Sản xuất và sử dụng các Pheromone Đặc hiệu phòng trừ sâu hại phục vụ sản xuất rau an toàn - Pdf 22

Bộ Nông nghiệp và pTNT
Viện khoa học nông nghiệp Việt nam
Viện bảo vệ thực vật
Đông Ngạc, Từ Liêm, Hà Nội Báo cáo tổng kết
kết quả thực hiện dự án sản xuất thử nghiệm Tên dự án
Sản xuất và sử dụng các pheromone
đặc hiệu phòng trừ sâu hại
phục vụ sản xuất rau an toànM số kc 04. DA12

Chủ nhiệm đề tài:

TS. Lê Văn Trịnh 6654
12/11/2007 Hà Nội, 2007


2
Rõ ràng, sản xuất rau an toàn và có chất lợng cao lâu nay đã và đang là nhu cầu cấp
bách của thực tiễn sản xuất nông nghiệp nớc ta, để phục vụ nhu cầu tiêu dùng và tạo
khả năng bền vững cho xuất khẩu. Tổng diện tích có thể sử dụng pheromone để phòng
trừ sâu hại ớc tính mỗi năm vào khoảng hơn 4 triệu ha trên phạm vi toàn quốc. Riêng
pheromone sâu tơ, sâu khoang, sâu xanh và sâu xanh da láng hại trên các loại rau cây
trồng nông nghiệp ớc tính vào khoảng 620.000 hecta, bao gồm rau thập tự khoảng
500.000 ha (cho 4 loài sâu), Hành tây và hành lá: 20.000 ha (3 loài sâu); Cà chua:
40.000 ha (3 loài); Lạc: 50.000 ha; Đậu tơng: 10.000 ha, v.v.
Để khắc phục tình trạng nói trên, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về sâu hại rau
và biện pháp phòng trừ, trớc hết là các biện pháp kỹ thuật nhằm giảm thiểu lợng thuốc
hoá học sử dụng trên rau. Từ năm 2005, đợc sự ủng hộ của Bộ Khoa học và Công nghệ,
Viện Bảo vệ thực vật đợc phép tiến hành sản xuất thử nghiệm và ứng dụng pheromone
trong hệ thống bảo vệ thực vật để phòng trừ sâu hại 4 loài sâu hại quan trọng trên rau.
Hoàn thiện KTCN sản xuất và sử dụng pheromone để dự báo, phòng trừ sâu hại cây
trồng nông nghiệp, trớc hết là các vùng sản xuất rau quanh thành phố và khu công
nghiệp sẽ góp phần đáng kể vào việc hạn chế sử dụng thuốc hoá học và giảm d lợng
hoá chất độc hại, phục vụ sản xuất rau an toàn cho tiêu dùng và xuất khẩu. Đồng thời,
từng bớc tạo điều kiện sử dụng trên diện rộng trong sản xuất nông nghiệp ở các tỉnh,
hình thành mạng lới dự báo sâu hại bằng pheromone trong cả nớc và sử dụng
pheromone phòng trừ phòng trừ sâu hại trên các cây trồng nông, lâm nghiệp ở nớc ta.
2. Xuất xứ của dự án
Dự án sản xuất thử nghiệm (SXTN) này đợc xây dựng từ kết quả của đề tài Nghiên
cứu xác định pheromone giới tính sâu tơ và ứng dụng trong phòng trừ của Chơng
trình hợp tác KHCN theo Nghị định th giữa Việt Nam và Trung Quốc (2002- 2004) và
một phần kết quả của đề tài: "Sử dụng pheromone côn trùng để quản lý dịch hại bền
vững ở Việt Nam" trong khuôn khổ Chơng trình hợp tác KHCN theo Nghị định th
giữa Việt Nam và Mỹ (2005- 2006). Kết quả đã đợc Hội đồng KHCN Bộ Nông nghiệp
và Phát triển nông thôn đánh giá xuất sắc và đ

Nếu phản ứng phối chế 2 chất hoá học này theo tỷ lệ 1: 1 cũng cho hiệu quả hấp dẫn cao
(Ohbayashi N., Shimizu K. và Nagata K.; 1996). Đến năm 1980, Koshihara và Yamada
đã nghiên cứu cải tiến nhằm làm tăng hoạt lực của pheromone bằng cách đa thêm 1%
chất Z11-16: OH). Sau đó, Chisholm et al. (1983) và Deng và Du (2002) còn cải tiến
thêm bằng cách đa thêm vào phản ứng 0,01% chất (Z)-11-tetradecenyl acetate. Trái lại,

