Báo cáo thực tập tốt nghiệp về phòng tư liệu thư viện đài tiếng nói việt nam - Pdf 22

Trường Cao Đẳng Nội vụ Hà Nội

Khoa Văn hóa Thông tin và Xã
hội
LỜI NÓI ĐẦU
“Th viÖn lµ kho tµng chøa tÊt c¶ cña c¶i tinh thÇ n
cña loµi ngêi

(G.V.LeiBniz)
Ngày nay, cùng với sự phát triển của xã hội, con nguời đã và đang bước
vào thời đại tri thức, thời đại của khoa học kỹ thuật, thời đại của sự “ bùng nổ
thông tin”. Thông tin trở thành yếu tố quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp tới sự
phát triển của tất cả các mặt xã hội, trong đó có lĩnh vực Thông tin - Thư viện.
Thư viện là một thiết chế văn hóa, giáo dục, thông tin khoa học có
nhiệm vụ thu thập, lưu giữ và tổ chức sử dụng tài liệu cho NDT. Thư viện
không trực tiếp sản xuất ra của cải, vật chất của xã hội nhưng có vai trò quan
trọng trong sự thúc đẩy xã hội phát triển.
Ngoài chức năng là nơi tàng trữ, bảo quản kho tàng tri thức của nhân
loại, thư viện còn là chiếc cầu nối giữa tri thức với NDT, là nơi cung cấp
những thông tin bổ ích đáp ứng nhu cầu tinh thần của con người, góp phần
nâng cao trình độ dân trí và chất lượng giáo dục.
Cùng với việc đổi mới, nâng cao chất lượng dạy và học, đồng thời xác
định “học đi đôi với hành”, “lý thuyết gắn liền với thực tiễn”. Trường Cao
đằng Nội vụ Hà Nội đã thực hiện chương trình thực tập cuối khóa cho sinh
viên nhằm cũng cố kiến thức, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, đặc
biệt là giúp cho sinh viên có điều kiện làm quen với thực tế công việc và vai
trò người cán bộ Thư viện thực thụ.
Được sự chỉ đạo, phân công của khoa VHTT&XH, em cùng với bốn
bạn sinh viên được phân công về thực tập tại phòng Tư liệu – Thư viện Đài
Tiếng nói Việt Nam. Quá trình thực tập tại Phòng thực sự là thời gian quý
báu, giúp chúng em có dịp áp dụng kiến thức lý luận đựơc trang bị trong nhà

SINH VIÊN THỰC HIỆN
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Sinh viên: Vũ Thị Thủy – TTTVK3
Trường Cao Đẳng Nội vụ Hà Nội

Khoa Văn hóa Thông tin và Xã
hội
Vũ Thi Thủy
CHƯƠNG I:
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ PHÒNG TƯ LIỆU - THƯ VIỆN ĐÀI TIẾNG
NÓI VIỆT NAM
I. CHỨC NĂNG, NHIỆM VỤ, QUYỀN HẠN VÀ CƠ CẤU TỔ CHỨC
CỦA ĐÀI TIẾNG NÓI VIỆT NAM
1. Lịch sử hình thành Đài Tiếng nói Việt Nam
Đài Tiếng nói Việt Nam (TNVN) (tên giao dịch tiếng Anh là Radio The
Voice of Vietnam - viết tắt là VOV), là cơ quan truyền thông của Đảng, Nhà
nước và nhân dân. Quá trình hình thành và phát triển của Đài TNVN trải qua
những giai đoạn sau:
- Ngày 7/9/1945: Đài TNVN chính thức thành lập.
- Ngày 20/10/1954: Đài TNVN thực sự phát sóng từ Thủ đô nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa.
- Năm 1962: Chính phủ quyết định chuyển các máy phát sóng phát
thanh sang cho Tổng cục Bưu điện. Đài TNVN tập trung vào khâu biên tập
đến ghi âm và truyền tín hiệu. Cũng trong năm này, Đài TNVN được nâng
cấp thành một cơ quan trực thuộc Hội Đồng chính phủ. Tổ chức của Đài
TNVN cũng phân thành các ban biên tập tươg đương cấp vụ, cục.
- Ngày 16/6/1976: Đài truyền hình TW chính thức phát sóng hàng ngày.
Ban Lãnh Đạo đổi tên là Ban Giám đốc. Đài TNVN đổi tên là Đài phát thanh
và truyền hình.
- Tháng 9/1977: Chính phủ ban hành Nghị định thành lập Ủy ban Phát
thanh và Truyền hình trong đó có Đài TNVN và Đài Truyền hình Việt Nam.

