KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
LỜI MỞ ĐẦU
Tính cấp thiết của đề tài
Trong các chỉ tiêu tài chính, doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ được coi
là một chỉ tiêu đặc biệt quan trọng, nó luôn ảnh hưởng trọng yếu đến Báo cáo kết quả
kinh doanh, cũng như ảnh hưởng rất lớn đến các chỉ tiêu trong Bảng cân đối kế toán:
Lợi nhuận chưa phân phối, thuế VAT, thuế thu nhập doanh nghiệp…Đồng thời, nó
luôn là nền tảng để các chủ danh nghiệp cũng như người quan tâm xem xét, đánh giá
tình hình hoạt động của doanh nghiệp. Kiểm toán khoản mục doanh thu BH&CCDV
là bước thiết yếu trong kiểm toán Báo cáo tài chính cho bất kỳ khách hàng nào. Công
ty kiểm toán Aticvietnam luôn chú trọng khoản mục doanh thu BH&CCDV hơn so
với các khoản mục khác. Chuẩn mực Kế toán Việt Nam số 14- Kế toán doanh thu là
một trong bốn chuẩn mực đầu tiên do Bộ tài chính ban hành. Nhận thức được tầm
quan trọng của công việc kiểm toán doanh thu BH&CCDV, trong thời gian thực tập
tại công ty kiểm toán Aticvietnam, dưới sự hướng dẫn tận tình của cô giáo Ths. Bùi
Thị Minh Hải và các anh chị KTV, em đã lựa chọn đề tài: “ Hoàn thiện kiểm toán
khoản mục doanh thu bán hàng&cung cấp dịch vụ trong kiểm toán Báo cáo tài
chính do công ty kiểm toán Aticvietnam thực hiện” làm Khóa luận tốt nghiệp đại
học cho mình.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Trong Khóa luận của mình, em chỉ đi sâu nghiên cứu kiểm toán khoản mục
doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ trong doanh nghiệp sản xuất mà chưa đi sâu
vào nghiên cứu toàn bộ các khoản mục khác của doanh thu như: Doanh thu nội bộ,
doanh thu hoạt động tài chính hay của loại hình doanh nghiệp khác như công ty
thương mại, doanh nghiệp cung cấp dịch vụ...
Phương pháp nghiên cứu
Bằng phương pháp luận của phép biện chứng duy vật kết hợp với các phương
pháp toán học, logic…cùng với các kỹ thuật kế toán, kiểm toán và những kiến thức
mà em đã học, tích lũy được đã giúp em hoàn thành Khóa luận này.
Nội dung của Đề tài
Đỗ Như Hoa - Kiểm toán 45A
(1)
. Từ thời
Trung cổ, kiểm toán đã được thực hiện bởi các KTV nhà nước và KTV nội bộ để
thẩm tra về tính chính xác của các thông tin tài chính. Trong giai đoạn này, lĩnh vực
kiểm toán phát triển chủ yếu là kiểm toán tuân thủ. Sau này, với sự phát triển như vũ
bão của nền kinh tế toàn cầu, kiểm toán độc lập đã được ra đời và ngày càng chiếm
một tầm quan trọng lớn nhằm đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế.
Thuật ngữ “kiểm toán” thực sự mới xuất hiện và được sử dụng ở nước ta từ hơn
một chục năm cuối thế kỷ XX. Chính vì thế, có rất nhiều quan điểm khác nhau về
kiểm toán. Nhìn chung có thể khái quát thành ba quan điểm chính sau:
Quan điểm 1: đó là đồng nhất giữa kiểm toán và kiểm tra kế toán. Tuy nhiên,
kiểm tra kế toán không phải là một hoạt động độc lập mà nó gắn liền với hoạt động
của kế toán, một thuộc tính cố hữu của kế toán và nằm ngay trong hoạt động của kế
toán. Trong khi đó, kiểm toán luôn là một hoạt động độc lập với kế toán. Quan điểm
này mang tính truyền thống, đồng thời nó chỉ tồn tại trong cơ chế kế hoạch hóa tập
trung.
Quan điểm 2: kiểm toán được hiểu theo đúng thời cuộc của nó, đó là phát sinh
cùng thời với cơ chế thị trường. Theo quan điểm này, người ta thường dẫn ra quan
niệm của các chuyên gia kiểm toán Hoa Kỳ hay của Vương quốc Anh: “Kiểm toán là
sự kiểm tra độc lập và là sự bày tỏ ý kiến về những bản khai tài chính của một xí
nghiệp do một kiểm toán viên được bổ nhiệm để thực hiện những công việc đó theo
đúng với bất cứ nghĩa vụ pháp định có liên quan”
(2)
.