4
Nemoto H, Yano E. và Kiritani K. (1992) lại xác định thành phần gồm 2 chất Z11-16:
Ald và Z11- 16: OH theo tỷ lệ 1: 1 cho hiệu quả hấp dẫn cao. Trong khi đó, ở New
Zealand lại xác định tỷ lệ tham gia phản ứng phối chế của 3 chất: Z11-16:Ald, Z11-16:
Ac và Z11- 16: OH theo tỷ lệ: 3: 6: 1 hoặc 2 chất: Z11-16: Ald và Z11-16: Ac theo tỷ lệ
6: 4 đều cho hiệu quả hấp dẫn trởng thành sâu tơ trên đồng ruộng rất kém (Suckling,
2002). Tại Trung Quốc, tuy các tác giả không nêu rõ tỷ lệ giữa các thành phần tham gia
phản ứng, nhng khẳng định tổ hợp 3 chất lại cho hiệu lực rất cao (Liu et al. 1985,
1987), qui trình KTCN tạo sản phẩm này đã đợc áp dụng và thử nghiệm tại 9 tỉnh ở
Việt Nam cho hiệu quả hấp dẫn sâu tơ tơng tự nh sản phẩm của Trung Quốc (Wang
X.; Trinh L.V và Zhang Z.N., 2003).
+ Đối với sâu xanh (H. armigera)
Cũng tơng tự nh quá trình nghiên cứu xác định và tổng hợp pheromone của sâu tơ và
sâu khoang. Năm 1986, Tumlinson et al. xác định pheromone sâu xanh gồm 4 thành
phần khác nhau với phản ứng phối chế theo tỷ lệ 81: 0,5: 0,5: 18. Đến năm 1996, các
nhà khoa học Trung Quốc khẳng định pheromone tổng hợp có hiệu lực dẫn dụ sâu xanh
cao gồm 2 hợp chất là Z11- 16: Ald và Z9 16: Ald với tỷ lệ tham gia phản ứng phối
chế tơng ứng là 9: 1 (Du, Tang, Xu và Mial, 1996), còn Kobayashi (1996) lại xác định
tỷ lệ của 2 thành phần tơng ứng là 97: 3.
+ Đối với sâu keo da láng (S. exigua):
Phoromone sâu da láng đợc Brady và Ganyard xác định có một thành phần chủ yếu là
(Z,E)-9-12 14: Ac vào năm 1972. Năm 1976, Mitchell và Doolittle xác định bản thân
thành phần hoá học này không có hiệu lực hấp dẫn sâu khoang trên đồng ruộng. Sau đó,
Tumlinson et al. (1981) xác định lại thành phần hoá học của pheromone giải phóng từ

D. (1996), Malo E. D., Leopoldo C. L. et al. (2003), Trumble J. T., (1997) và nhiều nhà
khoa học khác đều cho rằng không thể sử dụng pheromone với lợng lớn trên một đơn vị
diện tích cây trồng nh thuốc trừ sâu, mà chỉ sử dụng với liều lợng cực nhỏ vài mililit
cho một ha đã đủ đạt hiệu lực để khống chế sâu hại. Vì vậy, việc tạo dạng sử dụng
pheromone của một loài sâu hại nào đó cũng là một vấn đề phải đợc nghiên cứu đầy
đủ. Trên thực tế, hiện nay có 4 dạng giá thể sử dụng pheromone, đó là: (1) Giá thể cao
su dạng xốp; (2) Giá thể nhựa plastic dạng xốp; (3) Giá thể sợi nhựa plastic dạng vi ống
(microtuype); (4) Giá thể dạng bột có từ tính.

6
Yếu tố quan trọng nhất có liên quan đến chất lợng sản phẩm mồi pheromone là các
chất liệu giá thể này đều phải qua công đoạn tẩy rửa, nhằm loại bỏ tạp chất để khi đa
pheromone vào giá thể sẽ không bị biến đổi về mặt hoá học (Arida G. S., et al., 2002;
Malo E. D., Leopoldo C. L. và Javier V. M., et al., 2003)
1.1.3. Sử dụng pheromone để dự báo, phòng trừ sâu hại:
Trong khoảng 15 năm trở lại đây, việc sử dụng pheromone để dự báo và phòng trừ sâu
hại trên thế giới phát triển khá nhanh và rộng rãi ở nhiều nớc, nhất là ở các nớc phát
triển nh Mỹ, Anh, Hà Lan, Canada, Đan Mạch, v.v. Hiện nay việc sử dụng pheromone
đợc coi nh một công cụ then chốt trong quản lý dịch hại tổng hợp trên các loại cây
trồng (D. Schneider, 2000 và P. Witzgall, 2001).
Do u thế của việc sử dụng pheromone rất an toàn với môi trờng và chất lợng sản
phẩm, nên diện tích cây trồng ứng dụng kỹ thuật này trong quản lý sâu hại ngày càng
mở rộng. Theo P. Witzgall (2001), chỉ tính riêng việc dùng pheromone phòng trừ bớm
hại quả táo ở vùng tây bắc nớc Mỹ đã tăng từ 1.000 ha vào năm 1991, lên 9.000 ha năm
1996 và đạt tới 45.000 ha năm 2000. Sử dụng pheromone đã góp phần làm giảm sử dụng
thuốc trừ sâu hại táo tới 80% và diện tích áp dụng pheromone chiếm tới hơn 50% diện
tích trồng táo của bang Washington, còn trên hành và rau dùng pheromone làm giảm
lợng thuốc trừ sâu từ 40- 90% (P. Seem và L. McCandless, 1999).
Các nhà khoa học ở Mehico cũng khẳng định dùng pheromone để phòng trừ bọ hà trên
khoai lang góp phần làm năng suất tăng 1,14 tấn/ha, giá trị thơng phẩm tăng 75USD/ha

