396 Hoàn thiện kiểm toán doanh thu trong kiểm toán báo cáo tài chính do Công ty Kế toán Kiểm toán Tư vấn Việt Nam thực hiện - Pdf 22

Luận văn tốt nghiệp Đại học Nguyễn Thị Lê Trang
LỜI MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của Đề tài
Doanh thu là một nhân tố quan trọng trong hoạt động kinh doanh của bất cứ
một doanh nghiệp nào. Do vậy tính đúng đắn của doanh thu có ảnh hưởng trọng
yếu đến các nhân tố khác trong quá trình hoạt động. Những sai sót có thể xảy ra
đối với khoản mục doanh thu ảnh hưởng trực tiếp đến các chỉ tiêu trên báo cáo
kết quả kinh doanh và bảng cân đối kế toán cuối kỳ. Kiểm toán doanh thu trong
kiểm toán báo cáo tài chính là một trong những hoạt động thiết yếu khi tiến hành
kiểm toán cho bất kỳ một khách hàng nào. Sự thiết yếu này là quan trọng bởi các
kết luận về sự trung thực và hợp lý của khoản mục doanh thu được trình bày sẽ
ảnh hưởng rất lớn đến quyết định quản lý của chủ doanh nghiệp và những người
quan tâm khác. Chuẩn mực Kế toán Việt Nam số 14 - Kế toán doanh thu là một
trong bốn chuẩn mực kế toán đầu tiên do Bộ Tài chính ban hành. Điều đó thể
hiện tầm quan trọng của hoạt động kế toán doanh thu trong các doanh nghiệp.
Do đó, kiểm toán doanh thu cũng được chú trọng hơn trong hoạt động cung cấp
dịch vụ của các công ty kiểm toán. Đặc biệt đối với Công ty Kế toán Kiểm toán
Tư vấn Việt Nam (AACC), là một trong những Công ty trẻ trong làng kiểm
toán, quy trình kiểm toán doanh thu luôn được thực hiện một cách đầy đủ và chi
tiết. Bởi tính quan trọng của kiểm toán khoản mục doanh thu tại Công ty nên em
chọn Đề tài: ”Hoàn thiện kiểm toán doanh thu trong kiểm toán báo cáo tài
chính do Công ty Kế toán Kiểm toán Tư vấn Việt Nam thực hiện” làm Luận
văn tốt nghiệp đại học cho mình.
Mục đích nghiên cứu của Đề tài
Luận văn nghiên cứu kiểm toán doanh thu trong kiểm toán báo cáo tài chính
được cụ thể hoá trong phân tích thực tiễn kiểm toán của Công ty Kế toán Kiểm
toán Tư vấn Việt Nam. Đồng thời, từ những thực tế đó rút ra những nhận xét và
bài học nhằm hoàn thiện kiểm toán doanh thu trong kiểm toán báo cáo tài chính
do Công ty thực hiện.
Lớp Kiểm toán 44_KTQD 1
Luận văn tốt nghiệp Đại học Nguyễn Thị Lê Trang

Luận văn tốt nghiệp Đại học Nguyễn Thị Lê Trang
PHẦN I
LÝ LUẬN CHUNG VỀ KIỂM TOÁN DOANH THU
1.1. Đặc điểm của doanh thu với vấn đề kiểm soát và kiểm toán
1.1.1. Khái niệm và phân loại doanh thu
Quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh là quá trình kết hợp các yếu tố cơ
bản như lao động, tư liệu lao động và đối tượng lao động để tạo ra những vật
phẩm cần thiết phục vụ cho nhu cầu của con người. Trong quá trình kết hợp đó,
các yếu tố cơ bản bị tiêu hao và tạo ra sản phẩm. Sản phẩm đó để bán hoặc tái sử
dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh của mỗi doanh nghiệp. Qua tiêu thụ
sản phẩm, doanh nghiệp sẽ ghi nhận doanh thu bán hàng, cung cấp dịch vụ. Đây
là một trong những tiêu chí thể hiện rõ nét khả năng hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp trong kỳ.