Quan điểm 3: là một quan điểm hiện đại về kiểm toán. Theo quan điểm này,
phạm vi kiểm toán rất rộng, bao gồm bốn lĩnh vực: kiểm toán thông tin(Information
audit), kiểm toán quy tắc( Regularity audit), kiểm toán hiệu quả( Efficiency audit),
(1)
Theo Webster’s Seventh New Collegiate Dictionary, 1965
(2)
• Tài liệu kế toán – đối tượng cụ thể của kiểm toán;
• Hiệu quả, hiệu năng – đối tượng cụ thể của kiểm toán.
Đối tượng kiểm toán rất rộng được thể hiện trên nhiều khách thể khác nhau. Do
đó muốn thực hiện tốt chức năng kiểm toán nhất thiết yêu cầu các KTV phải có nghệ
thuật trong việc tổ chức thực hiện kiểm toán.
* Cách tiếp cận kiểm toán tài chính
Trong kiểm toán tài chính, thường có hai cách cơ bản để tiếp cận kiểm toán tài
chính. Đó là phân theo khoản mục và phân theo chu trình.
(3)
Giáo trình Triết học Mác-Lênin, NXB Chính trị Quốc gia năm 2006, Hà Nội, tr 187
Đỗ Như Hoa - Kiểm toán 45A
4
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Phân theo khoản mục: là cách phân chia máy móc theo từng khoản mục hay
nhóm các khoản mục vào một phần hành. Cách phân chia này đơn giản, giảm thời
gian, chi phí nhưng hiệu quả không cao do tách những khoản mục ở vị trí khác nhau
nhưng có quan hệ mật thiết với nhau. Từ đó dẫn đến cái nhìn hạn chế của các KTV
về sự tác động qua lại lẫn nhau giữa các chu trình. VD như hàng tồn kho với giá vốn
hàng bán, doanh thu với nghĩa vụ phải nộp ngân sách nhà nước(thuế)…
Phân theo chu trình: Là cách phân chia dựa theo mối quan hệ chặt chẽ lẫn nhau
giữa các khoản mục, các quá trình cấu thành các yếu tố trong một chu trình chung
của hoạt động tài chính. Cách phân chia này hiệu quả hơn do được xuất phát từ mối
quan hệ vốn có của các nghiệp vụ. Theo cách tiếp cận này, các phần hành cơ bản của
kiểm toán tài chính gồm:
• Kiểm toán chu trình bán hàng và thu tiền
• Kiểm toán chu trình mua hàng và thanh toán
• Kiểm toán chu trình tiền lương và nhân viên
• Kiểm toán tiền
• Kiểm toán hàng tồn kho
• Kiểm toán tiếp nhận và hoàn trả vốn.
BCTC có được lập trên cơ sở chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành hoặc được
chấp nhận, có tuân thủ pháp luật liên quan và có phản ánh trung thực và hợp lý trên
các khía cạnh trọng yếu hay không.
Mục tiêu kiểm toán tài chính còn giúp cho đơn vị được kiểm toán thấy rõ những
tồn tại, sai sót để khắc phục nhằm nâng cao chất lượng thông tin tài chính của đơn
vị”.
Đối với KTV hay các công ty kiểm toán, việc xác minh không chỉ dừng ở các
mục tiêu chung mà phải cụ thể vào từng phần hành kiểm toán( hay chính là mục tiêu
đặc thù). Do đó, hệ thống mục tiêu kiểm toán bao gồm cả những mục tiêu đặc thù.
Mục tiêu kiểm toán chung được chia thành hai loại là: mục tiêu hợp lý chung và mục
tiêu chung khác. Còn mục tiêu kiểm toán đặc thù được xác định trên cơ sở mục tiêu
chung và đặc điểm của khoản mục hay phần hành, cùng với hệ thống kế toán, hệ
thống kiểm soát nội bộ theo dõi chúng. Nhìn chung, hệ thống mục tiêu kiểm toán đặc
thù thường được đặt ra là:
• Mục tiêu hiệu lực
• Mục tiêu trọn vẹn
• Mục tiêu quyền và nghĩa vụ
• Mục tiêu định giá
• Mục tiêu phân loại và trình bày
Đỗ Như Hoa - Kiểm toán 45A
6
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
• Mục tiêu chính xác cơ học
1.1.6. Phương pháp kiểm toán trong kiểm toán tài chính
1.1.6.1. Đặc điểm của kiểm toán tài chính với phương pháp kiểm toán
Như chúng ta đã biết, mỗi loại kiểm toán khác nhau sẽ có những chức năng, đối
tượng cụ thể khác nhau và quan hệ chủ thể, khách thể kiểm toán khác nhau. Chính vì
thế, cách thức kết hợp các phương pháp kiểm toán chứng từ và kiểm toán ngoài
chứng từ trong kiểm toán tài chính cũng có những điểm đặc thù.