pheromone trong công tác quản lý sâu hại theo hai hớng chủ yếu, là để phát hiện, theo
dõi sự phát sinh của đối tợng sâu hại cần quan tâm và để phòng trừ. Nhng đều thực
hiện theo một trong hai phơng pháp là bẫy pheromone và quấy nhiễu giao phối.
Tuy nhiên, phơng pháp bẫy đợc áp dụng phổ biến ở các nớc đang phát triển vì chi
phí mua pheromone chỉ vào khoảng 40 - 60 USD/ha để phòng trừ một loài sâu, ít hơn
phơng pháp quấy rối giao phối tới 60% và nông dân dễ chấp nhận vì họ dễ dàng nhìn
thấy trởng thành sâu hại vào bẫy (Alvarez P., Asscaraman V., et al., 1996). ở Đài
Loan, 100% diện tích sử dụng pheromone đều thực hiện theo phơng thức bẫy vì nông
dân có thể tự làm ra bẫy để sử dụng cho diện tích gieo trồng của gia đình mình (Cheng
E. Y., Kao C. H., Su W. Y. và Chen C.N., 1992). Theo Arida G. S., et al. (2002), Lopes
J. D (1998), Malo E. D.; Leopoldo C. L. và Javier V. M., et al. (2003) thì sử dụng theo
phơng pháp bẫy có tác dụng vừa giúp nông dân giám sát đợc quá trình phát sinh của
sâu hại, nếu chúng phát sinh quá lớn nông dân có thể áp dụng giải pháp phòng trừ khác

8
ở các lứa sâu tiếp theo vì bẫy không đủ sức phòng chống. Nh vậy, phơng pháp dùng
bẫy vừa dễ tạo lòng tin của nông dân, vừa giúp họ dễ dàng đánh giá đợc hiệu quả
phòng trừ trên ruộng của mình.
Trái lại, ở hầu hết các nớc thuộc khu vực châu Âu, Bắc Mỹ và các nớc phát triển khác
lại sử dụng pheromone để phòng trừ sâu hại theo phơng pháp quấy rối giao phối, còn
bẫy pheromone chỉ để theo dõi dự báo là chính. Theo Seem P. và McCandless L. (1999)
Cheng E., Kao C.H, Su W.Y và Chen C.N. (1992), kết quả dữ liệu phát sinh của sâu hại
đợc thu thập theo phơng pháp theo dõi bằng pheromone kết hợp với công nghệ tin học
để mô hình hoá dự báo, kết quả dự báo thu đợc khá chính xác và cho phép dự báo sớm
khả năng gây hại của sâu.
Đến nay, việc dùng pheromone theo phơng pháp quấy rối giao phối đã và đang áp dụng
trên diện rộng hàng trăm ngàn hecta cho mỗi loại sâu hại ở nhiều nớc, nh: Mỹ,
Canada, Mehico, Hà Lan, Thuỵ Điển, Na Uy, v.v Trái lại, Cheng E., Kao C.H, Su W.Y
và Chen C.N. (1992) xác định với điều kiện canh tác ở Đài Loan thì sử dụng pheromone
theo phơng thức bẫy cho hiệu quả phòng trừ sâu hại cao hơn nhiều, mà chi phí đầu t