phát thanh, phát thanh trên Internet, phát thanh có hình và báo viết. Đài
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Sinh viên: Vũ Thị Thủy – TTTVK3
Trường Cao Đẳng Nội vụ Hà Nội

Khoa Văn hóa Thông tin và Xã
hội
TNVN chịu sự quản lý nhà nước của Bộ Thông tin và Truyền thông về hoạt
động báo chí, tần số và truyền dẫn, phát sóng phát thanh.
Đài TNVN tổ chức sản xuất các chương trình và thực hiện truyền dẫn,
phát sóng; thu thập tin tức, tư liệu, sản phẩm nghe - nhìn, sản phẩm truyền
thông đa phương tiện; thực hiện quy định của pháp luật về lưu trữ quốc gia
các tư liệu phát thanh.
Đài TNVN có các hệ phát thanh từ VOV1 đến VOV5 và thêm hệ phát
thanh VOVTV (Hệ phát thanh có hình).
3. Cơ cấu tổ chức của Đài TNVN
Đài TNVN là Đài phát thanh quốc gia, là cơ quan trực thuộc chính phủ
với đội ngũ nhân viên hơn 2000 người, 5 cơ quan thường trú trong nước, 7 cơ
quan thường trú ngoài nước. Độ phủ sóng toàn quốc của Đài là 99,5%
Cơ cấu tổ chức của Đài TNVN gồm: Tổng Giám đốc, các phó Tổng
giám đốc và các đơn vị phòng ban khác ở các cấp nhỏ hơn. (Xem Phụ lục 1)
II. TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG PHÒNG TƯ LIỆU - THƯ VIỆN
ĐÀI TIẾNG NÓI VIỆT NAM
1. Lịch sử hình thành Phòng Tư liệu - Thư viện Đài TNVN
Phòng Tư liệu - Thư viện (TL - TV) Đài TNVN, (trước đây là tổ Tư
liệu Đài TNVN) được hình thành từ năm 1960. Cùng với các tổ biên tập của
Đài , năm 1975 Tổ Tư liệu chuyển thành phòng TL - TV . Đến năm 1977 khi
thành lập Ủy ban phát thanh - Truyền hình Việt Nam, phòng TL - TV vẫn là
đơn vị trực thuộc Đài TNVN, nhưng chịu sự quản lý của Văn phòng Ủy ban Phát
thanh - Truyền hình Việt Nam.
Năm 1987, Phòng được đổi tên với tên gọi chính thức là phòng TL -

học của cán bộ, phóng viên.
- Nghiên cứu, đề xuất phương hướng phát triển vốn tài liệu phong phú,
đa dạng phù hợp với chức năng, nhiệm vụ của Đài. Từ đó thu thập, bổ sung,
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Sinh viên: Vũ Thị Thủy – TTTVK3
Trường Cao Đẳng Nội vụ Hà Nội

