NỘI DUNG CHUYÊN ĐỀ THUYẾT MINH
Giới thiệu Viện Hải Dương Học, thắng cảnh Hòn Chồng, Tháp Bà
Ponagar, chợ Đầm, đặc sản Nha Trang
Viện Hải Dương Học
- Địa chỉ: số 01, Cầu Đá, Tp.Nha Trang, tỉnh Khánh Hòa
- Giới thiệu viện:
+ Ngày 14 tháng 9 năm 1922, Sở Hải dương học nghề cá Đông dương -
tiền thân của Viện Hải Dương Học ngày nay đã được thành lập. Trải qua
hơn 90 năm hoạt động và phát triển, Viện Hải Dương Học đã đóng góp
được một khối lượng lớn các công trình nghiên cứu cho công cuộc chinh
phục khai thác và bảo vệ biển Đông, bao gồm 1100 ấn phẩm đã được
công bố, trong đó nghiên cứu về tính đa dạng sinh học, về vật lý hải
dương, về sinh thái môi trường, về địa chất địa mạo biển, về hóa học biển
và về hóa sinh. Qua đó, có thể thấy được Viện Hải Dương Học đã góp
phần vào việc thực hiện các mục tiêu khoa học của đất nước.
- Sự thành lập và phát triển
+ Sở Hải dương học nghề cá Đông dương nâng cấp lần thứ nhất thành
Viện Hải dương học Đông dương vào năm 1930, với mục tiêu là “Khảo
sát điều kiện tự nhiên và nguồn lợi sinh vật, kết hợp với việc đánh cá ở
biển Đông, bao gồm 2 quần đảo Hoàng Sa (Paracels), Trường Sa
(Spratly) và biển Hồ ở Campuchia để xác định chiến lược cho nghề khai
thác cá ở Đông Dương. Đồng thời triển khai nghiên cứu các công nghệ
chế biến và nuôi trồng hải sản”. Chính vì mục tiêu có tính chiến lược đó
nên Viện đã đuợc xây dựng tại Nha Trang, địa điểm lý tưởng để triển
khai các nhiệm vụ nghiên cứu và khai thác Biển Đông.
+ Năm 1952, Viện Hải dương học Đông Dương đổi tên thành Hải học
viện Nha Trang, khi có quyết định của Chính phủ Pháp bàn giao cho
Chính quyền miền Nam đương thời (1954).
+ Sau khi Việt Nam thống nhất, Hải học viện Nha Trang, Viện Nghiên
cứu biển Hải Phòng được sát nhập thành một Viện thống nhất lấy tên là
Viện Nghiên cứu biển Nha Trang.
- Aquarium
+ Hệ thống Aquarium của Bảo tàng Hải dương học hiện nay được bố trí
trong một không gian diện tích 5000 m
2
với một quần thể bao gồm các hồ
nuôi sinh vật biển thường xuyên nuôi hơn 300 loài sinh vật biển tiêu biểu
và rất có giá trị (các loại Rùa biển, cá Mập, cá Đuối, cá Chình, cá Mú,
san hô sống với các loại cá cảnh biển, tôm Hùm, …) phục vụ nghiên cứu,
tham quan cũng như giáo dục cộng đồng.
- Khu đa dạng sinh vật biển
+ Khu trưng bày đa đạng sinh vật biển được xem là bộ phận có ý nghĩa
nhất làm nên nét đặc trưng cho Bảo tàng Hải dương học trong hệ thống
các bảo tàng ở Việt Nam.