Ogawa K., Kobayashi T. và Fukumoto T. (1999), Robert R. S., Osama E. L. và Larry A.
(1997) đã khẳng định dùng pheromone để phòng trừ sâu hại trên các cây ngắn ngày
ngay từ khi gieo trồng cho tới khi thu hoạch sẽ có hiệu quả nhất, đối với cả phơng pháp
bẫy và quấy rối giao phối. Các tác giả cho rằng nhiều loài sâu hại trên nhóm cây trồng
này có tập quán di chuyển từ khu ruộng sắp thu hoạch đến khu vực cây trồng mới từ rất
sớm, thậm chí ngay sau khi trồng.
Schroeder P. C., Shelton A. M., Ferguson C. S., Hoffman M. P. và Petzolldt C. H. (2000)
đã chỉ ra rằng nếu chỉ dùng pheromone vào cao điểm trởng thành sâu tơ phát sinh rộ thì
hầu nh không có hiệu quả hạn chế số lợng sâu non ở lứa sau. Các tác giả cho rằng với
các loài sâu hại có vòng đời ngắn nh sâu tơ, với các lứa sâu hình thành trên đồng ruộng
gối tiếp nhau thì việc sử dụng pheromone càng phải giữ liên tục từ đầu vụ cho đến cuối
vụ gieo trồng mới cho hiệu quả phòng trừ cao.
1.2. Trong nớc
1.2.1. Tình hình sản xuất pheromone
Trong vài năm qua, việc nghiên cứu phát triển chế phẩm pheromone côn trùng để phục
vụ phòng chống sâu hại trong mấy năm qua đã đợc một số cơ quan khoa học quan tâm.
Tại Phân viện Hoá học các hợp chất thiên nhiên đã tiến hành nghiên cứu để tổng hợp các
pheromone giới tính và đã thu đợc những thành công bớc đầu trong tổng hợp thành
phần chính của pheromone sâu tơ, sâu khoang, sâu xanh, sâu keo da láng, sâu đục vỏ trái

10
bởi, kiến vơng và sâu đuông hại dừa, cũng nh bọ hà hại khoai lang (Nguyễn Công
Hào, Nguyễn Cửu Thị Hơng Giang và CS, 2005). Còn tại Trung tâm nghiên cứu Hoá
sinh ứng dụng cũng đã và đang tiến hành các nghiên cứu tổng hợp một số thành phần
hoá học các pheromone của mọt hại kho, sâu đục thân mía, sâu xám hại rau màu và một
số sâu khác (Trần Kim Qui, 2005). Tuy nhiên, tất cả các đơn vị này mới tập trung vào
việc nghiên cứu tổng hợp các thành phần chính của các pheromone, còn việc nghiên cứu
tạo dạng sử dụng pheromone và xác định kiểu bẫy, kỹ thuật sử dụng thích hợp với từng
loài sâu thì cha đợc tiến hành hoặc mới chỉ bớc đầu. Ngoài ra, các cán bộ thuộc Bộ
môn BVTV (Trờng ĐH Cần Thơ) cũng đã tiến hành một số thí nghiệm về tính hấp dẫn

cao đối với sâu khoang, sâu xanh và sâu xanh da láng (Trịnh L.V. và CS, 2003). Các tác
giả chỉ rõ nếu dùng bẫy pheromone sâu tơ với mật độ 100 bẫy/ha liên tục suốt vụ thì có
thể hạn chế đáng kể mật độ sâu tơ, giảm đợc 2- 4 lần phun thuốc so với ruộng nông
dân. Vị trí đặt bẫy pheromone cao hơn mặt ruộng rau từ 5- 10 cm với mật độ 100 bẫy/ha
bẫy là thích hợp. Đồng thời, cũng chỉ rõ sử dụng pheromone theo phơng pháp bẫy để
trừ sâu khoang cho hiệu quả cao mà không cần sử dụng thuốc trừ sâu và giảm đợc 4 lần
sử dụng thuốc hoá học so với phơng pháp cũ vẫn thờng áp dụng của nông dân.
Kết quả cũng chỉ rõ đối với sâu tơ, sâu xanh và sâu xanh da láng, việc ứng dụng
pheromone ngay từ đầu vụ thể hạn chế đợc 50- 80% số lợng quần thể sâu hại trên
đồng ruộng, kết hợp dùng 2- 3 lần thuốc sinh học là hoàn toàn khống chế tác hại của
sâu, giúp giảm đợc 3- 4 lần dùng thuốc hoá học trong một vụ rau. Góp phần đáng kể
vào sản xuất sản phẩm an toàn, bảo vệ sức khoẻ ngời lao động và môi trờng.
Nh vậy, việc nghiên cứu sử dụng pheromone để phòng trừ một số sâu hại rau ở nớc ta
đã đạt đợc một số kết quả bớc đầu. Diện tích ứng dụng pheromone trong sản xuất đã
tăng lên rất nhanh chóng. Để nâng cao hơn nữa hiệu quả ứng dụng pheromone để phòng
trừ sâu hại cần phải tiếp tục hoàn thiện một số khâu kỹ thuật, nh: Kiểu bẫy sử dụng
pheromone, mật độ bẫy, độ cao đặt bẫy và thời điểm đặt bẫy và thời gian sử dụng, v.v
Qua các tài liệu có đợc và t vấn, giúp đỡ của các chuyên gia nớc ngoài, trên cơ sở kết
quả nghiên cứu thử nghiệm đã tiến hành trong hơn 3 năm qua đã cho thấy để sản xuất
pheromone có chất lợng cao, ổn định để sử dụng có hiệu quả trong phòng trừ sâu hại
ngoài thực tiễn sản xuất, không chỉ du nhập hay áp dụng kết quả của nớc ngoài một
cách máy móc, mà đòi hỏi phải có những bớc nghiên cứu hoàn thiện cho phù hợp với
điều kiện sản xuất của Việt Nam.

