PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (VCB) được thành lập vào
ngày 01/04/1963, sau 44 năm hoạt động, Ngân hàng đã phát triển thành ngân
hàng đa năng trong các lĩnh vực ngân hàng bán buôn với nhiều khách hàng
truyền thống là các công ty và doanh nghiệp lớn, ngoài ra ngân hàng còn đầu
tư vào các lĩnh vực khác như: chứng khoán, quản lý quỹ đầu tư, bảo hiểm
nhân thọ, kinh doanh bất động sản, phát triển cơ sở hạ tấng. Với trách nhiệm
là Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Việt Nam, VCB cần thực hiện tốt nhiệm
vụ của mình để đáp ứng nhu cầu vốn cho đầu tư phát triển (ĐTPT) trên cơ sở
bảo toàn nguồn vốn.
Đối với VCB, vấn đề an toàn trong hoạt động tín dụng luôn được đặt
lên hàng đầu. Song trên thực tế, mặc dù hệ thống kiểm soát nội bộ (KSNB) tại
VCB luôn được tăng cường nhưng việc phòng ngừa, phát hiện và ngăn chặn
các loại rủi ro chưa đạt hiệu quả cao. Việc hoàn thiện hệ thống KSNB là một
trong những vấn đề cấp thiết đối với hệ thống VCB hiện nay.
Trong bối cảnh đó, Đề tài “Hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại
Ngân hàng thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam” được lựa chọn
nghiên cứu làm Luận văn thạc sĩ nhằm nghiên cứu một cách có hệ thống về
KSNB nói chung và KSNB tại VCB nói riêng, góp phần làm sáng tỏ những
vấn đề về lý luận và thực tiễn, qua đó đề xuất giải pháp hoàn thiện hệ thống
KSNB phục vụ cho công tác quản trị của Ngân hàng.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận cơ bản về kiểm soát nội bộ tại Ngân
hàng TMCP.
- Nêu và đánh giá thực trạng hoạt động kiểm soát nội bộ tại Ngân hàng TMCP
Ngoại thương Việt Nam.
1
- Đề xuất các giải pháp khả thi nhằm hoàn thiện hoạt động kiểm soát nội bộ
tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đặc trưng hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại là:
Các ngân hàng từ chỗ làm dịch vụ nhận tiền gửi với tư cách là người thủ
quỹ, bảo quản tiền cho chủ sở hữu để nhận những khoản thù lao đã trở thành
chủ thể kinh doanh tiền gửi. Điều đó có nghĩa là huy động tiền gửi không
những miễn khoản thù lao mà còn trả lãi cho khách hàng gửi tiền để làm vốn
cho vay nhằm tối ưu khoản lợi nhuận thu được. Trong khi thực hiện vai trò
trung gian chuyển vốn từ người cho vay sang người đi vay, các ngân hàng
thương mại đã tự tạo ra những công cụ tài chính thay thế cho tiền làm phương
tiện thanh toán. Trong đó, quan trọng nhất là tài khoản tiền gửi không kỳ hạn
thanh toán bằng séc, một trong những công cụ chủ yếu để tiền vận động qua
ngân hàng. Thông qua quá trình đó đưa lại kết quả là đại bộ phận tiền giao
dịch trong giao lưu kinh tế là tiền qua ngân hàng. Do đó, hoạt động của ngân
hàng thương mại gắn bó mật thiết với hệ thống lưu thông tiền tệ và hệ thống
thanh toán trong nước đồng thời có mối liên hệ quốc tế rộng rãi.
Vai trò của ngân hàng thương mại trong quản lý lưu thông tiền tệ.
- Ngân hàng là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế: Vốn được tạo ra từ quá
trình tích luỹ, tiết kiệm của mỗi cá nhân, doanh nghiệp và Nhà nước trong nền
kinh tế. Ngân hàng thương mại là chủ thể chính đáp ứng nhu cầu vốn cho sản
xuất kinh doanh, Ngân hàng thương mại đứng ra huy động các nguồn vốn
nhàn rỗi và tạm thời nhàn rỗi ở mọi tổ chức, cá nhân, mọi thành phần kinh tế
như: vốn tạm thời được giải phóng ra từ quá trình sản xuất, vốn từ nguồn tiết
3
kiệm của các cá nhân trong xã hội. Bằng vốn huy động được trong nền kinh
tế, thông qua hoạt động tín dụng, ngân hàng thương mại sẽ cung cấp vốn cho
mọi hoạt động kinh tế và đáp ứng nhu cầu vốn một cách kịp thời cho quá trình
tái sản xuất. Nhờ có hoạt động của hệ thống ngân hàng thương mại và đặc
biệt là hoạt động tín dụng, các doanh nghiệp có điều kiện mở rộng sản xuất,
cải tiến máy móc công nghệ, tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả kinh
tế.