+ Khu trưng bày đa dạng là nơi đang trưng bày, bảo quản bộ mẫu sinh
vật biển – nguồn di sản biển lớn nhất Việt Nam hiện nay. Nơi đây đang
lưu giữ và bảo tồn một bộ mẫu sinh vật biển lớn và quý với khoảng
23.000 mẫu thuộc 5.000 loài (thuộc các nhóm: thực vật biển, Hải miên,
Ruột khoang, Thân mềm, Giáp xác, Da dai, Cá, Bò sát, Thú biển). Bộ
mẫu sinh vật biển bao gồm các loài hiện hữu ở biển Việt Nam và các
vùng nước lân cận. Ngoài những mẫu có giá trị khoa học, Bảo tàng còn
lưu giữ nhiều mẫu quí hiếm như: Cá Tầm, Cua Vua, Cá Mặt trăng đuôi
nhọn, Trai khổng lồ nặng 145kg, Mực bay khổng lồ, Cá Ông Chuông,
Hải Cẩu v.v…
+ Tháng 10/2012 Bảo tàng Hải dương học được Trung tâm sách kỷ lục
Việt Nam (VietKings) chính thức xác lập và công bố “Nơi lưu trữ bộ
mẫu sinh vật biển lớn nhất”.
- Khu trưng bày mẫu vật lớn
+ Các mẫu vật được sưu tầm và tìm kiếm từ nhiều năm qua. Ba mẫu vật
lớn được bố trí trong một không gian rộng tới 200 m
2
Chồng. Điều kỳ lạ hấp dẫn du khách là những tảng đá lớn nằm chồng
chất lên nhau bao đời nay nhưng sóng biển và mưa gió không thể nào xô
ngã được.
- Tục truyền rằng, thuở xưa ông khổng lồ ngồi câu cá nơi đây, có một con
cá cũng khổng lồ cắn câu lôi đi. Ông phải kéo lại, tay cầm cần câu, tay tì
vào tảng đá lấy đà khiến bàn tay ấn vào đá và để lại dấu như đã thấy.
- Theo một truyền thuyết khác, xưa có một người khổng lồ đến xứ này
ngoạn cảnh, gặp những nàng tiên đang tắm, ông dừng lại say sưa ngắm
và vô tình trượt chân ngã, ông vội bám tay vào núi khiến sườn núi sụp
đổ, đá văng xuống để lại vết tay ông hằn trên đá. Dấu chân trượt ngã đủ
năm ngón cũng để lại dấu tích ở khu vực Suối Tiên.
- Lại cũng có thêm một truyền thuyết khác nói về Hòn Chồng: Xưa kia,
nơi đây vốn còn những vách đá cao và dựng đứng. Một ngày nọ, có một
chiếc thuyền của đôi vợ chồng trẻ bị sóng to gió lớn đánh trôi dạt vào cửa
biển này. Sóng xô thuyền đụng vào vách đá vỡ tung. Sóng lớn cuốn lôi
người vợ ra xa. Người chồng vội lao ra kéo người vợ vào nhưng sóng
càng lúc càng mạnh. Người chồng một tay dìu vợ, một tay bám được vào
vách đá. Vốn đã chênh vênh muốn đổ, nay lại thêm sức mạnh của người
chồng bám vào nên vách đá đổ ào xuống biển và nhấn chìm cả đôi vợ
chồng trẻ bất hạnh. Họ chết đi nhưng dấu bàn tay của người chồng còn
hằn sâu trong đá và giữ mãi với thời gian.
- Có nhiều dị bản gắn với bãi đá Hòn Chồng và dấu vết trên phiến đá. Song
đó là điều kỳ thú mà thiên nhiên đã ban tặng cho con người nơi đây. Khu
vực bãi đá Hòn Chồng mang nhiều tiềm năng để phát triển du lịch, nhưng
mới chỉ được đưa vào khai phá để phát triển du lịch. Trước đây, nếu đến
Hòn Chồng du khách phải vượt đồi dốc và đi lòng vòng mới đến nơi.
Nhưng bây giờ, đường Trần Phú đã được nối dài đi ngang qua đường vào
đồi La San. Từ trung tâm thành phố, du khách chạy dọc theo bờ biển
hướng về Đông Bắc là đến Hòn Chồng. Con đường đến Hòn Chồng giờ
khá thơ mộng, bởi một bên là biển cả với những dải cát vàng trải dài một
đền này cũng nổi tiếng đối với các du khách.