Trước hết, xét về chức năng của kiểm toán, kiểm toán tài chính hướng tới việc
7
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
1.2.Đặc điểm khoản mục doanh thu bán hàng& cung cấp dịch vụ ảnh hưởng
đến vấn đề kiểm toán Báo cáo tài chính
1.2.1.Những vấn đề chung về doanh thu bán hàng&cung cấp dịch vụ
1.2.1.1.Khái niệm và phân loại doanh thu
1.2.1.1.1. Khái niệm doanh thu
Quá trình sản xuất kinh doanh là quá trình kết hợp của ba yếu tố: lao động, tư liệu
lao động và đối tượng lao động để tạo ra những sản phẩm cần thiết phục vụ nhu cầu
của con người. Sản phẩm đó để bán tiêu dùng hoặc là đầu vào của quá trình sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp khác. Qua tiêu thụ sản phẩm, doanh nghiệp sẽ ghi nhận
doanh thu bán hàng, cung cấp dịch vụ. Như vậy, khâu tiêu thụ là khâu cuối cùng của
quá trình sản xuất kinh doanh. Đây là một trong những chỉ tiêu thể hiện rõ nét khả
năng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ. Kết quả của khâu này được
thể hiện trên Báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, cụ thể ở chỉ tiêu doanh
thu bán hàng, cung cấp dịch vụ và doanh thu thuần.
Trong cuốn Lý thuyết kinh tế học của David Begg, ông đã đưa ra một cách nhìn
cụ thể về vai trò của doanh thu đối với các quyết định kinh tế của doanh nghiệp cũng
như những người quan tâm. Ông đã đưa ra một khái niệm rất đơn giản, ngắn gọn mà
súc tích về doanh thu. Đó là: “Doanh thu của một hãng là số tiền mà nó kiếm được
qua việc bán hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ trong một giai đoạn nhất định ví như
trong một năm”
(5)
.
Trong cuốn Tư bản của Mác, Người cho rằng sản phẩm không chỉ là hàng hóa,
mà là hàng hóa mang trong mình một giá trị thặng dư. Giá trị của nó bao gồm tư liệu
sản xuất và sức lao động hao phí cộng với giá trị thặng dư do tư bản sản xuất đẻ ra,
hay chính là C+V+M. Khi nhà tư bản tiêu thụ hàng hóa thì nhà tư bản thu được
doanh thu. Như vậy, “Doanh thu là kết quả của quá trình tiêu thụ, đó là quá trình thực
hiện giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa. Qua tiêu thụ, sản phẩm chuyển từ hình
của doanh nghiệp bao gồm các bộ phận sau:
* Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ(Kế toán sử dụng TK 511-Doanh thu
bán hàng và cung cấp dịch vụ): Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ được phản
ánh từ các giao dịch và các nghiệp vụ sau:
Bán hàng: Bán các sản phẩm, thành phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra và bán
hàng hóa mua vào
Cung cấp dịch vụ: Thực hiện công việc đã thỏa thuận theo hợp đồng trong một
hoặc nhiều kỳ kế toán như cung cấp dịch vụ vận chuyển, đi lại, dịch vụ vệ sinh công
nghiệp, dịch vụ chăm sóc cỏ…
Doanh thu BH&CCDV là toàn bộ lợi ích thu được hoặc sẽ thu được từ các giao
dịch hay nghiệp vụ phát sinh doanh thu như bán sản phẩm, thành phẩm, hàng hóa,
cung cấp dịch vụ cho khách hàng gồm cả những khoản phụ thu và phí thu thêm ngoài
giá bán(nếu có).
• Nếu doanh nghiệp áp dụng việc tính thuế GTGT phải nộp theo phương
pháp khấu trừ thì doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là doanh thu
chưa có thuế, đồng thời doanh nghiệp sử dụng “Hóa đơn GTGT”.
• Nếu doanh nghiệp áp dụng việc tính thuế GTGT phải nộp theo phương
pháp trực tiếp thì doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ là doanh thu
Đỗ Như Hoa - Kiểm toán 45A
9
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
có tính thuế, đồng thời doanh nghiệp sử dụng “Hóa đơn bán hàng”.
• Đối với sản phẩm, dịch vụ thuộc đối tượng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt,
hoặc thuế xuất nhập khẩu thì doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
là tổng giá thanh toán.