Khoa Văn hóa Thông tin và Xã
hội
xử lý, phân tích, tổng hợp, báo cáo và cung cấp thông tin cũng như chịu mọi
trách nhiệm bảo quản vốn tài liệu trong Phòng TL - TV.
- Xây dựng hệ tra cứu, tìm tin thích hợp, thiết lập mạng lưới truy cập và
tìm tin tự động hóa, tổ chức cho toàn thể bạn độc khai thác, sự dụng vốn tài
liệu thuận tiện và có hiệu quả.
- Thu thập, bổ sung sách báo bằng các hình thức: mua, nhận biếu tặng,
sao chụp tài liệu…
- Biên mục, phân loại, đăng kí, làm thư mục giới thiệu tài liệu mới ,
nhằm phục vụ bạn đọc tra cứu dễ dàng
- Phục vụ bạn đọc bằng nhiều hình thức khác nhau để đảm bảo bạn đọc
có thể được thỏa mãn nhu cầu tin một cách tốt nhất. Phục vụ đọc tại chỗ,
mượn về nhà, in và sao chụp tài liệu.
- Bảo quản tốt sách báo, tài liệu bằng biện pháp quản lý và bảo quản kỹ
thuật.
- Có kế hoạch chủ động thường xuyên bồi dưỡng chuyên môn nghiệp
vụ, ngoại ngữ, tin học… cho cán bộ thư viện để không ngừng nâng cao chất
lượng hoạt động của phòng.
- Tổ chức kiểm kê định kỳ các loại tài liệu hiện có trong thư viện để
đưa ra chính sách phát triển vốn tài liệu hợp lý.
- Xây dựng một hệ thống tư liệu phong phú đa dạng cả về nội dung lẫn
hình thức
- Đáp ứng một cách tốt nhất nhu cầu tin của bạn đọc, phục vụ cho

- Tư liệu kinh tế - xã hội, các ngành kinh tế công - lâm - ngư nghiệp.
- Tư liệu văn hóa - xã hội, các lĩnh vực y tế, giáo dục, văn hóa và những
vẫn đề văn hóa xã hội khác.
- Tư liệu thế giới, theo dõi tất cả những vấn đề kinh tế, chính trị, văn
hóa, xã hội của các nước, các tổ chức xã hội trên thế giới
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Sinh viên: Vũ Thị Thủy – TTTVK3
Trường Cao Đẳng Nội vụ Hà Nội

Khoa Văn hóa Thông tin và Xã
hội
Ngoài ra phòng TL - TV Đài TNVN còn có khoảng 160 loại báo và tạp
chí các loại được phân chia sắp xếp theo vần các chữ cái tạo điều kiện thuận
lợi cho việc tra tìm tài liệu cũng như cung cấp thông tin kịp thời cho bạn đọc.
Hiện nay, Phòng TL - TV Đài TNVN đang sử dụng bảng phân loại 19
lớp của Thư viện Quốc gia Việt Nam nên tài liệu trong kho của phòng được
sắp xếp theo 24 chuyên mục chính. Trong mỗi chuyên mục chính lại được
phân chia thành các mục nhỏ khác nhau phản ánh nội dung của tài liệu.
Với đối tượng phục vụ chính của thư viện là phóng viên, biện tập viên,
cán bộ công nhân viên chức, nội dung tài liệu chiếm ưu thế trong kho là:
- Sách triết học, chính trị, kinh tế, giáo trình Mác - Lênin.
- Sách có nội dung nghề nghiệp báo chí nói chung và phát thanh nói
riêng.
- Sách chính trị xã hội.
- Sách có nội dung về Đảng CSVN và bác Hồ.
- Sách kinh tế các loại, kinh tế Viết Nam, kinh tế nước ngoài.
- Sách lịch sử, lịch sử Việt Nam, lịch sử thế giới.
- Sách văn học: truyện, thơ, kịch, dân gian.
- Các loại báo, tạp chí.
…………
Cơ cấu vốn tài liệu cụ thể ( Xem Phụ lục 4 )

Các cơ sở của phòng TL - TV đều được trang bị máy tính điện tử nối
mạng LAN, mạng Internet tạo điều kiện thuận lợi cho cán bộ thư viện trong
công tác nghiệp vụ cũng như trao đổi thông tin. Để tiến tới tin học hóa thư
viện, vừa qua Phòng TL - TV đã được trang bị thêm 02 máy tính điện tử. Bên
cạnh đó, Phòng TL - TV còn được trang bị máy in, máy fax, máy photocopy
để phục vụ cho hoạt động của Phòng và đáp ứng nhu cầu sao chụp tài liệu của
bạn đọc, 02 máy điều hòa để đảm bảo nhiệt độ ổn định bảo quản tốt vốn tài
liệu cũng như tạo điều kiện làm việc tốt nhất cho cán bộ và bạn đọc.
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Sinh viên: Vũ Thị Thủy – TTTVK3
Trường Cao Đẳng Nội vụ Hà Nội

