TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
KHOA KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG VÀ TRÁI ĐẤT
HÀ TỐ LY
NGHIÊN CỨU CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ VÀ
SỬ DỤNG ĐẤT DỐC BỀN VỮNG TẠI VÙNG
TRỒNG CHÈ XÃ LA BẰNG, HUYỆN ĐẠI TỪ,
TỈNH THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Thái Nguyên, 2013
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
KHOA KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG VÀ TRÁI ĐẤT
NGHIÊN CỨU CÁC BIỆN PHÁP QUẢN LÝ VÀ SỬ
DỤNG ĐẤT DỐC BỀN VỮNG TẠI VÙNG TRỒNG CHÈ
XÃ LA BẰNG, HUYỆN ĐẠI TỪ, TỈNH THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Chuyên ngành: Quản lý môi trường
Sinh viên thực hiện : Hà Tố Ly
Lớp : CN KHMT K7 - Khóa : 2009 - 2013
Người hướng dẫn khoa học : Th.S Trần Thị Ngọc Hà
Thái Nguyên, 2013
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành khóa luận này, bên cạnh sự cố gắng nỗ lực của bản thân,
tôi đã nhận được sự động viên và giúp đỡ rất nhiệt tình của nhiều cá nhân và
tập thể.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc nhất tới cô giáo hướng dẫn, thạc sĩ
Trần Thị Ngọc Hà và các thầy cô giáo trong khoa KHMT & TĐ, những người
đã tận tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi thực hiện và hoàn thành
tốt đề tài.
Qua đây, tôi xin gửi lời cảm ơn tới các cán bộ công tác tại ủy ban nhân
Hình 3.3.b. So sánh mức độ sử dụng các biện pháp bảo vệ đất của các nông hộ
được phỏng vấn 35
Hình 3.3.c. Biểu đồ nhận xét của các nông hộ về môi trường đất 36
Hình 3.3.d. Sơ đồ mô hình vườn đồi nhà ông Đỗ Minh Tuân 38
Hình 3.3.e. Sơ đồ mô hình vườn đồi nhà ông Hoàng Văn Giang 40
Hình 3.3.e. Sơ đồ mô hình vườn đồi nhà ông Lý Tài Trìu 42
MỞ ĐẦU
1. Đặt vấn đề
Đất là một nguồn tài nguyên quý giá, con người sử dụng đất vào nhiều
mục đích khác nhau trong đó có hoạt động nông nghiệp để đảm bảo nguồn
sống cho chính mình. Nhưng với nhịp độ gia tăng dân số, tốc độ phát triển
công nghiệp và hoạt động đô thị hoá như hiện nay thì diện tích đất canh tác
ngày càng bị thu hẹp, chất lượng đất ngày càng bị suy thoái, các vấn đề về đất
ngày càng trở nên nghiêm trọng.
Việt Nam với ba phần tư diện tích đất là đồi núi, lại nằm ở vùng nhiệt
đới, mưa nhiều và tập trung, nhiệt độ không khí cao, các quá trình khoáng hoá
diễn ra mạnh trong đất nên hiện tượng thoái hoá đất (xói mòn, rửa trôi, phèn
hoá, hoang mạc hoá,…) càng dễ xảy ra hơn.
Hiện tượng xói mòn đã và đang mở rộng trên lãnh thổ nước ta và tác hại
của nó ngày càng trở nên rất nghiêm trọng, gây thiệt hại lớn đến năng suất cây
trồng, có thể nói đây là một trong những nhân tố làm thoái hoá đất nghiêm
trọng. Vì vậy, việc nghiên cứu về xói mòn đất để tìm ra giải pháp ngăn chặn
nó là một vấn đề cấp thiết cần được quan tâm của toàn xã hội, trong đó việc
kết hợp giữa hoạt động sản xuất, canh tác của con người với bảo vệ tài
nguyên đất nhằm vừa nâng cao năng suất cây trồng, thu nhập cho người dân
vừa hạn chế thoái hóa đất, cải tạo đất là một trong những biện pháp hay và
được áp dụng rộng rãi.