- Ngân hàng là cầu nối giữa doanh nghiệp với thị trường: Trong điều kiện
mại đã thực hiện vai trò điều tiết nền tài chính trong nước phù hợp với sự vận
động của nền tài chính quốc tế.
1.2 Hệ thống kiểm soát nội bộ trong Ngân hàng thương mại cổ phần.
1.2.1 Kiểm soát nội bộ và tổ chức hệ thống kiểm soát nội bộ trong Ngân
hàng thương mại cổ phần.
Ngân hàng là một ngành kinh tế đặc thù trong nền kinh tế quốc dân,
mọi hoạt động ngân hàng đều có quan hệ mật thiết đối với sự phát triển của
tất cả các thành phần trong nền kinh tế và liên quan đến mọi lĩnh vực của đời
sống kinh tế, xã hội. Chính vì vậy ở nhiều ngân hàng thương mại trên thế giới,
hoạt động kiểm soát nội bộ rất được coi trọng và áp dụng từ lâu. Ở Việt Nam,
khái niệm về kiểm soát nội bộ dường như vẫn còn mới mẻ.
Vậy kiểm soát nội bộ là gì, mô hình tổ chức của nó ra sao, tôi xin bắt
đầu từ khái niệm kiểm soát nội bộ, mà các tổ chức tài chính kinh tế của nhiều
nước trên thế giới đã đưa ra:
Khái niệm thứ 1: Viện kiểm toán độc lập Hoa Kỳ (American Institute
of Certificated Public Accountant - AICPA) định nghĩa kiểm soát nội bộ như
sau : “Kiểm soát nội bộ bao gồm kế hoạch của tổ chức và tất cả các phương
pháp phối hợp và đo lường được thừa nhận trong doanh nghiệp để bảo đảm an
toàn tài sản có của họ, kiểm tra sự phù hợp và độ tin cậy của dữ liệu kế toán,
tăng cường tính hiệu quả của hoạt động và khuyến khích việc thực hiện các
chính sách quản lý lâu dài”.
5
Khái niệm thứ 2: Văn bản hướng dẫn kiểm toán quốc tế được Hội đồng
Liên hiệp các nhà kế toán Malaysia (Malaysian Assembly of Certificated
Public Accountant - MACPA) và Viện kế toán Malaysia (Malaysian Institute
of Accountant - MIA) đưa ra như sau: “Hệ thống kiểm soát nội bộ là cơ cấu tổ
chức cộng với những biện pháp, thủ tục do Ban quản trị của một tổ chức thực
thể chấp nhận, nhằm hỗ trợ thực thi mục tiêu của Ban quản trị đảm bảo tăng
khả năng thực tiễn tiến hành kinh doanh trong trật tự và có hiệu quả bao
gồm : tuyệt đối tuân theo đường lối của Ban quản trị, bảo vệ tài sản, ngăn
chúng có thể bị đánh cắp hoặc bị lạm dụng vào các mục đích khác nhau hoặc
bị hư hỏng nếu không được bảo vệ bởi hệ thống kiểm soát thích hợp. Điều
tương tự cũng có thể xảy ra đối với các tài sản phi vật chất khác như sổ sách
kế toán, các tài liệu quan trọng…
2/ Bảo đảm độ tin cậy của các thông tin:
Thông tin kinh tế, tài chính do bộ máy kế toán xử lý và tổng hợp là căn
cứ quan trọng cho việc hình thành các quyết định cho các nhà quản lý. Như
vậy, các thông tin cung cấp phải đảm bảo tính kịp thời về thời gian, tính chính
xác và tin cậy về thực trạng hoạt động và phản ánh đầy đủ khách quan các nội
dung chủ yếu của mọi hoạt động kinh tế tài chính.