Theo Từ điển Tiếng Việt thì: ”Doanh thu là tổng thu do kinh doanh nhập
trong một thời kỳ nhất định bao gồm cả vốn lẫn lãi”
(11,303)
Theo quan điểm của Mác về tuần hoàn và chu chuyển tư bản thì: “Doanh thu
là kết quả của quá trình tiêu thụ, đó là quá trình thực hiện giá trị và giá trị sử
dụng của sản phẩm hàng hoá. Qua tiêu thụ, sản phẩm chuyển từ hình thái hiện
vật sang trạng thái tiền tệ và kết thúc một vòng chu chuyển vốn”
(9,180)
Theo Chuẩn mực Kế toán Việt Nam số 14 - Doanh thu và Thu nhập khác:
“Doanh thu là tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp thu được trong kỳ kế
toán, phát sinh từ các hoạt động sản xuất, kinh doanh thông thường của doanh
nghiệp, góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu”
(8,97)
Doanh thu chỉ bao gồm tổng giá trị các lợi ích kinh tế doanh nghiệp đã thu
được hoặc sẽ thu được. Các khoản thu hộ bên thứ ba không phải là nguồn lợi ích
kinh tế, không làm tăng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp sẽ không được coi là
doanh thu. Các khoản góp vốn của cổ đông hoặc chủ sở hữu làm tăng vốn chủ

Luận văn tốt nghiệp Đại học Nguyễn Thị Lê Trang
Doanh thu thuần về
bán hàng và cung cấp
dịch vụ
=
Doanh thu bán
hàng và cung cấp
dịch vụ
-
Các
khoản
giảm trừ
Trong công thức trên:
Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là tổng giá trị các lợi ích kinh tế
doanh nghiệp thu được trong kỳ kế toán phát sinh từ các hoạt động sản xuất kinh
doanh thông thường của doanh nghiệp góp phần làm tăng vốn chủ sở hữu.
Nếu doanh nghiệp áp dụng tính thuế giá trị gia tăng (GTGT) phải nộp theo
phương pháp khấu trừ thì doanh thu bán hàng là doanh thu chưa tính thuế GTGT
và doanh nghiệp sử dụng hoá đơn GTGT.
Nếu doanh nghiệp áp dụng tính thuế GTGT phải nộp theo phương pháp trực
tiếp thì doanh thu bán hàng là doanh thu có tính thuế GTGT và doanh nghiệp sử
dụng hoá đơn bán hàng.
Các khoản giảm trừ doanh thu là các khoản phát sinh trong kỳ của doanh
nghiệp làm doanh thu bị giảm trừ, tập trung vào ba khoản sau: giảm giá hàng
bán, giá trị hàng bán bị trả lại, chiết khấu thương mại.
Giảm giá hàng bán là khoản giảm trừ cho khách hàng ngoài hoá đơn hay hợp
đồng cung cấp dịch vụ do các nguyên nhân đặc biệt như hàng kém phẩm chất,
không đúng quy cách, giao hàng không đúng thời gian địa điểm trong hợp
đồng…
Giá trị hàng bán bị trả lại là giá trị khối lượng hàng bán đã được coi là tiêu

Kiểm soát doanh thu được thực hiện nhằm đảm bảo trình bày hợp lý khoản
mục doanh thu trên BCTC của doanh nghiệp. Hoạt động này được thực hiện bởi
chính doanh nghiệp đó thông qua hệ thống tổ chức kiểm soát đã được thiết lập.
Để kiểm soát doanh thu có hiệu quả, các doanh nghiệp cần chú ý tới một số vấn
đề sau:
Lớp Kiểm toán 44_KTQD 6
Luận văn tốt nghiệp Đại học Nguyễn Thị Lê Trang
Thứ nhất, Các tiêu chí ghi nhận doanh thu, Tiêu chí ghi nhận doanh thu phụ
thuộc vào từng loại doanh thu của các dịch vụ do doanh nghiệp cung cấp
Một là, Doanh thu từ bán hàng: được ghi nhận khi đồng thời thoả mãn năm
điều kiện sau: Doanh nghiệp đã chuyển giao phần lớn rủi ro và lợi ích gắn liền
với quyền sở hữu sản phẩm hoặc hàng hoá cho người mua; Doanh nghiệp không
còn nắm giữ quyền quản lý hàng hóa như người sở hữu hàng hóa hoặc quyền
kiểm soát hàng hoá; Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn; Doanh
nghiệp đã thu được hoặc sẽ thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch bán hàng; Xác
định được chi phí liên quan đến giao dịch bán hàng.