Khoa Văn hóa Thông tin và Xã
hội
Hiện nay phòng TL - TV đang sử dụng phần mềm WEBLIBVN 2.0,
phần mềm có nhiều tính năng tiện ích.
Nhìn chung trụ sở, trang thiết bị của thư viện khá đầy đủ, hiện đại và
phần nào đáp ứng nhu cầu của độc giả.
6. Người dùng tin
6.1. Đối tượng người dùng tin
Để có thể xây dựng được kho tài liệu của thư viện đầy đủ, hợp lý đáp
ứng nhu cầu của bạn đọc một cách tốt nhất thì việc xác định chính xác được
đối tượng người dùng tin (NDT) là rất quan trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến kết
quả hoạt động của Thư viện.
Người dùng tin tại phòng TL - TV Đài TNVN khá đa dạng bao gồm các
cán bộ lãnh đạo, quản lý, các phóng viên, biên tập viên, phát thanh viên, công
nhân viên Họ công tác ở các bộ phận, phòng ban với những chức năng và
nhiệm vụ khác nhau. Ngoài ra còn có nhóm đối tượng NDT ngoài Đài
TNVN.
Qua quá trình tìm hiểu Phòng TL - TV Đài TNVN, có thể phân chia
NDT của Đài thành các nhóm cơ bản sau:

tin kịp thời thì nhu cầu tin về lĩnh vực quản lý báo chí nói riêng của nhòm
NDT này cũng rất lớn.
Mặt khác nhóm NDT này không chỉ sử dụng thông tin mà họ còn chính
là đối tượng sản sinh ra thông tin mới. Vậy nên đây là nhóm đối tượng NDT
được Phòng TL - TV Đài TNVN đặc biệt ưu tiên.
Nhóm NDT là phóng viên, biên tập viên, phát thanh viên
Đây là nhóm NDT chiếm tỉ lệ cao nhất. Họ là những phóng viên, biên
tập viên, phát thanh viên và đồng thời họ cũng là lực lượng lao động chủ yếu
của Đài TNVN.
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Sinh viên: Vũ Thị Thủy – TTTVK3
Trường Cao Đẳng Nội vụ Hà Nội

Khoa Văn hóa Thông tin và Xã
hội
Đặc điểm của nhóm NDT này là học vấn khá cao, hiểu biết rộng, sắc
sảo, linh hoạt, năng động, nhạy bén, khả năng nắm bắt và phân tích thông tin
chính xác. Họ vừa là người tiếp nhận thông tin cũng đồng thời là người phân
tích xử lý thông tin và truyền tin. Phạm vi thông tin nhóm NDT này quan tâm
khá rộng, mang tính chất thời sự, thông tin về kinh tế chính trị, văn hóa,
nghiệp vụ báo chí, nghiệp vụ phát thanh, các lại báo viết, báo hình, báo csạng
cũng như các tài liệu báo chí khác …
Phục vụ thông tin tư liệu, thỏa mãn tốt nhất nhu cầu tin của phóng viên,
biên tập viên, phát thanh viên là nhiệm vụ trọng tâm của phòng. Vì vậy đáp ứng
nhu cầu tin của nhóm này luôn được Phòng quan tâm phục vụ.
Nhóm NDT là nhân viên thuộc các phòng ban khác
Nhóm NDT này bao gồm nhiều thành phần: các nhân viên làm công tác
kỹ thuật, nhân viên thuộc khối văn phòng, dự án … Nhu cầu của họ chủ yếu là
các tài liệu cung cấp các kiến thức về quản lý văn phòng, quản lý, điều phối
chương trình
Tuy nhu cầu của đối tượng này không lớn nhưng cũng không thể thiếu