3/ Bảo đảm việc thực hiện các chế độ pháp lý:
Hệ thống kiểm soát nội bộ được thiết kế trong doanh nghiệp phải đảm
bảo các quyết định và chế độ pháp lý liên quan đến hoạt động sản xuất kinh
doanh của doanh ngiệp phải được tuân thủ đúng mực. Cụ thể hệ thống kiểm
soát nội bộ cần:
- Duy trì và kiểm tra việc tuân thủ các chính sách có liên quan đến các
hoạt động của doanh nghiệp.
- Ngăn chặn và phát hiện kịp thời cũng như xử lý các sai phạm và gian
lận trong mọi hoạt động của doanh nghiệp.
- Đảm bảo việc ghi chép kế toán đầy đủ, chính xác cũng như việc lập
báo cáo tài chính đầy đủ và khách quan.
7
4/ Bảo đảm hiệu quả của hoạt động và năng lực quản lý:
Các quá trình kiểm soát trong một đơn vị được thiết kế nhằm ngăn
ngừa sự lặp lại không cần thiết các tác nghiệp gây ra sự lãng phí trong hoạt
động và sử dụng kém hiệu quả các nguồn lực trong doanh nghiệp.
Bên cạnh đó, định kỳ các nhà quản lý thường đánh giá kết quả hoạt
động trong doanh nghiệp được thực hiện với cơ chế giảm sát của hệ thống của
kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp, nhằm nâng cao khả năng quản lý điều
hành của bộ máy quản lý doanh nghiệp.
phần có cơ sở xây dựng một hệ thống kiểm soát nội bộ đầy đủ, hiệu lực và
hiệu quả, tiến tới xây dựng các mô hình quản trị ngân hàng hiện đại tại Việt
Nam, chuẩn bị tốt cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.
Tổ chức kiểm soát nội bộ trong ngân hàng thương mại cổ phần được
thể hiện qua sơ đồ 1.1.
Sơ đồ 1.1: Mô hình tổ chức kiểm soát nội bộ trong các ngân hàng
thương mại cổ phần
1.2.2 Nội dung kiểm soát nội bộ trong Ngân hàng thương mại cổ phần.
Đế đáp ứng yêu cầu quản lý cũng như đảm bảo hiệu quả trong hoạt
động các đơn vị và tổ chức, các ngân hàng thương mại cổ phần cần xây dựng
9
Hội đồng quản trị Ban kiểm soát Phòng kiểm toán
nội bộ
Phòng kiểm tra nội
bộ
Kiểm tra nội bộ
chi nhánh và sở
giao dịch
Giám đốc các chi
nhánh và sở giao dịch
Tổng giám đốc
và củng cố hệ thống kiểm soát nội bộ với bốn yếu tố chính: môi trường kiểm
soát, hệ thống thông tin, các thủ tục kiểm soát và hệ thống kiểm toán nộ bộ.
Thứ nhất: Môi trường kiểm soát bao gồm toàn bộ nhân tố bên trong của
đơn vị và bên ngoài đơn vị có tính môi trường tác động đến việc thiết kế, hoạt
động và xử lý dữ liệu của các loại hình kiểm soát nội bộ.
* Các nhân tố trong môi trường kiểm soát bao gồm:
+ Đặc thù về quản lý: Các đặc thù về quản lý đề cập tới quan điểm khác
nhau trong điều hành hoạt động doanh nghiệp của các nhà quản lý. Các quan
điểm đó ảnh hưởng trực tiếp đến chính sách, chế độ, các quy định và cách
những vấn đề bất thường và xử lý, điều chỉnh kế hoạch kịp thời.
+ Ủy ban kiểm soát: Bao gồm những người trong bộ máy lãnh đạo cao
nhất của đơn vị như thành viên của hội đồng quản trị nhưng không kiêm
nhiệm các chức vụ quản lý. Ủy ban kiểm soát thường có nhiệm vụ và quyền
hạn sau:
- Giám sát sự chấp hành luật pháp của công ty.
- Kểm tra và giám sát công việc của kiểm toán viên nội bộ.
- Giám sát tiến trình lập báo cáo tài chính.
- Dung hòa những bất đồng giữa ban giám đốc với các kiểm toán viên bên
ngoài.
* Các nhân tố ngoài môi trường kiểm soát:
Môi trường kiểm soát chung của một doanh nghiệp còn phụ thuộc vào
các nhân tố bên ngoài. Các nhân tố này tuy không thuộc sự kiểm soát của các
nhà quản lý nhưng có ảnh hưởng rất lớn đến thái độ, phong cách điều hành
của nhà quản lý cũng như sự thiết kế và vận hành các quy chế và thủ tục kiểm
soát nội bộ. Thuộc nhóm nhân tố này bao gồm: Sự kiểm soát của các cơ quan
chức năng của nhà nước, môi trường pháp lý, đường lối phát triển của đất
nước.