- Truyền thuyết của người Việt:
+ Theo truyền thuyết, ngày xưa tại núi Đại An (Đại Điển) có hai vợ
chồng tiều phu đến cất nhà và làm rẫy trồng dưa nơi triền núi. Suốt một
thời gian dài, hễ trái dưa nào chín tới đều bị mất. Ông lão rình và một
hôm bắt gặp một cô bé khoảng 9 -10 tuổi hái dưa rồi chơi đùa dưới trăng.
Thấy cô bé dễ thương, ông bèn đem về nuôi và thương yêu như con ruột.
+ Hôm đó, trời mưa to gió lớn, cảnh vật tiêu điều buồn bã, cô bé lấy đá
chất thành ba hòn dã sơn và hái hoa lá cắm vào rồi đứng ngắm làm vui.
Cho rằng hành vi của con không hợp với khuê tắc, ông tiều lớn tiếng rầy
la. Không ngờ cô bé là tiên giáng trần buồn nhớ cảnh bồng lai. Đang
buồn lại chợt nhìn thấy một khúc kỳ nam theo nước trôi đến, thiều nữ bèn
hiến thân vào khúc kỳ nam cho sóng đưa đẩy.
Khúc Kỳ Nam trôi ra biển rồi tấp vào nơi gần cung đình, hương toả ngào
ngạt. Người dân trong vùnglấy làm lạ kéo đến xem. Thấy gỗ tốt, họ bèn
xúm vào khiêng, nhưng người đông bao nhiêu cũng không khiêng nổi.
Thái tử Bắc Hải nghe tin đồn bèn tìm đến xem hư thực và giơ tay nhấc
thử. Thật kỳ lạ khi khúc gỗ bỗng nhẹ như tờ giấy, chàng liền đem về
cung và nâng niu như báu vật.
+ Một đêm, dưới ánh trăng mờ, thái tử thấy có bóng người thấp thoáng
nơi để khúc Kỳ Nam, nhưng lại gần xem thì tứ bề vắng vẻ, chỉ phảng
phất mùi hương từ khúc kỳ nam bay ra. Những đêm sau đó, thái tử vẫn
tiếp tục theo dõi
+ Rồi một đêm, chàng thấy từ trong khúc Kỳ Nam bước ra một giai nhan
tuyệt sắc. Chàng vụt chạy đến, ôm choàng lấy giai nhân. Không biến kịp
vào khúc Kỳ Nam, giai nhân đành theo thái tử về cung và cho biết tên là
Thiên Y Ana. Thái tử thấy nàng Ana xinh đẹp khác thường bèn tâu phụ
hoàng xin cưới làm vợ. Hai vợ chồng sống rất hạnh phúc, sinh được hai
con - một trai một gái, dung mạo khôi ngô tuấn tú. Một hôm, nỗi nhớ quê
hương thúc giục, Thiên Y bế hai con nhập vào kỳ nam trở về làng cũ.
bên phải và chuông, đĩa, cung và tù và ở bên trái.
+ Các tháp khác thờ: thần Shiva (một trong ba vị thần tối cao của Ấn Độ
giáo), thần Sanhaka, thần Ganeca (theo truyền thuyết là con trai thần
Shiva). Bên cạnh tháp chính về phía nam khoảng 20 m là một ngôi tháp
khác nhỏ và ít trang trí điêu khắc hơn, cao chừng 12 m, có thể là tháp thờ
thần Shiva. Cách tháp này cũng về hướng nam là một tháp còn nhỏ hơn.
Bên trong tháp không có bệ thờ mà chỉ có một linga (thạch trụ), và đây là
tháp thờ thần Ganesa, thân người đầu voi, con của Shiva. Thực ra, linga
tiêu biểu là một trụ đá thấp có ba phần khác nhau tượng trưng cho ba linh
thể: phần dưới là hình vuông tượng trưng cho Brahma, phần giữa hình
bát giác tượng trưng cho Vishnu, và phần trên cùng hình tròn tượng trưng
cho Rudra (hay còn gọi là Shiva).