Hai là, Doanh thu từ cung cấp dịch vụ: được ghi nhận khi kết quả của giao
dịch đó được xác định một cách đáng tin cậy. Trường hợp giao dịch về cung cấp
dịch vụ liên quan đến nhiều kỳ thì doanh thu được ghi nhận trong kỳ theo kết
quả phần công việc đã hoàn thành vào ngày lập bảng cân đối kế toán của kỳ đó.
Kết quả của giao dịch và cung cấp dịch vụ được xác định khi thoả mãn tất bốn
điều kiện sau: Doanh thu được xác định tương đối chắc chắn; Có khả năng thu
được lợi ích kinh tế từ giao dịch cung cấp dịch vụ đó; Xác định được phần công
việc đã hoàn thành vào ngày lập bảng cân đối kế toán; Xác định được chi phí
phát sinh cho giao dịch và chi phí để hoàn thành giao dịch cung cấp dịch vụ đó.
Ba là, Doanh thu phát sinh từ tiền lãi, tiền bản quyền, cổ tức và lợi nhuận
được chia: được ghi nhận khi thoả mãn đồng thời hai điều kiện sau: Có khả năng
thu được lợi ích kinh tế từ giao dịch đó; Doanh thu được xác định tương đối
chắc chắn.
Thứ hai, Các nguyên tắc kế toán doanh thu, Hiện nay, công tác hạch toán kế

kế toán áp dụng trong việc ghi nhận doanh thu của từng loại giao dịch và sự
kiện. Doanh thu phát sinh từ giao dịch được xác định bởi thoả thuận giữa doanh
nghiệp với bên mua hoặc bên sử dụng tài sản. Nó được xác định bằng giá trị hợp
lý của các khoản đã thu hoặc sẽ thu được sau khi trừ đi các khoản chiết khấu
thương mại, giảm giá hàng bán và hàng bán bị trả lại. Đối với các khoản tiền
Lớp Kiểm toán 44_KTQD 8
Luận văn tốt nghiệp Đại học Nguyễn Thị Lê Trang
hoặc tương đương tiền không được nhận ngay thì doanh thu được xác định bằng
cách quy đổi giá trị danh nghĩa của các khoản sẽ thu được trong tương lai về giá
trị thực tế tại thời điểm ghi nhận doanh thu theo tỷ lệ lãi suất hiện hành. Giá trị
thực tế tại thời điểm ghi nhận doanh thu có thể nhỏ hơn giá trị danh nghĩa sẽ thu
được trong tương lai. Khi hàng hoá hoặc dịch vụ được trao đổi để lấy hàng hoá
hoặc dịch vụ tương tự về bản chất và giá trị thì việc trao đổi đó không được coi
là một giao dịch tạo ra doanh thu. Khi hàng hoá hoặc dịch vụ được trao đổi để
lấy hàng hoá hoặc dịch vụ khác không tương tự thì việc trao đổi đó được coi là
một giao dịch tạo ra doanh thu. Trường hợp này doanh thu được xác định bằng
giá trị hợp lý của hàng hoá hoặc dịch vụ nhận về, sau khi điều chỉnh các khoản
tiền hoặc tương đương tiền trả thêm hoặc thu thêm. Khi không xác định được
giá trị hợp lý của hàng hoá hoặc dịch vụ nhận về thì doanh thu được xác định
bằng giá trị hợp lý của hàng hoá hoặc dịch vụ đem trao đổi, sau khi điều chỉnh
các khoản tiền hoặc tương đương tiền trả thêm hoặc thu thêm.
Có thể theo dõi chi tiết các khoản doanh thu và giảm trừ từ hoạt động kinh
doanh của doanh nghiệp như sau:
Một là, Doanh thu bán hàng được theo dõi trên Tài khoản (TK) 511 - Doanh
thu bán hàng: TK này được dùng để phản ánh doanh thu bán hàng thực tế của
doanh nghiệp trong kỳ và các khoản giảm trừ doanh thu. TK này cuối kỳ không
có số dư và được chi tiết thành bốn TK cấp hai
TK 5111 – Doanh thu bán hàng hóa Phản ánh doanh thu và doanh thu thuần
của khối lượng hàng hoá đã xác định là tiêu thụ… TK này được sử dụng chủ yếu
trong các doanh nghiệp kinh doanh vật tư hàng hoá.

vào TK này số doanh thu của khối lượng sản phẩm hàng hoá, dịch vụ, lao vụ của
các thành viên cung cấp lẫn nhau. Không hạch toán vào TK này các TK doanh
thu bán hàng cho các doanh nghiệp không trực thuộc công ty, tổng công ty.