12
Chơng 2
Mục tiêu, nội dung và phơng pháp

2.1. Mục tiêu
Hoàn thiện qui trình công nghệ sản xuất và sử dụng pheromone để phòng trừ 4 loại sâu

pheromone phòng trừ 4 loại sâu hại rau tại: Hải Dơng, Hà Nam, Nghệ An và Tiền
Giang. Tổng diện tích mô hình: 40 ha/vụ x 3 vụ = 120 ha
+ Khuyến cáo áp dụng sản phẩm pheromone phòng trừ 4 loại sâu tại 13 tỉnh, thành phố
có diện tích trồng rau lớn là: Hà Nội, Hà Tây, Hải Dơng, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hải
Phòng, Hà Nam, Nam Định, Nghệ An, Đà Nẵng, Ninh Thuận, Tiền Giang và Lâm
Đồng. Qui mô diện tích áp dụng mỗi năm là 2.500 ha.
2.3. Phơng pháp
2.3.1. Đối tợng nghiên cứu và phơng pháp tiếp cận
Sâu tơ, sâu khoang, sâu xanh và sâu keo da láng đợc chọn là những đối tợng sâu hại
quan trọng trên rau, màu ở Việt Nam và có khả năng phát triển tính kháng thuốc rất
nhanh. Ngời nông dân thờng sử dụng rất nhiều loại thuốc hoá học khác nhau với số
lần phun cho mỗi vụ gieo trồng ngày càng nhiều. Pheromone đợc coi là công cụ có
hiệu quả cao trong quản lý dịch hại và không làm sâu hại phát triển tính kháng. Triển
khai sử dụng pheromone để quản lý 4 loài sâu hại quan trọng nêu trên sẽ góp phần đáng
kể trong hạn chế sử dụng thuốc trừ sâu hoá học, giảm d lợng thuốc hoá học độc hại
trong sản phẩm, sức khoẻ ngời lao động và môi trờng.
Trong giai đoạn 2002- 2004, thông qua chơng trình hợp tác KHCN với Viện Nghiên
cứu động vật hại (thuộc Viện Hàn lâm KHCN Trung Quốc) và Trờng đại học Cornell
(Mỹ) đã giúp nắm vững đợc kỹ thuật sử dụng pheromone sâu tơ dựa trên sản phẩm
pheromone do phía bạn cung cấp. Kết quả hợp tác đã bớc đầu giúp các cán bộ khoa học
Việt Nam tiếp cận với phơng pháp nghiên cứu và ứng dụng pheromone côn trùng, mở
ra triển vọng to lớn của việc sử dụng chúng trong quản lý dịch hại.
Tuy nhiên, cần phải phát triển tạo khả năng sử dụng pheromone một cách chủ động, đa
KTCN pheromone côn trùng thật sự trở thành một giải pháp hữu hiệu trong theo dõi và
phòng trừ sâu hại ở Việt Nam. Để đạt đợc yêu cầu đó, đòi hỏi phải đi sâu nghiên cứu

14
về KTCN phối chế sản xuất pheromone và kỹ thuật tạo dạng sử dụng cũng nh kỹ thuật
sử dụng pheromone phòng trừ sâu hại trên cây trồng ngoài đồng ruộng.
Thực hiện dự án SXTN này nhằm cố gắng hoàn thiện các khâu kỹ thuật công nghệ cơ