+ Ở dãy tháp phía sau có một ngôi tháp, tương đối ít hư hại nhất ở mạn
bắc, với mái dài hình yên ngựa. Kiểu mái này chỉ thấy bắt đầu ở những
tháp vùng Đồ Bàn - Vijaya (Bình Định ngày nay) sau khi kinh đô được
dời xuống từ Mỹ Sơn, Trà Kiệu ở thế kỷ 11. Ở tường có những hình điêu
khắc như thần điểu Garuda, sư tử, các tiên nữ Apsara, rắn thần Naga.
Chính dưới nền của tháp này trong khi tu sửa đầu thế kỷ 20, thực dân
Pháp đã khám phá và lấy mất một kho tàng được cất dấu gồm những vật
cúng dường bằng vàng và bạc.
+ Ngày nay 2 tháp khác ở phía tây nam là tây đã bị phá hủy. Sự phân bố
này làm cho người ta có sự so sánh thú vị với các tháp gạch ở Lolei,
gần Angkor Wat tại Campuchia, đã được xây dựng vào thế kỷ 8.
+ Nhóm tháp Chàm được xây dựng và tu bổ qua nhiều thời kỳ từ thế kỷ
7 đến thế kỷ 12. Tháp Bà có thể do quốc vương Hoàn Vương Quốc là
Harivarman I xây dựng vào khoảng những năm 813-817. Trải qua mưa
nắng của thời gian, tháp bị hư hại. Thời Pháp thuộc, trường Viễn Đông
Bác Cổ đã tổ chức tu sửa: dùng gạch xây lại nhiều phần và đắp một số
tượng lên thân tháp. Trong thời kỳ chiến tranh, nhiều hiện vật bị mất cắp.
Chợ Đầm
- Ngày 12-4-1969 được coi là ngày khởi sự đầu tiên của kế hoạch. Sau 6
tháng, đầm đã bị lấp hoàn toàn.
- Dựa theo đồ án của Kiến trúc sư Lê Quý Phong được thiết kế từ hơn 4
năm trước, các Kiến trúc sư Hồ Thăng, Võ Đình Hiệp, Kỹ sư Nguyễn
Xuân Phương cải tiến và bổ sung thêm một số chi tiết. Ngôi nhà chính ở
trung tâm chợ được xây cất theo hình tròn, mái xếp thành hình chữ V
tượng trưng cho bông sen và những cánh sen, đường kính của ngôi nhà
66,5m, có một tầng lầu hình vành khăn, lệch tâm. Diện tích cả tầng trệt
và tầng lầu rộng tới 5.270 m
2
, có thể cùng lúc chứa được trên 3.000
khách ra vào mua bán. Hai cao ốc này được khởi công xây dựng đầu năm
1970 và hoàn thành vào cuối năm 1972. Ngôi nhà tròn và toàn bộ khu
chợ được hoàn thành, đưa vào khai trương sử dụng năm 1974.
- Tiếc thay, thời gian sử dụng chưa được bao lâu thì những ngày cuối
tháng 3-1975, trước sức tiến công và nổi dậy của quân và dân ta, quân
đội VNCH rút chạy từ Tây Nguyên và các nơi khác đổ về đã ngang nhiên
cướp phá chợ Đầm, phóng lửa đốt chợ. Ngôi nhà tròn như một bông sen
lớn mới nở giữa lòng thành phố bị xám đen, sập đổ hư hỏng nặng, không
sử dụng được nữa. Chợ Đầm vẫn tiếp tục nhóm họp nhưng mỹ quan và
trật tự bị giảm sút nhiều. Một kế hoạch tu sửa lại toàn bộ ngôi nhà tròn và
quy hoạch tổng thể khu chợ được xây dựng và triển khai với sự tham gia
của Viện Thiết kế xây dựng và Ty Xây dựng tỉnh. Ngày 3-2-1980, nhân
kỷ niệm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và mừng xuân Canh
Thân, lễ chính thức khai trương Cửa hàng Bách hóa tổng hợp Chợ Đầm
với diện tích sử dụng là toàn bộ hai tầng của ngôi nhà tròn được sửa chữa
lại khang trang và đẹp đẽ hơn xưa được tổ chức trọng thể với nhiều quan
khách trong và ngoài tỉnh cùng hàng ngàn đồng bào tham dự.