Lớp Kiểm toán 44_KTQD 10
Luận văn tốt nghiệp Đại học Nguyễn Thị Lê Trang
Ba là, Chiết khấu thương mại được theo dõi trên TK 521 - Chiết khấu thương
mại: TK này dùng để phản ánh khoản chiết khấu thương mại mà doanh nghiệp
đã giảm trừ hoặc đã thanh toán cho khách hàng mua hàng với khối lượng lớn
theo thoả thuận về chiết khấu thương mại đã ghi trên hợp đồng kinh tế. TK này
không có số dư cuối kỳ.
Bốn là, Hàng bán bị trả lại được theo dõi trên TK 531 – Hàng bán bị trả lại:
TK này dùng để theo dõi doanh thu của số hàng hoá, thành phẩm lao vụ dịch vụ
đã tiêu thụ nhưng bị khách hàng trả lại do các nguyên nhân như: vi phạm cam
kết hợp đồng kinh tế, hàng bị mất, kém phẩm chất, không đúng quy cách, chủng
loại. TK này cuối kỳ không có số dư.
Năm là, Giảm giá hàng bán được theo dõi trên TK 532 - Giảm giá hàng bán:
TK này theo dõi toàn bộ các khoản giảm giá hàng bán cho khách hàng trên giá
bán đã thoả thuận vì các lý do chủ quan của doanh nghiệp như: hàng bán kém
phẩm chất hay không đúng quy cách theo quy định trong hợp đồng kinh tế. TK
này cuối kỳ không có số dư.
Thứ ba, Hệ thống Kiểm soát nội bộ trong doanh nghiệp, Để kiểm soát doanh
thu cũng như các hoạt động khác, hệ thống kiểm soát nội bộ được xây dựng
nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý cũng như đảm bảo hiệu quả trong hoạt động của
bất cứ một doanh nghiệp nào. Kiểm soát nội bộ là hoạt động thường xuyên của
các đơn vị tổ chức có bốn chức năng cơ bản sau:
Một là, Bảo vệ tài sản cho đơn vị: tài sản đơn vị bao gồm cả tài sản hữu hình
và vô hình, chúng có thể bị đánh cắp, lạm dụng vào các mục đích khác nhau
hoặc bị hư hại nếu không được bảo vệ bởi các hệ thống kiểm soát thích hợp.
Hai là, Bảo đảm độ tin cậy của các thông tin: thông tin kinh tế, tài chính do
bộ máy kế toán của doanh nghiệp tổng hợp là căn cứ quan trọng cho việc hình

dịch vụ cho người mua; người mua đã ứng tiền, doanh nghiệp đã xuất hàng hoặc
Lớp Kiểm toán 44_KTQD 12
Luận văn tốt nghiệp Đại học Nguyễn Thị Lê Trang
đã cung cấp dịch vụ nhưng các thủ tục mua bán, cung cấp dịch vụ chưa hoàn
thành và người mua chưa chấp nhận thanh toán; số liệu đã tính toán và ghi sổ sai
làm tăng doanh thu so với số liệu phản ánh trên chứng từ kế toán.
Hai là, Doanh thu phản ánh trên sổ sách, báo cáo kế toán thấp hơn so với
doanh thu thực tế: trường hợp này được biểu hiện cụ thể là doanh nghiệp chưa
hạch toán vào doanh thu hết các khoản thu đã đủ điều kiện để xác định là doanh
thu như quy định hoặc số doanh thu đã phản ánh trên sổ sách, báo cáo kế toán
thấp hơn so với doanh thu trên các chứng từ kế toán. Có thể là do: doanh nghiệp
đã làm thủ tục bán hàng và cung cấp dịch vụ cho khách hàng, khách hàng đã trả
tiền hoặc đã thực hiện các thủ tục chấp nhận thanh toán nhưng đơn vị chưa hạch
toán hoặc đã hạch toán nhầm vào các tài khoản khác; số liệu đã tính toán và ghi
sổ sai làm giảm doanh thu so với số liệu phản ánh trên chứng từ kế toán.
Việc hạch toán doanh thu tồn tại rủi ro như trên có nhiều nguyên nhân,
nhưng chủ yếu là do nhân viên kế toán chưa nắm rõ quy định về doanh thu hoặc
do trình độ nghiệp vụ của nhân viên kế toán, hoặc vì một lý do nào đó mà nhân
viên kế toán hạch toán doanh thu không đúng quy định.