2. Phát triển dạng sử dụng pheromone theo phơng pháp tạo dạng mồi bẫy trên chất liệu
cao su (rubber septum) dạng quả chuông. Mỗi mồi đợc cố định với liều lợng
pheromone khác nhau từ 1,0 và 2,0 microlit/giá thể tuỳ theo loài sâu hại. Mỗi đợt thí
nghiệm đợc tiến hành với số lợng từ 500 - 1000 đơn vị mồi pheromone cho mỗi loại
giá thể. Thí nghiệm đợc tiến hành tại phòng thí nghiệm pheromone của Viện BVTV.
Sau đó, đánh giá khả năng hấp dẫn của sâu hại đối với mỗi loại giá thể tạo dạng đợc
tiến hành trực tiếp trên đồng ruộng theo phơng pháp thí nghiệm của Hummell H. E. và
Muitler T.A. (1984). Mỗi loại mồi pheromone của giá thể đợc tiến hành theo phơng
pháp 50 bẫy, không nhắc lại, trên loại cây trồng mà loài sâu hại đó thờng phá hại. Hàng
ngày đếm và ghi chép số lợng trởng thành sâu hại vào từng bẫy vào buổi sáng kết hợp
vớt bỏ chúng khỏi bẫy. Thí nghiệm tiến hành liên tục từ khi đặt mồi bẫy pheromone cho
tới khi mồi pheromone không còn hiệu lực hấp dẫn trởng thành sâu hại. Hàng ngày
theo dõi và ghi chép lại số lợng trởng thành của sâu hại cần nghiên cứu và số lợng
các sâu khác vào bẫy, sau đó vớt bỏ. Số liệu thu đợc sử lý so sánh theo chơng trình
CSTATE theo phơng thức so sánh cặp giá trị trung bình số lợng trởng thành vào bẫy
hàng ngày của mỗi loại giá thể pheromone.
3. Nghiên cứu kiểu bẫy sử dụng pheromone thích hợp đợc tiến hành với đối tợng sâu
hại cần nghiên cứu thực hiện trên đồng ruộng. Lựa chọn địa điểm thí nghiệm với cây
trồng đợc gieo trồng cùng thời vụ trên diện tích tối thiểu từ 3 -5 ha. Các công thức thí
nghiệm là các kiểu bẫy, mỗi công thức tiến hành với số lợng 25 - 30 bẫy pheromone,
nhắc lại 3 lần. Các bẫy sử dụng mồi pheromone dạng quả chuông tơng ứng với đối
tợng sâu hại cần nghiên cứu. Hàng ngày theo dõi, ghi chép số lợng trởng thành vào
từng bẫy kết hợp vớt bỏ trởng thành sâu hại vào bẫy chết.
4. Xây dựng mô hình trình diễn và huấn luyện nông dân vẫn áp dụng theo ph
ơng pháp
nghiên cứu triển khai vẫn thờng áp dụng của Viện BVTV. Mô hình thực hiện với qui
mô từ 5 - 10 ha/vụ. Các bẫy pheromone đợc đặt ngay từ khi trồng rau với mật độ 100
bẫy/ha ở độ cao 30 cm so với mặt ruộng rau. Bẫy pheromone phải đặt liên tục từ đầu vụ
đến cuối vụ rau. Chỉ phun thuốc khi cần thiết bằng các loại thuốc sinh học hoặc thuốc
hoá học có tính chọn lọc cao với đối tợng cần phòng trừ.

kỹ thuật sử dụng bẫy pheromone côn trùng trong công tác bảo vệ cây trồng trên diện
rộng, phù hợp với điều kiện sinh thái và điều kiện sản xuất nông nghiệp của nớc ta.

17
Chơng 3
Kết quả nghiên cứu và triển khai3.1. Hoàn thiện một số khâu kỹ thuật công nghệ sản xuất mồi pheromone
3.1.1. Xác định tỷ lệ thành phần, liều lợng chất hoá học của pheromone sâu hại
3.1.1.1. Đối với pheromone sâu khoang
Nhằm hoàn thiện việc xác định tỷ lệ thành phần và liều lợng chất hoá học tạo phản ứng
phối chế pheromone sâu khoang. Các thí nghiệm đợc tiến hành với quần thể sâu
khoang tại các vùng rau đồng bằng sông Hồng với các tổ hợp tỷ lệ các thành phần hoá
học với liều lợng khác nhau trên cơ sở kết quả nghiên cứu đã đạt đợc của đề tài hợp
tác Việt - Mỹ và từ các thông tin của các tài liệu khoa học đã công bố.
Tiến hành lại thí nghiệm Việt - Mỹ đã thực hiện đầu tháng 1/2005, kết quả nêu ở hình 1
vẫn cho thấy công thức thí nghiệm 3 thành phần Hexal 1, Hexal 2 và Hexal 3 là 90/9/1
microlit cho hiệu quả hấp dẫn trởng thành sâu khoang cao hơn chút ít so với so với
công thức 2 thành phần Hexal 4 và Hexal 3 với liều lợng là 97/3 microlit. Tuy nhiên,
qua sử lý thống kê thì hầu nh không có sự sai khác ở mức > 99%. Điều này một lần nữa
khẳng định khả năng có thể giảm đợc thành phần chất hoá học Hexal 2.
Hình 1. Số lợng trởng thành sâu khoang vào bẫy dùng pheromone
với thành phần và liều lợng chất hoá học khác nhau (Văn Đức, Hà Nội, 15/1/2005)
Qua theo dõi đối với số lợng trởng thành các sâu khác vào bẫy, cho thấy (Hình 2) giữa
các công thức liều lợng khác nhau không thể hiện tính hấp dẫn trội hẳn và qua sử lý
0
50
100
150