Cây chè là loại cây trồng tạo lớp phủ thực vật tốt. Đây là loại cây công
nghiệp dài ngày có giá trị kinh tế cao, có ý nghĩ về giá trị kinh tế - xã hội và
bảo vệ môi trường, nhất là với vùng trung du và miền núi. Xã La Bằng,
- Chương 1: Tổng quan tài liệu
- Chương 2: Đối tượng, phạm vi và phương pháp nghiên cứu
- Chương 3: Kết quả nghiên cứu.
2
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tổng quan về xã La Bằng
1.1.1. Điều kiện tự nhiên
Vị trí địa lý:
La Bằng là xã nằm ở phía Tây huyện Đại Từ cách trung tâm huyện 10 km,
phía Đông giáp xã Bản Ngoại, phía Tây giáp huyện Sơn Dương tỉnh Tuyên
Quang, phía Nam giáp xã Hoàng Nông, phía Bắc giáp xã Phú Xuyên [12].
Hình 1.1. Vị trí của xã La Bằng
3
Xã La Bằng
Địa hình, khí hậu:
Là xã miền núi nằm dưới chân dãy núi Tam Đảo với địa hình chủ yếu là
đồi núi. Khí hậu xã La Bằng có 2 mùa rõ rệt, mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 10,
khí hậu nóng ẩm và mưa nhiều, mùa khô từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, gió
đông bắc chiếm ưu thế, lượng mưa ít, thời tiết hanh khô. Đặc trưng khí hậu nhiệt
đới nóng ẩm thể hiện rõ qua các chỉ số: nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng
22,9
o
C [13]. Lượng mưa phân bố không đều có chênh lệch lớn giữa mùa mưa và
mùa khô. Về mùa mưa cường độ mưa lớn, chiếm tới gần 80% tổng lượng mưa
trong năm.
Tài nguyên rừng:
Tổng diện tích rừng toàn xã hiện nay là 1519,42 ha, trong đó diện tích
rừng đặc dụng thuộc vườn Quốc gia Tam Đảo quản lý là 1096,53 ha, còn lại
là 422,89 ha rừng sản xuất nằm rải rác tại các xóm [12]. Rừng La Bằng là
nông nghiệp (trồng trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp, thủy sản ) là 42429 triệu
đồng, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp là 2022 triệu đồng, dịch vụ, thương
mại là 1750 triệu đồng, thu từ các nguồn chính sách xã hội và các nguồn khác
là 6150 triệu đồng [13].
Theo cơ cấu kinh tế năm 2010, tỷ trọng nông, lâm, thủy sản chiếm 81,04%,
thương mại dịch vụ chiếm 3,34%, tiểu thủ công nghiệp chiếm 3,86 %, và các
nguồn khác chiếm 11,74%.
Theo cơ cấu kinh tế năm 2011, tỷ trọng nông, lâm, thủy sản chiếm
79,3%, thương mại dịch vụ chiếm 6,1%, tiểu thủ công nghiệp và các
nguồn khác là 14,6% [13]. Năm 2011 thu nhập bình quân đầu người của
xã đạt 19500000đ/người/năm, so với mức thu nhập bình quân vùng nông
thôn của tỉnh Thái Nguyên 14 triệu đồng/người/năm (số liệu năm 2011) thì
thu nhập của xã gấp 1,4 lần.
Qua hai năm 2010 và 2011, có sự chuyển dịch về cơ cấu kinh tế, tỷ trọng
nông, lâm, thủy sản giảm; tỷ trọng các ngành thương mại dịch vụ và tiểu thủ
công nghiệp cùng các ngành khác tăng.
5
Hiện trạng sản xuất cây chè:
Phát huy tiềm năng, điều kiện của địa phương, người dân xã La Bằng
xác định sản xuất chè nhằm tạo bước phát triển mạnh về kinh tế; trong những
năm qua đã tập trung triển khai đưa các giống chè mới, có năng suất, chất
lượng cao vào sản xuất.