1.2. Kiểm toán doanh thu trong kiểm toán báo cáo tài chính
1.2.1. Cơ sở pháp lý và mục tiêu của kiểm toán doanh thu
Cơ sở pháp lý thực hiện kiểm toán doanh thu là những luật định, tiêu chuẩn
và các chuẩn mực chung do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành. Hiện
nay, kiểm toán doanh thu thực hiện dựa trên hệ thống Chuẩn mực và luật định
như:
Chuẩn mực Kế toán Việt Nam số 14 – Doanh thu và thu nhập khác: Chuẩn
mực này được Bộ Tài chính đưa ra trong Quyết định số 149/2001/QĐ-BTC
ngày 31/12/2001. Nội dung của Chuẩn mực này có quy định các nguyên tắc và
phương pháp kế toán doanh thu và thu nhập khác.
Thông tư số 89/2002/TT-BTC ngày 09/10/2002 hướng dẫn kế toán thực hiện

tiêu chung khác. Mục tiêu hợp lý chung bao hàm việc xem xét, đánh giá tổng thể
số liệu trên các khoản mục trên cơ sở cam kết chung về trách nhiệm của nhà
quản lý và thông tin thu được qua khảo sát thực tế tại khách thể kiểm toán. Để
Lớp Kiểm toán 44_KTQD 14
Luận văn tốt nghiệp Đại học Nguyễn Thị Lê Trang
có thể đánh giá được mục tiêu hợp lý chung thì KTV cần có sự nhạy bén, khả
năng phán đoán cùng tác phong sâu sát với thực tế tại đơn vị được kiểm toán.
Nếu KTV không nhận thấy mục tiêu hợp lý chung đã đạt được thì tất yếu phải
sử dụng kết hợp với các mục tiêu chung khác. Các mục tiêu chung khác gồm các
mục tiêu hiệu lực, trọn vẹn, quyền và nghĩa vụ, định giá, chính xác cơ học, phân
loại và trình bày.
Mục tiêu đặc thù được xác định trên cơ sở mục tiêu chung và đặc điểm của
khoản mục hay phần hành cùng cách thức phản ánh theo dõi trong hệ thống kế
toán và hệ thống kiểm soát nội bộ. Các mục tiêu chung được cụ thể vào từng
phần hành kiểm toán thành các mục tiêu đặc thù. Với kiểm toán doanh thu các
mục tiêu kiểm toán được thể hiện như sau:
Mục tiêu hiệu lực, hướng vào tính có thực của khoản mục doanh thu. Cụ thể,
doanh thu được ghi nhận là doanh thu đã phát sinh và được ghi nhận tương ứng
với số tiền mà khách hàng đã thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán cho doanh
nghiệp. Hàng hoá đã được chấp nhận là tiêu thụ và được chuyển giao cho khách
hàng là có thật, không tồn tại các khoản doanh thu được ghi nhận trong khi hàng
hoá chưa được chuyển giao cho khách hàng. Khả năng sai phạm về khoản doanh
thu không có thật thường ít xảy ra, tuy nhiên nếu xảy ra thì có ảnh hưởng trọng
yếu đối với việc xác định lợi nhuận cuối kỳ và nghĩa vụ đối với Nhà nước. Để
khảo sát sai phạm doanh thu ghi sổ là không có thực, KTV lựa chọn một số
khoản mục doanh thu và tính toán lại một số nghiệp vụ bán hàng có doanh số
lớn hoặc phức tạp xem có đúng số phản ánh trên sổ sách hay không. KTV cũng
có thể đối chiếu số liệu của bên Có TK Phải thu của khách hàng với nguồn gốc
của các nghiệp vụ phát sinh số liệu đó. Đối với việc ghi chép nghiệp vụ bán
hàng không thống nhất giữa các kỳ kế toán, KTV có thể đối chiếu ngày ghi trên

nghiệp vụ bán hàng.