Thứ hai là: Hệ thống kế toán.
11
Hệ thống thông tin chủ yếu là hệ thống kế toán của đơn vị bao gồm hệ
thống chứng từ kế toán, hệ thống sổ kế toán, hệ thống bảng tổng hợp, cân đối
kế toán. Một hệ thống kế toán hữu hiệu phải bảo đảm các mục tiêu kiểm soát
chi tiết sau:
- Tính có thực: Cơ cấu kiểm soát không cho phép những nghiệp vụ
không có thực vào sổ sách của đơn vị.
- Sự phê chuẩn: Bảo đảm mọi nghiệp vụ xảy ra phải được phê chuẩn
hợp lý.
- Tính đầy đủ: Bảo đảm việc phản ánh trọn vẹn các nghiệp vụ kinh tế
phát sinh.
sách và thủ tục về kiểm soát nội bộ. Bộ phận kiểm soát nội bộ hữu hiệu sẽ
giúp cho doanh nghiệp có được những thông tin kịp thời và xác thực về các
hoạt động trong doanh nghiệp, chất lượng của hoạt động kiểm soát nhằm kịp
thời điều chỉnh và bổ sung các quy chế kiểm soát thích hợp và hiệu quả.
1.2.3 Các nhân tố chi phối chất lượng, hiệu quả kiểm soát nội bộ trong các
Ngân hàng thương mại cổ phần.
Nhân tố chi phối chất lượng, hiệu quả kiểm soát nội bộ trong các Ngân
hàng cổ phần gồm năm nhân tố:
Môi trường kiểm soát: là những yếu tố của tổ chức ảnh hưởng đến hoạt
động của hệ thống kiểm soát nội bộ và là các yếu tố tạo ra một môi trường
trong đó toàn bộ thành viên của tổ chức có nhận thức được tầm quan trọng
của hệ thống kiểm soát nội bộ hay không. Ví dụ, nhận thức của ban giám đốc
thế nào về tầm quan trọng của liêm chính và đạo đức nghề nghiệp, về việc cần
tổ chức bộ máy hợp lý, về việc phải phân công, ủy nhiệm, giao việc rõ ràng,
về việc phải ban hành bằng văn bản các nội quy, quy chế, quy trình kinh
doanh. Một môi trường kiểm soát tốt sẽ là nền tảng quan trọng cho sự hoạt
động hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ.
13
Đánh giá rủi ro: Không lệ thuộc vào quy mô, cấu trúc, loại hình hay vị
trí địa lý, bất kỳ tổ chức nào khi hoạt động đều bị các rủi ro xuất hiện từ các
yếu tố bên trong hoặc bên ngoài tác động. Mặt khác, trong hệ thống ngân
hàng thường có các loại rủi ro sau:
- Rủi ro về lãi suất: Rủi ro về lãi suất xảy ra khi có sự chênh lệch về kỳ
hạn, tính thanh khoản giữa vốn huy động và việc sử dụng vốn huy động của
ngân hàng trong điều kiện lãi suất thị trường thay đổi ngoài dự kiến, điều này
dẫn đến khả năng giảm thu nhập của ngân hàng so với dự tính.
- Rủi ro về tín dụng: Rủi ro tín dụng là loại rủi ro dẫn đến tổn thất tài sản
trong trường hợp khách hàng vay vốn không có khả năng thực hiện một phần
hoặc toàn bộ những cam kết nêu tại Hợp đồng tín dụng đã ký với Ngân hàng.
- Rủi ro về ngoại hối: Rủi ro ngoại hối phát sinh khi có sự biến động về
chính, tiền tệ - một lĩnh vực nhạy cảm, chịu sự điều chỉnh bởi nhiều văn bản
pháp luật, có quan hệ và ảnh hưởng sâu rộng đến nhiều đối tượng khách hàng,
tầng lớp trong xã hội. Việt Nam đang trong quá trình mở cửa và hội nhập với
nền kinh tế giới. Do vậy hệ thống văn bản pháp luật của Nhà nước không
ngừng được chỉnh sửa, bổ sung/ban hành mới để hoàn thiện cho phù hợp với
thông lệ quốc tế và cam kết của Việt Nam với các tổ chức quốc tế. Việc
không áp dụng kịp thời, không đúng các văn bản pháp luật điều chỉnh sẽ dẫn
đến rủi ro về mặt luật pháp đối với hoạt động ngân hàng.