Việc đảm bảo cho vốn tài liệu luôn phù hợp với chức năng, nhiệm vụ
của thư viện chính là duy trì “sự sống” cho thư viện. Việc bổ sung được tiến
hành đều đặn, kịp thời sẽ đảm bảo cho mọi hoạt động của thư viện. Nếu công
tác bổ sung bị gián đoạn hoặc ngừng trệ thì mọi hoạt động của thư viện cũng
bị ảnh hưởng.
Quá trình bổ sung là quá trình thường xuyên đưa vào thư viện những tài
liệu mới có giá trị và giải phóng ra khỏi thư viện những tài liệu không còn giá
trị.
Như vậy, quá trình bổ sung không những đảm bảo cho vốn tài liệu phù
hợp với các nhiệm vụ của thư viện mà còn làm tăng thêm vốn tài liệu đáp ứng
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Sinh viên: Vũ Thị Thủy – TTTVK3
Trường Cao Đẳng Nội vụ Hà Nội

Khoa Văn hóa Thông tin và Xã
hội
nhu cầu thông tin của bạn đọc. Nói cách khác quá trình bổ sung đã làm thay
đổi cả khối lượng và chất lượng của vốn tài liệu.
7.2. Chính sách bổ sung
Các cơ quan Thông tin - Thư viện đều có những chức năng chung như:
giáo dục, thông tin, văn hóa, giải trí. Tuy nhiên không phải thư viện nào cũng
có những chính sách phát triển giống nhau. Mỗi một cơ quan Thông tin - Thư
viện tùy theo tính chất loại hình thư viện mà có những chính sách phù hợp với
chức năng của thư viện mình.
Để thư viện có thể tồn tại và phát triển bền vững, hoàn thành tốt chức
năng nhiệm vụ của mình thì trước tiên là phải xây dựng và phát triển vốn tài
liệu đủ về số lượng, có chất lượng tốt và phong phú về chủng loại phù hợp với
yêu cầu NDT. Tuy nhiên, do không có đủ kinh phí để mua và xử lý cũng như
không đủ kho, giá kệ lưu trữ…nên muốn xây dựng được vốn tài liệu phù hợp,
Thư viện không thể bổ sung ồ ạt các loại tài liệu có trên thị trường. Vì vậy,
trước khi chúng ta tiến hành bổ sung chúng ta phải xác định được diện bổ

7.2.2. Phương thức bổ sung vốn tài liệu
Để công tác bổ sung vốn tài liệu được sinh động, mở rộng các khả năng
thu thập nhiều xuất bản phẩm có giá trị. Phòng TL – TV Đài TNVN đã kết
hợp các phương thúc bổ sung với nhau.
Những phương thức bổ sung tài liệu chủ yếu của Phòng TL - TV Đài
TNVN là mua, tặng, biếu. Ngoài ra, còn có thêm hoạt động thu thập các
nguồn tài liệu nội sinh của cơ quan.
 Mua
Nguồn mua hay còn gọi là nguồn bổ sung phải trả tiền là nguồn bổ sung
chủ yếu, cung cấp tới hơn 75% tài liệu cho Thư viện. Bổ sung tài liệu theo
phương thức này có ưu điểm là có thể chủ động bổ sung tài liệu kịp thời cả về
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Sinh viên: Vũ Thị Thủy – TTTVK3
Trường Cao Đẳng Nội vụ Hà Nội

Khoa Văn hóa Thông tin và Xã
hội
thời gian và không gian theo đúng nhu cầu của Thư viện. Tuy nhiên, bổ sung
theo phương thức này cũng có nhược điểm là phụ thuộc vào nguồn ngân sách.
Do đó, để có thể bổ sung tốt thì phải có nguồn ngân sách ổn định.
Đối tượng phục vụ của phòng TL - TV Đài TNVN phần lớn là phóng
viên, biên tập viên vì vậy mà tài liệu cũng phải cập nhật, bổ sung thường
xuyên để đáp ứng nhu cầu NDT. Do số lần bổ sung rải rác với số lượng tài
liệu khác nhau. Vì vậy, kinh phí dùng cho công tác bổ sung không ổn định.
Trước khi mua tài liệu cán bộ thư viện phải khảo sát và thống kê tài liệu cần
mua rồi trình lên Ban quản lý phê duyệt. Nhung nhìn chung, tình hình bổ
sung của phòng TL - TV Đài thường theo chu kỳ 4 lần/năm.
Khi lựa chọn tài liệu để bổ sung, các cán bộ phải luôn ý thức đảm bảo
tiết kiệm, lựa chọn tài liệu đúng diện, phù hợp có giá trị, đồng thời chọn các
nhà xuất bản, nhà in, nhà sách… có uy tín.
Trung bình mỗi năm Phòng TL - TV Đài TNVN bổ sung vào kho gần