Ngày sau đặt bẫy
con/ 10 bẫy/ ngày
Hexal1/Hexal2= 95/5
Hexal1/Hexal2= 90/10
Hexal1/Hexal2= 85/15
Hexal1/Hexal2 = 97/3

Hình 3: Số lợng trởng thành sâu khoang trên bắp cải vào bẫy dùng pheromone
với tỷ lệ các thành phần và liều lợng khác nhau (Văn Đức, Gia Lâm, Hà Nội, 2/2006)
0
5
10
15
20
25
135791113151719212325
Ngày sau đặt bẫy
con/10 bẫy/ ngày
Hexal 4/Hexal 3=99/1
Hexal 4/Hexal 3=98/2
Hexal 4/Hexal 3=97/3
Hexal 1/Hexal 2/Hexal 3=90/9/1

19
Qua thử nghiệm 4 tổ hợp tỷ lệ giữa 2 thành phần hoá chất cho thấy với tỷ lệ liều lợng
Hexal 1và Hexal 2 là 97/3 microlit vẫn cho hiệu quả hấp dẫn sâu khoang trên đồng
ruộng cao nhất, Ngày đỉnh cao (ngày thứ 8 sau đặt bẫy) có thể đạt tới 18 con/bẫy và hiệu
lực tới 20 ngày, dài nhất trong số 3 tổ hợp 2 thành phần hoá học đã thử nghiệm. Trong
đó, tổ hợp Hexal1/ Hexal2 là 99/1 microlit có mức độ hấp dẫn thấp nhất (hình 3).
Theo dõi số lợng trởng thành các sâu khác vào bẫy pheromone cũng cho kết quả

chất tham gia phản ứng Hexa 1, Hexa 2 và Hexa 3 là 80/19/1 microlit cho hiệu quả hấp

20
dẫn sâu tơ luôn cao nhất so với 2 tổ hợp tỷ lệ thành phần và liều lợng chất hoá học tạo
phản ứng phối chế còn lại, với số lợng trởng thành sâu tơ vào bẫy cao nhất đạt tới 44,7
con/10 bẫy, thấp nhất là 1,82 con/10 bẫy. Nh vậy, tỷ lệ và liều lợng giữa các chất
tham gia phản ứng phối chế là 80/19/1 (microlit) vẫn đợc đánh giá là có hiệu quả hấp
dẫn tốt hơn trong số 3 công thức thí nghiệm.
0
8
16
24
32
40
48
1 3 5 7 91113151719212325
Ngày sau đặt bẫy
con/10 bẫy/ ngày
Hexa1/Hexa2/Hexa3=80/19/1
Hexa1/Hexa2/Hexa3=90/9/1
Hexa1/Hexa3=99/1

Hình 5: Số lợng bớm sâu tơ vào bẫy pheromone với thành phần và liều lợng
chất hoá học khác nhau (Gia Lâm, Hà Nội, 1/2005)
Kết quả theo dõi khả năng hấp dẫn trởng thành các sâu hại khác (Hình 6) cho thấy với
tỷ lệ phối chế nêu trên (90/19/1) cũng cho khả năng hấp dẫn trởng thành sâu hại khác
khá cao, trong số đó chủ yếu là sâu xanh bớm trắng (P. rapae). Trong ngày đầu tiên
sau khi đặt bẫy thì số lợng trởng thành sâu khác vào bẫy đạt tới 35 con/10 bẫy và
trong đó có tới 31 con trởng thành sâu xanh bớm trắng.
0

45
60
75
90
1 3 5 7 9 1113151719212325
Ngày sau đặt bẫy
con/10bẫy/ngày
Hexa4/Hexa3=99/1
Hexa4/Hexa3=98/2
Hexa4/Hexa3=97/3

Hình 7: Số lợng bớm sâu tơ vào bẫy dùng mồi pheromone phối chế
ở các tỷ lệ thành phần và liều lợng chất hoá học khác nhau
(Văn Đức, Gia Lâm, Hà Nội, 2005)
Theo dõi số lợng trởng thành sâu khác vào bẫy sử dụng mồi pheromone đợc cố định
theo các tỷ lệ liều lợng các chất hoá khác nhau. Kết quả nêu trong hình 8 cho thấy tổ
hợp liều lợng Hexa 4/ Hexa 3 là 98/2 (microlit) thể hiện mức độ hấp dẫn sâu khác cao
hơn so với cá tổ hợp liều lợng khác. Ngày có số lợng trởng thành sâu khác vào bẫy
lên tới 16,0 con/10 bẫy ngay sau ngày đặt bẫy đầu tiên. Trong số đó, đối tợng trởng
thành sâu khác vào bẫy chủ yếu vẫn là sâu xanh bớm trắng (P. rapae), chiếm tới
72.4%. Điều này mở ra khả năng tiếp tục tìm hiểu để xác định thành phần hoá học để
phát triển một loại pheromone mới phục vụ việc quản lý sâu hại này ở Việt Nam.