Doanh thu BH&CCDV mà doanh nghiệp thực hiện trong kỳ kế toán có thể thấp
hơn doanh thu BH&CCDV ghi nhận ban đầu do các nguyên nhân như: Chiết khấu
thương mại, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại hoặc nộp thuế tiêu thụ đặc biệt,
thuế xuất khẩu, thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp được tính trên doanh thu
BH&CCDV thực tế thực hiện.
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 14-Doanh thu và Thu nhập khác thì :
* Doanh thu bán hàng chỉ ghi nhận khi đồng thời thỏa mãn năm điều kiện như sau:
• Doanh nghiệp chuyển giao phần lớn rủi ro, lợi ích gắn liền với quyền sở
hữu sản phẩm cho người mua.
• Doanh nghiệp không còn nắm giữ quyền quản lý, quyền kiểm soát sản
phẩm hàng hóa.
• Doanh thu xác định tương đối chắc chắn.
• Doanh nghiệp đã thu được hay sẽ thu được lợi ích kinh tế từ bán hàng.
• Xác định được chi phí liên quan đến bán hàng.
* Doanh thu về cung cấp dịch vụ được ghi nhận khi kết quả của giao dịch đó
được xác định một cách đáng tin cậy.
Trường hợp cung cấp dịch vụ liên quan đến nhiều kỳ kế toán thì doanh thu được
ghi nhận trong kỳ theo phần công việc đã hoàn thành tại ngày lập Bảng cân đối kế
toán của kỳ kế toán đó. Doanh thu cung cấp dịch vụ được xác định khi thỏa mãn bốn
điều kiện sau:
• Doanh thu xác định tương đối chắc chắn.
• Có khả năng thu được lợi ích kinh tế từ cung cấp dịch vụ đó.
• Xác định được phần công việc đã hoàn thành vào ngày lập Bảng Cân đối
kế toán.
• Xác định được chi phí phát sinh và chi phí để hoàn thành việc cung cấp
dịch vụ đó.
Chu trình ghi nhận doanh thu có thể được tóm tắt như sau:
Doanh nghiệp bắt đầu xử lý đơn đặt hàng, phiếu yêu cầu mua hàng của người
mua, sau đó là ký hợp đồng về mua bán hàng hóa dịch vụ…Trên cơ sở pháp lý này,
người bán có thể xem xét đưa ra quyết định bán qua phiếu tiêu thụ và lập hóa đơn
bán hàng. Ngay sau khi quyết định bán, cần xem xét và quyết định bán chịu một phần
hoặc toàn bộ hàng hóa. Sau chức năng duyệt bán là chức năng chuyển giao hàng. Vào
lúc giao hàng, các chứng từ vận chuyển cũng được lập(hóa đơn vận chuyển hay vận
đơn). Đây cũng là thời điểm chấp nhận được ghi sổ bán hàng, một số trường hợp thì
hóa đơn bán hàng được lập đồng thời với vận đơn hoặc kiêm chức năng chứng từ vận
hàng hóa tiêu thụ trong kỳ của doanh nghiệp.
TK 5112: Doanh thu bán thành phẩm: Phản ánh doanh thu và doanh thu thuần của
thành phẩm tiêu thụ trong kỳ của doanh nghiệp.
TK 5113: Doanh thu cung cấp dịch vụ” Phản ánh doanh thu và doanh thu thuần
của dịch vụ cung cấp trong kỳ của doanh nghiệp.
TK 5114: Doanh thu trợ cấp, trợ giá: Phản ánh các khoản trợ cấp, trợ giá của nhà
nước khi cung cấp các sản phẩm được nhà nước trợ cấp.
TK 512: Doanh thu nội bộ
Nội dung phản ánh trên TK 512 như sau:
Đỗ Như Hoa - Kiểm toán 45A
12
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
TK 512: Doanh thu nội bộ
*Thuế tiêu thụ đặc biệt phải nộp,
Hàng bán bị trả lại, Giảm giá hàng bán.
*Kết chuyển doanh thu thuần vào TK
911: Xác định kết quả kinh doanh.
*Tổng doanh thu nội bộ trongkỳ.
TK 512 cuối kỳ không có số dư và được chi tiết thành ba tài khoản cấp hai như sau:
TK 5121: Doanh thu bán hàng hóa: Phản ánh doanh thu của khối lượng hàng hóa đã
được xác định là tiêu thụ nội bộ. TK 5121 chủ yếu dùng cho các công ty thương mại.
TK 5122: Doanh thu bán thành phẩm: Phản ánh doanh thu của khối lượng thành
phẩm cung cấp giữa các đơn vị thành viên trong một công ty hay tổng công ty. TK
5122 chủ yếu dùng cho các doanh nghiệp sản xuất.