Thanh lọc tài liệu thực chất là loại bỏ những tài liệu cũ, rách nát, những
tài liệu không còn giá trị, tài liệu thừa bản để tạo không gian kho, giá kệ, giảm
chi phí bảo quản. Đây là công việc đòi hỏi các cán bộ thư viện phải làm
thường xuyên để sắp xếp lại kho, bổ sung tài liệu mới hơn và nâng cao chất
lượng vốn tài liệu.
Phòng TL -TV Đài TNVN đã có hai lần thanh lý tài liệu lớn, lần thứ
nhất vào năm 2009 khi chuyển kho cũ sang kho mới, lần thứ hai vào đầu năm
2011, đây là lúc Thư viện tổ chức lại kho sách, đăng ký vào sổ các tài liệu để
phục vụ cho quá trình tin học hóa, ứng dụng phần mềm thư viện
WELIBVN2.0. Các tài liệu được thanh lý đợt này chủ yếu là các bản thừa, tài
liệu có nội dung lạc hậu, thông tin lỗi thời.
9. Các sản phẩm, dịch vụ Thông tin – Thư viện
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Sinh viên: Vũ Thị Thủy – TTTVK3
Trường Cao Đẳng Nội vụ Hà Nội

Khoa Văn hóa Thông tin và Xã
hội
Cũng như các Thư viện khác, mục tiêu của Phòng TL – TV Đài TNVN
là tạo ra các sản phẩm Thông tin để phục vụ và đáp ứng nhu cầu của bạn đọc.
9.1. Sản phẩm Thông tin – Thư viện
Hiện nay các sản phẩm thông tin – thư viện khá đa dạng phong phú,
bao gồm nhiều hình thức như:
- Hệ thống mục lục dạng phiếu
- Thông tin - Thư mục
- Tập san thông tin chuyên nghành
- Các CSDL
Những sản phẩm đó chính là công cụ giúp cho NDT tra tìm tài liệu.
Phòng TL - TV Đài TNVN trải qua khá nhiều biến động do các đợt di
chuyển và tổ chức kho nên việc xây dựng các sản phẩm Thông tin - Thư viện
cũng có những thay đổi. Trước năm 2009, thư viện gồm có sử dụng hệ thống

- Mượn tài liệu về nhà: Do đặc điểm NDT của phòng có những bất tiện
về thời gian nên đây là hình thức được rất nhiều bạn đọc của phòng lựa chọn.
- Dịch vụ cung cấp bản sao tài liệu gốc: đây cũng là hình thức được rất
được NDT ưa dùng.
- Dịch vụ trao đổi thông tin
Là dịch vụ rất quan trọng nhằm thỏa mãn nhu cầu trao đổi thông tin
đáp ứng nhu cầu tin của bạn đọc.
Dịch vụ hỏi - đáp thông tin: Hiện nay, ở Phòng TL - TV Đài TNVN
dịch vụ này mới dừng lại ở việc hướng dẫn tra cứu thông tin. Cán bộ thư viện
là người trực tiếp trả lời câu hỏi của NDT. Hướng dẫn NDT trong các tình
huống tìm tin
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Sinh viên: Vũ Thị Thủy – TTTVK3
Trường Cao Đẳng Nội vụ Hà Nội