Hiện nay trên địa bàn xã La Bằng đã hình thành 02 hợp tác xã chè, 10
làng nghề, 05 tổ hợp tác. Các tổ hợp tác, câu lạc bộ này thường xuyên trao đổi
kinh nghiệm, hướng dẫn hội viên, nhân dân cách chăm sóc, sản xuất chè theo
hướng chè an toàn, chè hữu cơ bền vững, từng bước nâng cao chất lượng chè,
sản xuất chuyên nghiệp để tạo ra sản phẩm đáp ứng đủ tiêu chuẩn hàng hóa
chất lượng cao, dần dần chiếm lĩnh thị trường. Đặc biệt, năm 2011, 10/10
xóm của La Bằng đều được công nhận là làng nghề chè truyền thống. Năm
2012, sản phẩm trà La Bằng được trao giấy chứng nhận nhãn hiệu hàng hóa
[Nguồn: 11]
Lao động tại địa phương:
Người dân trong xã chủ yếu làm nông nghiệp. Dân số trong độ tuổi lao
động khoảng 2264 người, chiếm khoảng 60,06% dân số xã.
Bảng 1.1.b. Cơ cấu lao động xã La Bằng năm 2012
Stt Lao động Số lượng (người) Tỷ lệ (%)
1 Lao động nông nghiệp 2065 91,2
2 Lao động dịch vụ thương mại 68 3,0
3 Lao động khác 131 5,8
Tổng 2264 100,0
[Nguồn : 11]
Nhìn chung lực lượng lao động của địa phương dồi dào, trẻ, cần cù,
chăm chỉ, sáng tạo, có tinh thần học hỏi, có ý chí xây dựng kinh tế gia đình
ngày càng phát triển, tuy nhiên tỷ lệ lao động qua đào tạo của địa phương còn
thấp, do vậy còn có hạn chế trong việc áp dụng khoa học kĩ thuật vào sản xuất
mà chủ yếu dựa vào kinh nghiệm cá nhân, sản xuất còn nhỏ lẻ, manh mún nên
hiệu quả kinh tế chưa cao.
Hình thức tổ chức sản xuất:
Nhìn chung mô hình kinh tế trang trại về chăn nuôi, thuỷ sản… tại địa
phương không phát triển do diện tích đất canh tác của các hộ gia đình nhỏ,
hẹp. Người dân chủ yếu tập trung phát triển cây chè là cây kinh tế mũi nhọn
7
nên các tổ hợp tác và HTX hoạt động hiệu quả, ổn định. Hiện nay tại Xã La
Bằng có 3 trang trại, phân loại theo lĩnh vực: sản xuất nông nghiệp (cây chè)
2 trang trại, chăn nuôi 1 trang trại với tổng số lao động trog các trang trại là
18 người. Xã có 2 hợp tác xã và 5 tổ hợp tác sản xuất, chế biến, kinh doanh
chè, hoạt động có hiệu quả với tổng số lao động tham gia 124 người. Ngoài
ra, xã cũng đã xây dựng được 1 nhà máy chè với tổng số lao động tham gia 20
người.
Tóm lại, La Bằng là xã nằm ven chân dãy núi Tam Đảo nơi có điều kiện
vững đã được các nhà khoa học đề xuất từ năm 1991 trong đó 5 thuộc tính
khái niệm bền vững được xem xét là: tính sản xuất hiệu quả, tính an toàn, tính
bảo vệ, tính lâu bền và tính chấp nhận.
Rõ ràng quản lý bền vững đất đai phải bao gồm một tổ hợp (vì các giới
hạn của dự trữ nguồn lực, tác động đến môi t rường, tính kinh tế đa dạng sinh
học và tính hợp pháp), bao gồm tổ hợp các công nghệ, chính sách và hoạt
động nhằm phù hợp các nguyên lý kinh tế - xã hội với các quan điểm môi
trường để đồng thời duy trì và nâng cao được sản lượng (hiệu quả sản xuất),
giảm được rủi ro (an toàn) bảo vệ được tiềm năng nguồn lực tự nhiên, ngăn
ngừa thoái hóa đất và ô nhiễm môi trường nước. Hiệu quả là lợi ích lâu dài
(lâu bền) được xã hội chấp nhận phù hợp với lợi ích của các bên tham gia
quản lý, lợi ích quốc gia, lợi ích cộng đồng. Các thuộc tính của khái niệm bền
vững nêu trên có mối quan hệ với nhau, sử dụng đất được coi là bền vững khi
quá trình sử dụng đó duy trì được sự cân bằng động và sự bảo toàn lâu dài
theo thời gian.