TK 5123: Doanh thu cung cấp dịch vụ: Phản ánh doanh thu của khối lượng cung
cấp dịch vụ hoàn thành cho các đơn vị thành viên trong công ty hay tổng công ty. TK
5123 chủ yếu sử dụng trong các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ.
Khi sử dụng TK 512 cần để ý rằng: TK này chỉ sử dụng cho các đơn vị thành viên
hạch toán phụ thuộc trong một công ty hay một tổng công ty. Nếu doanh thu bán
hàng cho các doanh nghiệp không trực thuộc công ty hay tổng công ty thì không hạch
Hóa đơn bán hàng( Mẫu 02-GTGT): dùng trong các doanh nghiệp nộp thuế
GTGT theo phương pháp trực tiếp hay nộp thuế tiêu thụ đặc biệt. Trên hóa đơn cũng
phải ghi đủ những yếu tố cần thiết.
Nếu doanh nghiệp đề nghị và được Bộ Tài chính chấp thuận thì doanh nghiệp có
thể sử dụng hóa đơn đặc thù. Trên háo đơn cũng phải ghi đủ những yếu tố cần thiết
như giá bán chưa thuế GTGT, thuế GTGT phải nộp…
Sổ Nhật ký bán hàng: Dùng để ghi chép các nghiệp vụ bán hàng phát sinh.
Sổ chi tiết doanh thu: Sổ này ghi chép doanh thu phát sinh, chi tiết theo từng mặt
hàng của doanh nghiệp.
Sổ cái doanh thu: Được ghi vào cuối kỳ, phản ánh tổng hợp TK 511 của doanh
nghiệp trong kỳ kế toán.
Ngoài ra, khi hạch toán chi tiết tiêu thụ, doanh nghiệp còn sử dụng các bảng kê
bán lẻ hàng hóa, dịch vụ, bảng thanh toán bán hàng đại lý…
1.2.1.4.Nguyên tắc hạch toán doanh thu
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam số 14, kế toán doanh thu bán hàng và cung cấp
dịch vụ của doanh nghiệp được thực hiện theo một số nguyên tắc sau:
Nếu doanh nghiệp nhận gia công vật tư, hàng hóa thì doanh thu là số tiền gia công
thực tế được hưởng; không bao gồm giá trị vật tư, hàng hóa nhận gia công.
Với hàng hóa nhận đại lý, ký gửi thì doanh thu là phần hoa hồng bán hàng mà
doanh nghiệp được hưởng.
Nếu bán hàng theo phương pháp trả chậm, trả góp thì doanh thu ghi nhận theo giá
bán trả tiền ngay.
Những sản phẩm được xác định là tiêu thụ nhưng vì lý do về chất lượng, về quy cách
Đỗ Như Hoa - Kiểm toán 45A
14
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
kỹ thuât…người mua trả lại và từ chối thanh toán thì tùy trường hợp mà hạch toán vào
các khoản giảm trừ doanh thu như tài khoản 531: Hàng bán bị trả lại, TK 532: Giảm giá
hàng bán, 521: Chiết khấu thương mại nếu người mua với khối lượng lớn.
Nếu doanh nghiệp đã viết hóa đơn bán hàng và đã thu tiền bán hàng nhưng đến
Đỗ Như Hoa - Kiểm toán 45A
15
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
bán hàng-thu tiền là quá trình chuyển quyền sở hữu hàng-tiền, là quá trình gắn liền
với lợi ích kinh tế và trách nhiệm pháp lý của mỗi bên. Chính vì thế, công việc kiểm
soát nội bộ càng cần được thực hiện chặt chẽ hơn với chu trình này. Những công việc
kiểm soát nội bộ chủ yếu đối với doanh thu thường là:
Sự đồng bộ của sổ sách: Đòi hỏi hệ thống kế toán từ chứng từ đến sổ sách kế
toán có tác dụng kiểm soát tối đa các nghiệp vụ. Chính vì thế, các trình tự kế toán
phải có trước khi đặt ra các mục tiêu kiểm soát nội bộ. Khung pháp lý về kế toán là
như nhau và được quy định trước nhưng mỗi đơn vị lại có thể lựa chọn các hình thức
kế tóan khác nhau, trình tự kế toán khác nhau. Chính vì vậy, mỗi doanh nghiệp cần có
những trình tự kế toán cụ thể với hệ thống sổ sách nhất định để tạo thành yếu tố kiểm
soát có hiệu quả.
Đánh số thứ tự liên tục các chứng từ: Có tác dụng ngăn chặn bỏ sót, trùng lắp
các khoản ghi sổ bán hàng, khoản phải thu…
Lập bảng cân đối thanh toán tiền hàng và gửi cho người mua: Lập và xác nhận
các bảng cân đối hàng, tiền và phải thu là công việc kiểm soát nội bộ hữu hiệu. Bảng
cân đối được lập hàng tháng và được phân công cho người không có liên quan đến
thu tiền hàng, ghi sổ bán hàng…lập ra và gửi qua bưu điện để người mua dễ dàng trả
lời ngay cả khi có sai sót.