22

0
2
4
6
8

ruộng về khả năng hấp dẫn sâu tơ của mồi pheromone cho thấy pheromone đợc phối
chế bằng các hóa chất có độ tinh khiết từ 95%- 99,5% thì hiệu lực hấp dẫn sâu tơ thấp,
trung bình đạt từ 0,3-3,38 con/ 5 bẫy/ ngày. Nếu sử dụng hóa chất có độ tinh khiết là
99,99% thì hiệu quả hấp dẫn bớm sâu tơ cao nhất, trung bình cả đợt theo dõi là 23 con/

23
5 bẫy/ ngày (Hình 9). Kết quả cũng cho thấy rõ ràng trong tất cả các ngày theo dõi thì
mật độ trởng thành sâu tơ vào công thức 5 (CT 5) cao hơn hẳn so với các công thức
khác. Ngày đỉnh cao nhất trởng thành sâu tơ vào bẫy ở công thức 5 (CT 5) đạt tới 60
con/ 5 bẫy. Trong khi các công thức 4 thì số liệu tơng ứng là 10 con/ 5 bẫy. Nh vậy,
độ tinh khiết của hóa chất càng cao thì chất lợng của pheromone càng tốt và đối với
pheromone sâu tơ thì hóa chất có độ tinh khiết 99,99% là tốt nhất và ổn định nhất.
0
15
30
45
60
75
1 4 7 10 13 16 19
Ngày sau đặt bẫy
Số lợng (con/ 5 bẫy/ ngày)
CT1: 95%
CT2: 98%
CT3: 99%
CT4: 99,5%
CT5: 99,99%

Hình 9. Số lợng trởng thành sâu tơ vào bẫy dùng mồi pheromone
với thành phần hóa chất có độ tinh khiết khác nhau
(Tiên Dơng, Đông Anh, Hà Nội, 2005)

Hình 10. Số lợng trởng thành sâu khoang vào bẫy dùng mồi pheromone
với thành phần hóa chất có độ tinh khiết khác nhau
(Tiên Dơng, Đông Anh, Hà Nội, 2005)
3.1.3. Liều lợng chất phụ trợ, dung môi và tiến trình kỹ thuật tạo phản ứng
Chất phụ trợ và dung môi là 2 nhóm chất hoá học có ý nghĩa quan trọng liên quan đến
chất lợng sản phẩm diễn ra trong quá trình tạo phản ứng phối chế và cố định
pheromone vào giá thể cao su, tạo khả năng phát tán dần dần pheromone ra khỏi giá thể
khi sử dụng. Kết quả tổng hợp của các tác động đó nhằm góp phần duy trì thời gian tồn
tại hiệu lực hấp dẫn sâu hại của mồi pheromone trong thời gian dài nhất có thể đợc.
Cũng nh kỹ thuật làm sạch giá thể, việc xác định thành phần, liều lợng nhóm chất phụ
trợ và dung môi cho quá trình tạo phản ứng phối chế pheromone là khâu kỹ thuật mà các
nhà sản xuất không bao giờ công khai hoá trong quá trình sản xuất của mình.
Vì vậy, thời gian tồn tại hiệu lực hấp dẫn sâu hại của sản phẩm pheromone của mỗi nhà
sản xuất công bố khi chào hàng trên thị trờng đều rất khác nhau. Ngay trong quá trình
thực hiện đề tài nghiên cứu của chúng tôi trong những năm 2001- 2002, thì các sản
phẩm mồi pheromone tự phối chế sản xuất đều có thời gian hiệu lực hấp dẫn không vợt
quá 3 ngày, trong khi dạng bán thành phẩm do phía Trung Quốc cung cấp đem về sản
xuất mồi pheromone hoàn chỉnh thì có thời gian hiệu lực hấp dẫn sâu tơ từ 18- 21 ngày.
Nhận thức đợc tầm quan trọng của vấn đề, qua quá trình tìm hiểu tài liệu và đặc biệt
đợc sự giúp đỡ kỹ thuật của các nhà khoa học Mỹ, năm 2003 đã nghiên cứu và đã thành
công về vấn đề này. Trong 2 năm (2004 và 2005), tiếp tục hoàn thiện kỹ thuật tạo phản

Trích đoạn trong n−ớc phục vụ sản xuất rau an toàn Mục tiêu, nội dung và ph−ơng pháp 2.1 Mục tiêu Xác định tỷ lệ thành phần, liều l−ợng chất hoá học của pheromone sâu hại 1 Đối với pheromone sâu khoang Đối với pheromone sâu tơ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status