- Ngày nay, ai đã có dịp đi trên máy bay từ thủ đô Hà Nội vào Nha Trang,
từ trên nhìn xuống, cả thành phố như một lẵng hoa lớn đặt bên bờ biển
Thịt ốc được cạo rửa sạch cho hết chất nhờn, mang luộc chín rồi xắt mỏng
chấm nước mắm gừng, tỏi ớt pha sắn rất ngon.Hấp dẫn hơn là món gỏi ốc
giác. Luộc chín ốc rồi xắt sợi, cùng với thịt ba chỉ hoặc thịt lợn nọng (phần
cổ) cũng luộc chín, xắt sợi. Đu đủ sống bào mỏng, rau răm xắt nhỏ, hành
tây, đậu phộng rang, hành phi… nước mắm, tỏi, ớt, chua, ngọt.
Trộn đu đủ, rau răm, hành tây và ốc, thịt luộc, rưới nước giấm đường pha lẫn
với nhau rắc đậu phộng và hành phi lên. Ăn kèm với bánh tráng .Ốc giác
mới đánh bắt lên bờ là ốc tươi, thịt ốc tiết ra chất nhờn thì thịt sẽ ngon ngọt
hơn tự nhiên. Còn ốc khô ráo là ốc đánh bắt đã lâu ngày, thịt có mùi hôi.
5. Bánh xèo mực:
Từ tháng 2-8 Âm lịch hàng năm, ngư dân đánh mực mành chong từ tối, sáng
ra đã có sản phẩm tươi ngay bãi biển. Bánh xèo mực Nha Trang có kích
thước giống như chúng ta thường thấy bán ở vỉa hè Sài Gòn nhưng hấp dẫn
và chất lượng hơn nhiều. Ngoài những thành phần bắt buộc, thì nguyên liệu
chính để tạo nên “tên tuổi” cho món đặc sản này là mực ống và tôm tươi
6. Nem nướng Nha Trang:
Nem gồm có 2 loại: nem chua và nem nướng. Mỗi thứ nem có vị ngon riêng,
tuy nhiên, ngồi bên bếp than hồng, chưa ăn đã gửi thấy mùi thơm ngọt ngào
của thịt nướng, man mát của đủ thứ rau sống khiến món nem nướng hấp dẫn
thực khách hơn. Còn nem chua được ưa thích để mua làm quà mỗi khi rời xa
thành phố Nha Trang. Nước chấm được pha chế với công thức riêng từ hỗn
hợp thịt heo băm, nếp giã nhuyễn, tương, đường, nước mắm, muối, tỏi, và
một số gia vị khác làm nên món nem cực kì hấp dẫn dạ dày thực khách.
7. Sá sùng:
Đây là món không được nhiều người biết đến ngoại trừ dân biển, vì sá sùng
sống trong cát của những bải biển khá nhiều. Sá sùng rất đắt, vì quá trình bắt
không đơn giản, có khi lên đến 3.5 triệu đồng cho 1 kg sá sùng khô và từ
300-500VND cho 1 kg sá sùng tươi trong các nhà hàng khách sạn khu vực.
Nhưng thịt sá sùng thì ngon cực kỳ. Sá sùng được chế biến rất công phu
như: tươi thì nấu xáo, làm canh; khô thì tẩm ướp nướng, nấu cháo, phở.