Xét duyệt nghiệp vụ bán hàng: Là công việc kiểm soát nội bộ hữu hiệu trong
việc phát hiện và ngăn ngừa các gian lận, sai sót. Nó thường tập trung vào ba điểm
chính sau:
• Xét duyệt bán chịu phải được duyệt thận trọng.
• Hàng bán chỉ được vận chuyển sau khi duyệt với đầy đủ tài khoản, con
dấu, chữ ký…
• Giá bán được duyệt cẩn trọng.
Phân cách nhiệm vụ đầy đủ trong tổ chức công tác tài chính kế toán: Là công
việc cực kỳ quan trọng.
doanh và từ đó cũng ảnh hưởng đến chỉ tiêu về thuế và các nghĩa vụ đối với nhà nước
trên Bảng cân đối kế toán.
Thứ hai, Chỉ tiêu doanh thu gắn bó chặt chẽ với các chỉ tiêu như: tiền mặt, tiền
gửi ngân hàng, xuất vật tư, thành phẩm, hàng hóa…Đây là những nhân tố rất nhạy
cảm, hay biến động và khả năng xẩy ra gian lận cao. Chính vì thế, thông qua việc
kiểm tra doanh thu có thể phát hiện ra những sai sót, gian lận trong việc hạch toán cac
chỉ tiêu liên quan và ngược lại, thông qua việc kiểm tra các chỉ tiêu trên Bảng cân đối
kế toán: tiền, phải thu…có thể phát hiện ra những sai sót, gian lận về doanh thu.
Thứ ba, doanh thu là cơ sở nhằm xác định các chỉ tiêu như lợi nhuận, thuế thu
nhập doanh nghiệp…Chính vì thế, doanh thu là một chỉ tiêu rất linh hoạt với các gian
lận, sai sót trong việc xác định mức lợi nhuận, thuế thu nhập doanh nghiệp và các
nghĩa vụ khác đối với nhà nước của doanh nghiệp. Do đó, thông qua việc kiểm tra,
Đỗ Như Hoa - Kiểm toán 45A
17
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
đối chiếu, thực hiện các thủ tục kiểm táon đối với chỉ tiêu doanh thu có thể phát hiện
ra những sai sót trong việc xác định các chỉ tiêu đó.
Thứ tư, do khoản mục doanh thu gắn chặt chẽ với mục đích của việc lập Báo cáo
tài chính nên khoản mục doanh thu có rủi ro tương đối cao. Ví dụ như khi lập báo cáo
tính thuế thì có xu hướng khai giảm doanh thu, khi vay vốn ngân hàng hay phát hành
thêm cổ phiếu…thì có xu hướng khai tăng doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
khi lập báo cáo.
1.2.2.2. Mục tiêu kiểm toán doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ
Dựa trên cơ sở pháp lý thực hiện kiểm toán doanh thu như: Chuẩn mực Kế toán
Việt nam số 14, Thông tư số 89/2002/TT-BTC ngày 9/10/2002 hướng dẫn kế toán
thực hiện bốn chuẩn mực kế toán ban hành theo Quyết định trên, Nghị định số
105/2004/NĐ-CP ngày 30/03/2004 về Kiểm toán độc lập và các thông tư hướng dẫn
thi hành Nghị định này...; công ty kiểm toán và các KTV thiết lập các mục tiêu kiểm
toán phù hợp với các chuẩn mực, luật định liên quan.
Mục tiêu chung của kiểm toán là thu thập bằng chứng để đưa ra kết luận phù hợp
hàng hoá chưa được chuyển giao cho khách hàng.
Mục tiêu trọn vẹn Mọi nghiệp vụ doanh thu bán hàng và cung cấp dịch
vụ được ghi sổ đầy đủ, không bị bỏ sót khi đủ điều
kiện ghi nhận. Mục tiêu này chú trọng tới việc ghi
chép đầy đủ các nghiệp vụ bán hàng phát sinh trong
kỳ kế toán.
Mục tiêu chính xác số học Các khoản doanh thu và giảm trừ doanh thu được
tính toán chính xác dựa trên số lượng và đơn giá của
từng nghiệp vụ. Mục tiêu này nhằm hướng các
nghiệp vụ hạch toán doanh thu vào việc ghi sổ chi
tiết, sổ tổng hợp khớp đúng với số tổng trên báo cáo
kế toán cuối kỳ của doanh nghiệp.