- Rủi ro khác: Các rủi ro khác như thiên tai, địch họa… xảy ra một cách
khách quan không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù
đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép là những rủi ro bất
khả kháng, nếu xảy ra sẽ gây thiệt hại lớn về tài sản, con người và tình hình
hoạt động chung của VCB.
Việc thường xuyên đánh giá, xem xét các loại rủi ro trên nó cũng là
một trong những nhân tố chi phối chất lượng, hiệu quả kiểm soát nội bộ trong
các Ngân hàng cổ phần.
15
Các yếu tố bên trong. Sự quản lý thiếu minh bạch, không coi trọng đạo
đức nghề nghiệp. Chất lượng cán bộ thấp, sự cố hỏng hóc của hệ thống máy
tính, của trang thiết bị, hạ tầng cơ sở. Tổ chức và cở sở hạ tầng không thay
đổi kịp với sự thay đổi, mở rộng của sản xuất. Chi phí cho quản lý và trả
lương cao, thiếu sự kiểm tra, kiểm soát thích hợp hoặc do xa Công ty mẹ hoặc
do thiếu quan tâm, điều đó cũng là một trong những yếu tố ảnh hưởng chất
lượng của hệ thống kiểm soát nội bộ.
Các yếu tố bên ngoài. Thay đổi công nghệ làm thay đổi quy trình vận
hành. Thay đổi thói quen của người tiêu dùng làm các sản phẩm và dịch vụ
hiện hành bị lỗi thời. Xuất hiện yếu tố cạnh tranh không mong muốn tác động
đến giá cả và thị phần. Sự ban hành của một đạo luật hay chính sách mới, ảnh
hưởng đến hoạt động của tổ chức Để tránh bị thiệt hại do các tác động nêu
trên, tổ chức cần thường xuyên: xác định rủi ro hiện hữu và tiềm ẩn. Phân tích
hoạch kinh doanh, báo cáo xếp hạng rủi ro… Việc tách bạch rõ chức năng
như vậy nhằm đảm bảo tính độc lập, khách quan trong quá trình thực thi công
việc.
+ Ngân hàng cũng đã xây dựng mô hình tổ chức triển khai dịch vụ tín
dụng theo nguyên tắc phân định rõ trách nhiệm của 3 bộ phận: marketing
khách hàng, bộ phận thẩm định và bộ phận quyết định cho vay.
Thứ hai: Tuân thủ nghiêm ngặt các vấn đề có tính nguyên tắc trong tín
dụng
Do chỉ quan tâm đến tài sản thế chấp mà không quan tâm đến dòng tiền
của khách hàng vay nên nợ xấu của Ngân hàng Kasinorn vào năm 1997-1998
đã lên tới 40%. Nguyên nhân xuất phát từ việc không tuân thủ nghiêm ngặt
các nguyên tắc tín dụng trong quá trình cho vay.
Để làm được điều này, ngân hàng phải phân tích tài chính, trong đó coi
trọng đến vòng chu chuyển dòng tiền và vòng thu hồi vốn đầu tư. Trên cơ sở
đó, ngân hàng dự báo và nhận định về rủi ro trong kinh doanh và rủi ro ngành,
17
cấu trúc chi phí, lợi nhuận, kỹ thuật, công nghệ, vòng đời sản phẩm, tính độc
lập và tính toàn cầu hóa, môi trường hoạt động, rủi ro có tính chu kỳ, mức độ
phụ thuộc của doanh nghiệp…Tất cả những thông tin phân tích nói trên làm
cơ sở để phán đoán mức độ rủi ro, giám sát được khoản vay của doanh
nghiệp.
Hiện nay, tài sản thế chấp vẫn được coi trọng nhưng không được coi là
số một như trước và cũng không được coi là nguồn trả nợ mà chỉ là nguồn để
xử lý khoản nợ khi không thể thu hồi.
