngân hàng với mục tiêu phát triển của
đất nuớc. Trong nền kinh tế thị truờng, khi mọi doanh nghiệp đều chạy theo lợi
nhuận, thường xuất hiện những ngành phát triển “núng”, cú tốc độ phát triển rất
nhanh, đuợc kỳ vọng nhiều, thậm chí đuợc định giá cao hơn giá trị thực như bất
động sản, chứng khúan…. Chính phủ cần tránh việc các ngân hàng dồn quá nhiều
vốn cho các ngành phát triển nóng này; vì mặc dù các NHTM có thể thu lợi truớc
mắt nhưng lại có thể dẫn đến tình trạng “bong búng”, đổ vỡ trong tuơng lai. Cuộc
khủng hỏang tài chính - tín dụng diễn ra từ cuối năm 2008 bắt nguồn từ việc các
ngân hàng quá chú trọng cho vay kinh doanh nhà đất là ví dụ điển hình cho ngân
hàng quá chú trọng đến các ngành đang phát triển núng đó gõy hậu quả nghiêm
trọng như thế nào. Chính phủ cần phải điều hành ở tầm vĩ mô để ngân hàng có sự
cân bằng trong việc phân bổ tín dụng cho các ngành kinh tế, cân đối giữa cho vay
tiêu dùng với vay để sản xuất - xuất khẩu.
Ngũai ra, chính phủ cần xem xét số luợng và quy mô các NHTM. Việc có
21
quá nhiều ngân hàng quy mô nhỏ, hoạt động không lành mạnh, thanh khỏan kém dễ
dẫn đến tình trạng vay mượn lẫn nhau giữa các ngân hàng. Các ngân hàng lớn, có
nguồn tiền dồi dào lại đem cho ngân hàng nhỏ vay. Nguồn vốn tín dụng thay vì đi
thẳng từ ngân hàng đến doanh nghiệp lại đi qua một ngân hàng nhỏ, trung gian ở
giữa, làm tăng chi phí vốn vay đối với doanh nghiệp.
1.4.1.3. Chính sách bảo lãnh và bảo hiểm tín dụng xuất khẩu đối với DNNVV
Trong hoạt động tín dụng, các ngân hàng luôn là người có ít thông tin về dự
án, về mục đích sử dụng khoản tín dụng được cấp hơn khách hàng. Do đó, để đảm
bảo an toàn trong hoạt động của mình, bản thân các tổ chức tín dụng phải xử lý
thông tin bất cân xứng để hạn chế lựa chọn bất lợi và tâm lý ỷ lại nhằm cho vay
đúng người đúng đối tượng và giám sát chặt chẽ để khách hàng vay vốn có hành vi
đúng đắn nhằm đảm việc thu hồi cả gốc và lãi khoản tín dụng đã cấp ra. Trường
hợp có doanh nghiệp vi phạm nội dung của hợp đồng tín dụng, các NHTM cần
thông tin cho nhau để thay đổi xếp hạng tín dụng của doanh nghiệp. Trong một nền
kinh tế, hầu như không một ngân hàng nào có đủ khả năng tự mình xử lý được vấn
đề thông tin bất cân xứng mà cần phải có một cơ sở hạ tầng và hệ thống thông tin
đủ mạnh hỗ trợ cho hoạt động của NHTM.
Đối với hoạt động tín dụng xuất khẩu của DNNVV, vai trò của hệ thống
thông tin về doanh nghiệp là cực kỳ quan trọng, trong khi khả năng thu thập lại khó
khăn, vì hoạt động giao thương diễn ra trong phạm vi quốc tế, muốn có số liệu
thụng kờ chính xác phải phối hợp cả với nước nhập khẩu. Bản thân hệ thống sổ sách
của các DNNVV cũng không được ghi chép đầy đủ, và các doanh nghiệp này không
phải chịu trách nhiệm công bố thông tin như những công ty đại chúng. Vai trò của
chính phủ rất quan trọng trong việc phối hợp các cơ quan chức năng để tạo ra mạng
lưới cung cấp thông tin phong phú, cập nhật, đầy đủ.
Những thông tin cơ bản mà NHTM cần thu thập khi tiến hành thẩm định tín
dụng xuất khẩu bao gồm:
Thông tin về doanh nghiệp xuất khẩu: thành tích xuất khẩu, doanh thu, lợi
nhuận hàng năm, lịch sử vay nợ và trả nợ
23
Thông tin về ngành xuất khẩu: Tiềm năng phát triển của ngành, tốc độ tăng
trưởng; tỷ suất doanh thu, lợi nhuận bình quân, định mức chi phí; vị thế của
Việt Nam trên thị trưởng quốc tế của ngành đó
Thông tin về đối tác nhập khẩu: Vị trí, quy mô của đối tác nhập khẩu ở nước
nhập khẩu, lịch sử tham gia thương mại quốc tế của đối tác đó
Một số cơ quan nhà nước có vai trò quan trọng có khả năng nắm giữ thông
vốn là đối tượng kinh doanh chủ yếu, vốn là cơ sở để ngõn hàng tổ chức mọi
hoạt động kinh doanh. Khả năng về vốn là cơ sở để ngân hàng mở rộng khối
lượng tín dụng và có thể quyết định cả mức lãi suất cho vay. Nếu đó có tiềm lực
về vốn ngân hàng có thể giảm mức lãi suất cho vay từ đó tạo cho ngân hàng ưu thế
trong cạnh tranh.
Các phương thức huy động vốn của NHTM bao gồm:
Vốn tự có: là giá trị thực có của vốn điều lệ và các quỹ dự trữ và một
số tài sản nợ khác của ngõn hàng theo quy định của NHNN. Vốn tự có
chiếm tỷ trọng rất nhỏ nhưng có vai trò rất quan trọng đối với hoạt động
của NHTM.
Huy động tiền gửi từ dân cư và các tổ chức kinh tế bằng hình thức tiền gửi
không kỳ hạn hoặc có kỳ hạn (Tiền gửi tiết kiệm)
Tiền gửi không kỳ hạn là loại tiền gửi mà khách hàng có thể rút ra bất
cứ lúc nào. Khách hàng có thể yêu cầu ngân hàng trích tiền trên tài khoản để
chuyển trả cho người thụ hưởng, hoặc chuyển số tiền được hưởng vào tài
khoản này. Đối với tài khoản tiền gửi này, mục đích chính của người gửi tiền
là nhằm đảm bảo an toàn về tài sản và thực hiện các khoản thanh toán qua
ngân hàng, do vậy, nú cũn được gọi là tiền gửi thanh toán. Tiền gửi không kỳ
hạn có chi phí thấp, tuy nhiên ngoài chi phí lói, cũn cú chi phí phát sinh trong
hoạt động phục vụ thanh toán. Để tăng nguồn tiền gửi không kỳ hạn, ngân
hàng phải đa dạng hóa và phục vụ tốt các dịch vụ trung gian, huy động nhiều
khách hàng là các doanh nghiệp lớn sẽ làm cho mức dư tiền gửi bình quân tại
các ngân hàng luôn cao và ổn định, tạo điều kiện cho ngân hàng có thể sử dụng
25