Mục tiêu quyền và nghĩa vụ Hàng hoá đã bán thuộc sở hữu của doanh nghiệp và
doanh thu ghi nhận tương ứng với số hàng hoá đã
bán trong kỳ thuộc sở hữu của doanh nghiệp. Hàng
hoá ở đây không là hàng hoá nhận đại lý, ký gửi hay
tài sản nhận giữ hộ...
Mục tiêu tính giá Các khoản doanh thu mà doanh nghiệp thu được
trong kỳ cần kèm theo hoá đơn ghi giá bán hay bảng
thông báo giá. Trường hợp với các khoản giảm trừ
doanh thu thì cần có chứng từ chứng minh cho các
khoản giảm trừ đó như hoá đơn...
Mục tiêu phân loại và trình bày Các nghiệp vụ doanh thu được ghi nhận đúng vào
các tài khoản và được phân loại rõ ràng như: các
khoản doanh thu từ bán hàng hoá và cung cấp ra bên
ngoài với doanh thu nội bộ doanh nghiệp....
Mục tiêu kiểm toán nghiệp
vụ
Mục tiêu cho phép Các nghiệp vụ ghi nhận doanh thu, ghi giảm doanh
Đỗ Như Hoa - Kiểm toán 45A
thu bán hàng; doanh nghiệp hạch toán sai tài khoản tức không hạch toán vào TK
doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ; số liệu tính toán và ghi sổ sai làm giảm
doanh thu so với số liệu phản ánh trên chứng từ kế toán; kế toán chuyển doanh thu từ
bán lẻ sang bán buôn, không ghi nhận doanh thu trong trường hợp hàng đổi hàng, trả
lương cho công nhân viên hay khen thưởng, tặng quà...
Đỗ Như Hoa - Kiểm toán 45A
20
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
Thứ ba, Doanh thu của doanh nghiệp luôn đi kèm với chỉ tiêu thuế giá trị gia
tăng đầu ra phải nộp. Vì thế mà có rất nhiều trường hợp gian lận và sai sót khác xẩy
ra nhằm mục đích trốn lậu thuế. Ví dụ như doanh nghiệp có thể hạch toán chuyển
những mặt hàng có thuế suất cao thành những mặt hàng có thuế suất thấp. Đây là một
ví dụ điển hình trong gian lận hạch toán thuế suất thuế giá trị gia tăng.
Hạch toán và ghi nhận sai doanh thu có nhiều nguyên nhân. Nhưng nguyên nhân
chủ yếu, phần lớn là do nhân viên kế toán chưa đủ khả năng và kinh nghiệm cũng
như chưa hiểu biết đầy đủ quy định về doanh thu. Cũng có thể vì một nguyên nhân
khách quan nào đó mà nhân viên kế toán cố tình hạch toán doanh thu không đúng quy
định.
1.2.3. Quy trình kiểm toán doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ trong kiểm
toán Báo cáo tài chính.
Để đảm bảo tính hiệu quả, tính hiệu lực và tính kinh tế của cuộc kiểm toán, cuộc
kiểm toán thường được tiến hành theo quy trình gồm ba giai đoạn sau: Lập kế hoạch
và thiết kế chương trình kiểm toán, thực hiện kế hoạch kiểm toán, hoàn thành cuộc
kiểm toán và công bố báo cáo kế toán.
Sơ đồ 2: Các giai đoạn của một cuộc kiểm toán BCTC
Đỗ Như Hoa - Kiểm toán 45A
21
Giai đoạn III
Hoàn thành kiểm toán và công bố Báo cáo kiểm toán
Giai đoạn I
Lập kế hoạch kiểm toán toàn diện và
soạn thảo chương trình kiểm toán
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
tiềm năng mà khách hàng này yêu cầu được kiểm toán; và khi có yêu cầu kiểm toán
thì KTV phải đánh giá liệu có chấp nhận khách hàng đó không. Đối với những khách
hàng quen thuộc, KTV cần đưa ra quyết định có tiếp tục kiểm toán hay không. Sau
khi chấp nhận kiểm toán đối với khách hàng, KTV và công ty kiểm toán sẽ tiến hành
các công việc cần thiết để chuẩn bị cho việc lập kế hoạch kiểm toán bao gồm:
Một là, Đánh giá khả năng chấp nhận kiểm toán: KTV cần đánh giá khả năng
chấp nhận kiểm toán một khách hàng mới hay tiếp tục kiểm toán cho một khách hàng
cũ có làm tăng rủi ro cho hoạt động của công ty kiểm toán hay không? Để làm được
điều đó KTV tập trung vào những vấn đề sau:
Xem xét hệ thống kiểm soát chất lượng: Chuẩn mực kiểm toán Việt nam số 220-
Kiểm soát chất lượng đối với việc thực hiện một hợp đồng kiểm toán nói rằng: KTV
phải xem xét hệ thống kiểm soát chất lượng khi đánh giá khả năng chấp nhận kiểm
toán. Một trong những nội dung của chuẩn mực này là thiết lập các chính sách và thủ
tục trong việc xem xét khả năng chấp nhận, tiếp tục một khách hàng hay chính là
chấp nhận, tiếp tục hợp đồng kiểm toán.