Thứ ba: Tuân thủ thẩm quyền phán quyết tín dụng
Ngân hàng Kasikorn quy định việc quyết định tín dụng theo mức tăng
dần: mức phán quyết của một người, một nhóm người, Hội đồng quản trị. Với
những khoản vay vượt quá hạn mức đã quy định thì phải chuyển cho bộ phận
thẩm định độc lập để thẩm định trước khi trình lên cấp trên có thẩm quyền
phê duyệt khoản vay.
hàng không vượt quá 15% vốn tự có của NHTM. Yêu cầu các NHTM phải
phân loại khoản vay theo 5 nhóm nợ (nợ bình thường, nợ cần chú ý, nợ dưới
tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ, nợ có khả năng mất vốn). Trên cơ sở đó, phải trích
lập dự phòng tương ứng với từng nhóm nợ (0%, 10%, 20%, 50%, 100%).
Thành lập hệ thống Ủy ban thanh tra, giám sát đặt dưới sự chỉ đạo của Thủ
tướng Chính phủ gồm 9 thành viên. Ủy ban hoạt động giám sát tại chỗ và
giám sát từ xa, định kỳ đánh giá xếp loại các ngân hàng theo hệ thống
Camels.
Bài học kinh nghiệm trong việc xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ.
Các NHTM cổ phần đã học hỏi và rút ra những bài học kinh nghiệm trong tổ
chức và xây dựng hệ thống kiểm soát nội bộ trong ngân hàng là:
- Về môi trường kiểm soát: Đảm bảo chắc chắn các quyết định và chế độ quản
lý trong ngân hàng đã được ngân hàng và các cơ quan quản lý có thẩm quyền
19
ban hành được thực hiện đúng quy định và giám sát mức độ hiệu quả cũng
như tính hợp lý của các chế độ đó.
- Về hệ thống kế toán:
Đảm bảo việc ghi chép, hạch toán đầy đủ, chính xác và đúng thể thức
các giao dịch phát sinh của ngân hàng.
Đảm bảo việc lập các báo cáo tài chính, báo cáo phân loại nợ kịp thời,
hợp lệ và tuân theo các yêu cầu pháp định có liên quan.
- Về thủ tục kiểm soát: Đảm bảo tuân thủ nguyên tắc phân công phân nhiệm,
nguyên tắc bất kiêm nhiệm, nguyên tác ủy quyền và phê chuẩn.
- Về kiểm tra nội bộ:
Để từng bước đảm bảo cho các NHTM cổ phần hoạt động an toàn và
hiệu quả, bộ phận kiểm tra nội bộ rất coi trọng việc kiểm tra, giám sát các
khoản vay bằng cách tiếp tục thu thập thông tin về khách hàng, thường xuyên
giám sát, đánh giá và xếp loại khách hàng, có các biện pháp xử lý kịp thời các
tình huống rủi ro có thể xảy ra.
Bên cạnh đó, các cán bộ làm công tác kiểm tra nội bộ phải thường
thương đã chính thức chuyển đổi sang mô hình ngân hàng thương mại quốc
doanh với lĩnh vực hoạt động đa dạng, mở rộng ra ngoài phạm vi tài trợ
thương mại và ngoại hối truyền thống, phát triển xây dựng mảng ngân hàng
bán lẻ và doanh nghiệp.
Trải qua hơn 45 năm xây dựng và trưởng thành, VCB đã phát triển và
lớn mạnh theo mô hình ngân hàng đa năng với quy mô và phạm vi hoạt động
cả trong nước và nước ngoài, cụ thể bao gồm: 1 Hội sở chính, 1 Sở Giao dịch,
60 Chi nhánh, 1 Trung tâm đào tạo, 4 Công ty con bao gồm 3 Công ty trong
nước, 1 Công ty tài chính ở Hồng Kông, 1 Văn phòng đại diện, 209 phòng
21
giao dịch và 4 Công ty liên doanh, 3 công ty liên kết với đội ngũ cán bộ 9.212
người.
Bên cạnh lĩnh vực tài chính ngân hàng, VCB còn tham gia góp vốn,
liên doanh liên kết với các đơn vị trong và ngoài nước trong nhiều lĩnh vực
kinh doanh khác nhau như: lĩnh vực tài chính - ngân hàng, kinh doanh bảo
hiểm, bất động sản, quỹ đầu tư Tổng tài sản của VCB tại 31/12/2008 lên tới
221,9 nghìn tỷ VND (tương đương 13,07 tỷ USD), tổng dư nợ đạt hơn 112,7
nghìn tỷ VND (6,6 tỷ USD), vốn chủ sở hữu đạt khoảng 13,79 nghìn tỷ VND,
đáp ứng tỷ lệ an toàn vốn (CAR) tối thiểu 8%.