Lớp Kiểm toán 44_KTQD 16
Luận văn tốt nghiệp Đại học Nguyễn Thị Lê Trang
Mục tiêu chính xác cơ học, nhằm hướng các nghiệp vụ hạch toán doanh thu
vào việc ghi sổ tổng hợp, sổ chi tiết, và khớp đúng với số tổng trên báo cáo kế
toán cuối kỳ của doanh nghiệp. Việc ghi chép số liệu trên các sổ chi tiết cần phải
khớp đúng với số liệu trên sổ tổng hợp. Ví dụ, doanh thu bán hàng chưa thu
được phải khớp đúng với số liệu chi tiết trên khoản phải thu của các khách hàng
trong kỳ hay doanh thu đã thu được tiền phải khớp đúng với số liệu trên sổ chi
tiết tiền mặt hoặc giấy báo có của Ngân hàng về nghiệp vụ doanh thu. KTV cần
đối chiếu với sổ Nhật ký bán hàng với các sổ chi tiết khác xem số liệu có thực sự
được tổng hợp chính xác hay không. Bên cạnh đó kiểm tra số liệu trên sổ chi tiết
các tài khoản liên quan và Sổ cái để tìm ra việc tổng hợp từ các nghiệp vụ cụ
thể.
Mục tiêu phân loại và trình bày, nhằm hướng các nghiệp vụ bán hàng vào
việc phân loại chính xác, sử dụng các TK chi tiết tuỳ thuộc vào từng doanh
nghiệp để hạch toán; phân loại rõ ràng các khoản doanh thu từ bán hàng hoá
dịch vụ ra bên ngoài và doanh thu nội bộ doanh nghiệp; phân loại và trình bày
chi tiết các khoản giảm trừ doanh thu từ các nghiệp vụ bán hàng. Doanh thu
trong kỳ của doanh nghiệp có thể thu được bằng chuyển khoản, bằng tiền mặt
hoặc bán chịu. Việc xem xét phân loại doanh thu theo các hình thức thanh toán
giúp cho việc tổng hợp báo cáo kế toán cuối kỳ được phản ánh chính xác. Ngoài
ra, việc phân loại chính xác doanh thu bán hàng và doanh thu nội bộ trong các
doanh nghiệp có nhiều bộ phận rất quan trọng khi hợp nhất báo cáo tài chính.
Việc xác định mục tiêu cho từng công việc trước khi tiến hành kiểm toán sẽ
trợ giúp cho công việc kiểm toán đi đúng hướng và tiết kiệm được thời gian
trong hoạt động kiểm toán. Trong quá trình kiểm toán, KTV luôn chú trọng tới
mục tiêu cụ thể của kiểm toán nhằm đạt được mục tiêu chung của toàn bộ cuộc
kiểm toán. Việc tập trung vào những mục tiêu nào tuỳ thuộc vào tính chất và
mức rủi ro có thể xảy ra đối với những sai sót của khoản mục đó trên BCTC.

kiểm toán
Bước thứ nhất, Chuẩn bị cho kế hoạch kiểm toán, Quy trình kiểm toán được
bắt đầu khi KTV và công ty kiểm toán thu nhận một khách hàng. Thu nhận
khách hàng là một quá trình gồm hai bước bao gồm: sự liên lạc giữa KTV với
khách hàng tiềm năng mà khách hàng này yêu cầu được kiểm toán và sự đánh
giá việc chấp nhận hay không chấp nhận đối với yêu cầu được kiểm toán đó. Đối
với các khách hàng mới việc chấp nhận kiểm toán phải được thực hiện thông
qua việc đánh giá rủi ro chấp nhận khách hàng mới đó. Đối với các khách hàng
hiện tại, KTV cần phải xem xét việc có thể tiếp tục chấp nhận kiểm toán cho
năm tài chính hiện tại. Sau khi chấp nhận kiểm toán đối với khách hàng, KTV sẽ
tiến hành thực hiện lập kế hoạch kiểm toán như sau:
Lớp Kiểm toán 44_KTQD 19
Chuẩn bị cho kế hoạch kiểm toán
Thu thập thông tin cơ sở
Thu thập thông tin về nghĩa vụ pháp lý của khách
hàng và thực hiện các thủ tục phân tích
Đánh giá tính trọng yếu, rủi ro
kiểm toán
Nghiên cứu hệ thống kiểm soát nội bộ của
khách hàng và đánh giá rủi ro kiểm soát
Lập kế hoạch kiểm toán toàn diện và soạn thảo
chương trình kiểm toán