Xem xét tính liêm chính của Ban Giám đốc Công ty khách hàng: Chuẩn mực kiểm
toán số 400-Đánh giá rủi ro và kiểm soát nội bộ có đưa ra khẳng định rằng: tính liêm
chính của Ban Giám đốc là bộ phận cấu thành then chốt của môi trường kiểm soát,
của hệ thống kiểm soát nội bộ. Do đó, tính liêm chính của Ban Giám đốc rất quan
trọng với quy trình kiểm toán. Bên cạnh đó, Chuẩn mực kiểm tóan Việt nam số 240-
Gian lận và sai sót nhấn mạnh vai trò của Ban Giám đốc và ảnh hưởng của nó tới môi
trường kiểm soát. Đây được coi là nhân tố rủi ro rất lớn, những nghi ngờ về tính liêm
chính của Ban Giám đốc có thể nghiêm trọng đến mức KTV có thể kết luận rằng
cuộc kiểm toán không thể thực hiện được.
Liên lạc với KTV tiền nhiệm:
Với khách hàng tiềm năng: KTV mới(KTV kế tục) phải tiến hành liên lạc với
KTV cũ(KTV tiền nhiệm) bởi lẽ đây là nguồn thông tin đầu tiên để đánh giá khách
Bốn là, Ký hợp đồng kiểm tóan:Sau khi công ty kiểm toán quyết định chấp nhận
kiểm toán cho KH, công việc tiếp theo là ký kết hợp đồng kiểm toán. Theo Chuẩn
mực kiểm toán số 210-Hợp đồng kiểm toán quy định: “Hợp đồng kiểm toán là sự
thỏa thuận bằng văn bản giữa các bên tham gia ký kết về các điều khoản và điều kiện
thực hiện kiểm toán của khách hàng và công ty kiểm tóan, trong đó xác định mục
tiêu, phạm vi kiểm toán, quyền và trách nhiệm của mỗi bên, hình thức báo cáo kiểm
toán, thời gian thực hiện và các điều khoản về phí, về xử lý khi tranh chấp hợp
đồng”. Sau khi hai bên ký kết và hoàn tất mọi thủ tục pháp lý công ty kiểm toán sẽ
chính thức trở thành KTV của đơn vị.
Bước thứ hai, Thu thập thông tin cơ sở: Theo Chuẩn mực kiểm toán Việt nam
số 310 có đoạn như sau: để thực hiện kiểm toán Báo cáo tài chính, KTV phải có hiểu
biết đầy đủ về tình hình kinh doanh nhằm đánh giá đầy đủ và phân tích được các
Đỗ Như Hoa - Kiểm toán 45A
24
KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP
nghiệp vụ, sự kiện cũng như thực tiễn hoạt động kiểm toán của đơn vị được kiểm
toán mà theo KTV có ảnh hưởng trọng yếu đến BCTC, đến việc kiểm tra của KTV
hoặc đến báo cáo kiểm toán. Việc tìm hiểu, thu thập thông tin cơ sở bao gồm các
thông tin sau:
Tìm hiểu về ngành nghề, hoạt động kinh doanh của khách hàng: Đây là một công
việc rất cần thiết khi KTV thực hiện kiểm toán với tính thận trọng trong nghề nghiệp.
Mỗi ngành, nghề có những nguyên tắc kế toán riêng, hệ thống kế toán riêng và tầm
quan trọng của mỗi nguyên tắc kế toán cũng khác nhau trong ngành kinh doanh khác
nhau. Trong lĩnh vực xây dựng cơ bản, hàng tồn kho là một lĩnh vực trọng yếu; còn
trong lĩnh vực sản xuất thì điều quan trọng lại là kế toán chi phí. KTV có thể biết
được điều này thông qua việc trao đổi với KTV tiền nhiệm, với nhân viên và Ban
Giám đốc của khách hàng. Ngoài ra, KTV có thể có được những hiểu biết đó qua
việc nghiên cứu sách báo, tạp chí chuyên ngành, Niên giám thống kê do Tổng cục
thống kê phát hành hàng năm.
Xem xét kết quả kiểm toán năm trước và hồ sơ kiểm toán chung: Các hồ sơ kiểm