Thực hiện chủ trương đổi mới sắp xếp lại hệ thống doanh nghiệp nhà
nước, năm 2007, Ngân hàng ngoại thương đã thực hiện thành công cổ phần
hoá theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính Phủ tại Quyết định số 230/2005/QĐ-
TTg ngày 21/09/2005 về việc thí điểm cổ phần hoá Ngân hàng Ngoại thương
Việt Nam. Sự kiện IPO của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam ngày
26/12/2007 được đánh giá là sự kiện IPO lớn nhất và được mong đợi nhất tại
Việt Nam tính đến thời điểm đó. Đây cũng là đợt IPO thu hút số lượng nhà
đầu tư tham gia lớn nhất trong lịch sử IPO tại Việt Nam với hơn 9.400 nhà
đầu tư đã tham gia đấu giá. Kết quả là 8.792 nhà đầu tư đã trúng đấu giá,
trong đó có 146 tổ chức trong nước, 37 tổ chức nước ngoài, 8.411 cá nhân
trong nước và 198 cá nhân nước ngoài. Tổng số tiền thu được từ đợt IPO là
nhất) trong số 98 thương hiệu đạt giải. Đây là lần thứ 3 liên tiếp Vietcombank
được trao tặng giải thưởng này.
- Năm 2007, NHNT được bầu chọn là "Ngân hàng cung cấp dịch vụ
ngoại hối cho doanh nghiệp tốt nhất năm 2007" do tạp chí Asia Money bình
chọn.
- Năm 2008, Vietcombank đã nhận giải thưởng “Ngân hàng Thương
mại Uy tín nhất Việt nam 2008” (Best Local Trade Bank in Vietnam 2008) do
độc giả của Tạp chí Trade Finance bình chọn. Giải thưởng này là sự ủng hộ to
23
lớn mà khách hàng trong nước và quốc tế đã dành cho Vietcombank nhằm ghi
nhận những thành tựu mà Vietcombank đã đạt được trong thời gian qua, đặc
biệt là trong lĩnh vực tài trợ thương mại. Vietcombank đã không ngừng nâng
cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ nhằm “Luôn mang đến cho khách hàng
sự thành đạt”, và khẳng định vị thế là ngân hàng hàng đầu Việt Nam về tài trợ
thương mại.
2.1.2 Cơ cấu tổ chức của Ngân hàng thương mại cổ phần ngoại thương
Việt Nam.
Về cơ cấu tổ chức: VCB là một tổ chức tài chính của Chính phủ, hoạt
động của VCB trong lĩnh vực ngân hàng nên cơ cấu tổ chức của VCB có
những nét tương đồng với các ngân hàng khác.
Cơ quan quyền lực cao nhất của VCB là Hội đồng Quản trị. Hội đồng
quản trị là cơ quan quản lý Ngân hàng, có toàn quyền nhân danh Ngân hàng
để quyết định, thực hiện các quyền và nghĩa vụ của Ngân hàng không thuộc
thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông. Số thành viên của Hội đồng quản trị
không ít hơn 05 (năm) người và không nhiều hơn 11 (mười một) người, số
lượng thành viên Hội đồng quản trị cụ thể do Đại hội đồng cổ đông quyết
định. Trừ nhiệm kỳ đầu tiên, Hội đồng quản trị có tối thiểu 1/2 (một phần hai)
tổng số thành viên là thành viên Hội đồng quản trị không kiêm nhiệm và
thành viên Hội đồng quản trị độc lập, trong đó có ít nhất 02 (hai) thành viên
Hội đồng quản trị độc lập. Thành viên Hội đồng quản trị không được đồng
liên quan đến bộ phận kiểm toán nội bộ, hệ thống kiểm tra, kiểm soát nội bộ
theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.
01 Sở giao dịch, 60 chi nhánh và 209 Phòng giao dịch trên toàn quốc.
04 Công ty con trong nước: Công ty cho thuê tài chính Vietconbank
(VCB Leasing), Công ty TNHH Chứng khoán Vietcombank (VCBS), Công ty
quản lý nợ và Khai thác tài sản Vietconbank (VCB AMC), Công ty TNHH
Cao ốc Vietcombank 198 (VCB Tower).
25