Khoa Văn hóa Thông tin và Xã
hội
- Dịch vụ phổ biến thông tin
Đây là dịch vụ cung cấp những thông tin có nội dung hoặc hình thức đã
được xác định từ trước một cách chủ động và định kỳ tới NDT. Dịch vụ này
thường được Phòng TL - TV Đài TNVN phổ biến trong các cuộc giao ban
hàng tháng qua việc lựa chọn một số tài liệu mới, có tính thời sự phục vụ cho
hoạt động tuyên truyền của Đài TNVN.
Ví dụ: Tài liệu Văn kiện Đại hội Đảng, Quốc hội, Kỷ niệm thành lập
Đài TNVN, ngày lễ lớn…
Với tầm quan trọng của các dịch vụ thông tin trong việc giúp bạn đọc
định hướng trong việc lựa chọn tài liệu thì vấn đề đặt ra đối với phòng TL -
TV là hoàn thiện bộ máy tra cứu và mở rộng các dịch vụ thông tin.
CHƯƠNG II :
NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ THỰC TẬP
Gần 2 tháng được thực tập tại phòng TL - TV Đài TNVN, dưới sự

trang).
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Sinh viên: Vũ Thị Thủy – TTTVK3
Trường Cao Đẳng Nội vụ Hà Nội

Khoa Văn hóa Thông tin và Xã
hội
Mỗi cuốn sách được đóng 2 dấu, một dấu vao ftrang tên sách chính giữa
phần tên tài liệu và tên nhà xuất bản, một dấu đóng vào tay sách thứ hai là
trang 17.
Đối với tài liệu mỏng dưới 17 trang thì đóng dấu vào trang tên sách và
trang trước của trang cuối.
Đối với báo, tạp chí thì được đóng lên vị trí đầu của báo, tạp chí
 Ghi ký hiệu
Ghi số đăng ký cá biệt ở trang tên sách và trang 17 nằm trong hẳn dấu
của phòng TL - TV.
Việc ghi ký hiệu phải thật chính xác, đầy đủ, tránh sai số. Tránh tình
trạng “sách chết” hoặc gây khó khăn cho việc tiếp cận sách đối với bạn đọc
cũng như việc kiểm kê, quản lý sách của cán bộ thư viện.
Ký hiệu phân loại và ký hiệu xếp giá được ghi ở trang tên sách, phía
trên góc phải với hình thức:
Ký hiệu phân loại
Ký hiệu xếp giá
Ví dụ: Tài liệu: Quá trình đổi mới tư duy lý luận của Đảng từ 1986 đến
nay H.: Chính trị Quốc gia, 2006 524tr. 24cm.có kí hiệu xếp giá là:
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Sinh viên: Vũ Thị Thủy – TTTVK3
Trường Cao Đẳng Nội vụ Hà Nội

Khoa Văn hóa Thông tin và Xã
hội
3KV

dụng quy tác mô tả ẩn phẩm theo tiêu chuẩn quốc tế ISBD (International
Standard Bibliography Description ). ISBD chia làm 7 vùng mô tả, mỗi vùng
được phân cách với nhau bởi dấu ( ), giữa các yếu tố trong cùng một vùng
được ngăn cách bởi các quy định như dấu (;), dấu (:), dấu (//)…
Phòng TL - TV Đài TNVN cũng áp dụng các quy tắc riêng đối với mô
tả sách có tác giả cá nhân, cá tác giả tập thể, sách không có tác giả. Ví dụ như
đối với sách có từ 1 đến 3 tác giả cá nhân thì mô tả theo tên của tác giả đầu
tiên được ghi ở trang tên sách. Tên tác giả này được ghi ở dòng đầu, từ vạch
dọc thứ nhất, ghi bằng chữ in hoa. (Đối với sách tác giả Trung Quốc, Nhật
Bản, Triều Tiên… được mô tả giống như sách có tác giả người Việt).
Ví dụ:
NGUYỄN TRỌNG THỌ
Nghề báo chí/ Nguyễn Trọng
Thọ H:Thông tấn, 2003 540tr.; 19cm
Đối với sách không có tác giả thì tiêu đề mô tả là tên sách. Nó được ghi
ở dòng đầu tiên của phiếu ghi bằng chữ in thường và viết từ vạch dòng thứ
hai, khi xuống dòng viết từ vạch dòng thứ nhất.
Báo cáo thực tập tốt nghiệp Sinh viên: Vũ Thị Thủy – TTTVK3

Trích đoạn Các sản phẩm và dịch vụ Thông tin Thư viện Với công tác bổ sung tài liệu Đa dạng hóa các sản phẩm và dịch vụ Thông tin Thư viện
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status