Luận văn tốt nghiệp Đại học Nguyễn Thị Lê Trang
Một là, Đánh giá khả năng chấp nhận kiểm toán: KTV cần đánh giá khả năng
chấp nhận kiểm toán một khách hàng mới hay tiếp tục kiểm toán cho một khách
hàng cũ ảnh hưởng đến rủi ro cho hoạt động của công ty kiểm toán. Để thực
hiện được điều đó KTV cần kiểm soát chất lượng đối với việc thực hiện một hợp
đồng kiểm toán theo Chuẩn mực Kiểm toán Việt Nam số 220 - Kiểm soát chất
lượng hoạt động kiểm toán. Xem xét tính liêm chính của ban giám đốc (BGĐ)
công ty khách hàng, bởi đây là một bộ phận chủ chốt của hệ thống kiểm soát nội

lượng bằng chứng kiểm toán KTV cần thu thập và giúp cho công ty kiểm toán
có thể ước lượng được quy mô phức tạp của cuộc kiểm toán. Ví dụ, nếu các
BCTC cần được sử dụng rộng rãi thì mức độ trung thực, hợp lý của các thông tin
trên BCTC đòi hỏi càng cao và do đó số lượng bằng chứng kiểm toán cần thu
thập cũng như quy mô và độ phức tạp của cuộc kiểm toán sẽ càng tăng lên
Ba là, Lựa chọn đội ngũ nhân viên thực hiện kiểm toán: nhằm hướng tới hiệu
quả và tính tuân thủ các Chuẩn mực Kiểm toán chung được thừa nhận. Chuẩn
mực kiểm toán chung đầu tiên nêu rõ quá trình kiểm toán phải được thực hiện
bởi một hoặc nhiều người đã được đào tạo đầy đủ thành thạo như một KTV. Khi
lựa chọn đội ngũ nhân viên thực hiện kiểm toán, cần chú ý tới các vấn đề sau: có
trình độ hiểu biết về chuyên môn nghiệp vụ; có tính độc lập trong việc thực hiện
kiểm toán đối với khách hàng; có đầy đủ kinh nghiệm và sự am hiểu về lĩnh vực
kinh doanh của khách hàng để thực hiện kiểm toán.
Bốn là, Ký kết hợp đồng kiểm toán: sau khi công ty kiểm toán quyết định
chấp nhận kiểm toán cho khách hàng công việc tiếp theo là ký kết hợp đồng
kiểm toán. Đây là sự thoả thuận chính thực giữa công ty kiểm toán với khách
hàng về việc thực hiện kiểm toán và các dịch vụ có liên quan khác. Việc ký kết
hợp đồng kiểm toán phải được thực hiện trước khi tiến hành công việc kiểm
toán nhằm bảo vệ quyền lợi của khách hàng và của công ty kiểm toán. Nội dung
của hợp đồng kiểm toán tập trung vào một số vấn đề chủ yếu sau: Mục tiêu và
phạm vi của cuộc kiểm toán, trách nhiệm của BGĐ công ty khách hàng và KTV;
Lớp Kiểm toán 44_KTQD 21
Luận văn tốt nghiệp Đại học Nguyễn Thị Lê Trang
hình thức thông báo kết quả kiểm toán; thời gian thực hiện cuộc kiểm toán; căn
cứ tính giá phí cuộc kiểm toán và hình thức thanh toán. Hợp đồng kiểm toán là
cơ sở pháp lý để KTV thực hiện các bước tiếp theo của cuộc kiểm toán và có
ảnh hưởng đến trách nhiệm pháp lý của KTV đối với khách hàng. Sau khi hợp
đồng kiểm toán được ký kết, công ty kiểm toán trở thành chủ thể chính thức của
công ty khách hàng.
Bước thứ hai, Thu thập thông tin cơ sở, Thu thập thông tin cơ sở giúp KTV

chung: kết quả của các cuộc kiểm toán trước chứa đựng rất nhiều thông tin về
công việc hoạt động kinh doanh của khách hàng, cơ cấu tổ chức và các đặc điểm
trong hoạt động kinh doanh. Ngoài ra, hồ sơ kiểm toán chung của công ty kiểm
toán đã có những thông tin thường xuyên của các khách hàng. Hồ sơ này có các
tài liệu liên quan đến sơ đồ tổ chức bộ máy; điều lệ công ty; chính sách tài chính
kế toán. Bằng việc tìm hiểu này KTV sẽ có được những nét khái quát ban đầu về
khách hàng trước khi thực hiện kiểm toán.
Ba là, Tham quan nhà xưởng: tham quan nhà xưởng, quan sát trực tiếp hoạt
động sản xuất kinh doanh cung cấp cho KTV một cái nhìn tổng thể và trực diện
về công ty khách hàng. Việc tham quan nhà xưởng tạo điều kiện cho việc thuyết
minh số liệu kế toán, phát hiện những vấn đề cần quan tâm. Đồng thời giúp
KTV có được nhận định ban đầu về phong cách quản lý của BGĐ hay tính hệ
trọng trong việc tổ chức.
Bốn là, Nhận diện các bên hữu quan: các bên hữu quan là các bộ phận trực
thuộc, các chủ sở hữu chính của công ty khách hàng hay bất kỳ một cá nhân hay
tổ chức nào mà khách hàng có quan hệ, có ảnh hưởng đáng kể tới chính sách
kinh doanh và quản trị của công ty khách hàng. Việc nhận diện này được thực
hiện thông qua phỏng vấn BGĐ, nhân viên trong công ty hay xem sổ theo dõi cổ
đông, sổ theo dõi khách hàng nhằm hoạch định một kế hoạch kiểm toán phù
hợp.
Năm là, Sử dụng chuyên gia bên ngoài: nhằm đánh giá một cách chính xác
những yêu cầu kỹ thuật chuyên môn của công ty khách hàng. Chuẩn mực Kiểm
toán Việt Nam số 620 - Sử dụng tư liệu của chuyên gia hướng dẫn khi sử dụng
Lớp Kiểm toán 44_KTQD 23
Luận văn tốt nghiệp Đại học Nguyễn Thị Lê Trang
tư liệu của chuyên gia trong quá trình kiểm toán, KTV phải thu thập đầy đủ các
bằng chứng kiểm toán thích hợp để đảm bảo rằng các tư liệu đó đáp ứng được
mục đích của cuộc kiểm toán. Khi có kế hoạch sử dụng tư liệu của chuyên gia
thì KTV và công ty kiểm toán phải xác định năng lực chuyên môn và đánh giá
tính khách quan của chuyên gia.

biến đổi quan trọng về kế toán, hoạt động kinh doanh của khách hàng; tăng
cường sự hiểu biết của KTV về hoạt động kinh doanh, giúp KTV xác định các
vấn đề nghi vấn; đánh giá sự hiện diện các sai số có thể có trên BCTC. Thủ tục
phân tích mà KTV sử dụng bao gồm phân tích ngang (phân tích xu hướng) là
việc phân tích dựa trên cơ sở so sánh các trị số của cùng một chỉ tiêu trên BCTC
và phân tích dọc (phân tích tỷ suất) là việc phân tích dựa trên cơ sở so sánh các
tỷ lệ tương quan của các chỉ tiêu và khoản mục khác nhau trên BCTC. Tuy
nhiên trong giai đoạn này, thủ tục phân tích được thực hiện tập trung chủ yếu
vào việc xem xét những nét khái quát về tình hình tài chính của khách hàng và
đánh giá vị trí của khách hàng đó với những doanh nghiệp trong cùng ngành.
Bước thứ tư, Đánh giá tính trọng yếu và rủi ro kiểm toán, Trọng yếu và rủi
ro là hai nhân tố luôn đi liền kề với nhau trong kiểm toán BCTC.
Một là, Đánh giá tính trọng yếu: trong giai đoạn này KTV phải đánh giá mức
độ trọng yếu để ước tính mức độ sai sót của BCTC có thể chấp nhận được; xác
định phạm vi của cuộc kiểm toán và đánh giá ảnh hưởng của các sai sót để từ đó
xác định bản chất, thời gian và phạm vi thực hiện các thử nghiệm kiểm toán.
Đánh giá tính trọng yếu bao gồm hai bước: ước lượng ban đầu về tính trọng yếu
và phân bổ ước lượng ban đầu đó cho các khoản mục. KTV cần có ước lượng
ban đầu về tính trọng yếu của các khoản mục doanh thu, từ đó giúp cho KTV lập
kế hoạch thu thập bằng chứng kiểm toán thích hợp. Việc ước lượng ban đầu về
tính trọng yếu là việc làm mang tính chất xét đoán nghề nghiệp của KTV. Do
đó, ước lượng ban đầu về tính trọng yếu không cố định mà có thể thay đổi trong
Lớp Kiểm toán 44_KTQD 25

Trích đoạn Định hướng và yêu cầu hoàn thiện Về phía các hiệp hội kế toán kiểm toán
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status