* Những tiêu chí và chỉ tiêu cơ bản để đánh giá tính bền vững đối với sử
dụng đất dốc ở Việt Nam
- Bền vững về kinh tế : Năng suất trên mức bình quân vùng, năng suất
tăng dần, đạt tiêu chuẩn sản phẩm tiêu thụ tại địa phương và xuất khẩu; giá trị
9
sản xuất trên chi phí đạt trên 1,5 lần; ít mất trắng do hạn và sâu bệnh, có thị
trường ổn định, dễ bảo quản và vận chuyển.
- Chấp nhận xã hội với 6 tiêu chí:
+ Đáp ứng nhu cầu của hộ về lương thực, thực phẩm, về tiền mặt và
nhu cầu khác.
+ Phù hợp với năng lực nông hộ về đất đai, lao động, vốn và kỹ năng
sản xuất.
+ Người lao động tự quyết công việc đồng áng, không áp đặt và được
hưởng lợi ích thoả đáng.
+ Giảm nặng nhọc cho phụ nữ, không làm trẻ em mất cơ hội học hành.
Cây chè đã được tỉnh Thái Nguyên xác định là cây công nghiệp chủ lực,
có lợi thế trong nền kinh tế thị trường, là cây xoá đói giảm nghèo và làm giầu
của nông dân. Tỉnh có chủ trương phát triển theo hướng sản xuất hàng hoá tập
trung, khai thác tiềm năng và thế mạnh của cây chè, góp phần xoá đói, giảm
nghèo và làm giàu cho phần lớn nông dân trồng chè trong tỉnh.
1.3.1. Về diện tích chè
Trong những năm qua, tỉnh không ngừng xây dựng, phát triển những khu
công nghiệp, hệ thống thương mại dịch vụ như siêu thị, khách sạn, nhà hàng
ngày càng nhiều, tốc độ đô thị hoá ngày càng tăng, mặt khác quá trình chuyển
đổi cơ cấu kinh tế đang diễn ra mạnh mẽ vì vậy diện tích đất nông nghiệp
ngày càng bị hạn chế. Tuy vậy, diện tích trồng chè vẫn tăng lên hàng năm do
tỉnh xác định cây chè là cây công nghiệp chủ lực.
11
Bảng 1.3.a. Diện tích trồng chè của tỉnh Thái Nguyên phân theo huyện/thành phố/thị xã
Đơn vị: ha
Năm
Huyện, thị xã
2004 2005 2006 2007 2008
Ha
Tỷ trọng
(%)
Ha
Tỷ trọng
(%)
Ha
Tỷ trọng
(%)
Ha
Tỷ trọng
(%)
người dân ở Đại Từ cũng có kinh nghiệm, truyền thống trồng chè từ lâu đời.
Trong giai đoạn 2004 – 2006, diện tích trồng chè của tỉnh tăng mạnh.
Năm 2005 so với 2004, diện tích trồng chè của tỉnh tăng 3,96% tương đương
với 607 ha. Năm 2006 so với 2005, diện tích tăng 435 ha (2,73%). Trong đó,
diện tích tăng mạnh nhất phải kể đến các huyện: Phú Lương chiếm 21,72%
tổng diện tích toàn tỉnh, huyện Đại Từ chiếm 30,72% tổng diện tích (năm
2006).
Trong giai đoạn 2007 – 2008, diện tích trồng chè của tỉnh vẫn tăng
nhưng tốc độ tăng giảm so với giai đoạn 2004 – 2006. Năm 2007 so với 2006
diện tích trồng chè tăng 2,2% (360 ha). Năm 2008 so với 2007 diện tích trồng
chè tăng 1,6% (268 ha). Nguyên nhân là do quỹ đất nông nghiệp của tỉnh có
hạn, không thể phát triển diện tích mãi được. Mặt khác, phương hướng chính
của giai đoạn này là nâng cao chất lượng. Do vậy, tỉnh không phát triển thêm
diện tích chè, mà chủ yếu là trồng thay thế, trồng lại bằng giống mới. Từ năm
2007, tỉnh thực hiện chủ trương cải tạo diện tích chè kém chất lượng, từ
nguồn vốn khuyến nông quốc gia. Theo đó, các giống mới, năng suất cao,
chịu bệnh tốt sẽ được thay thế cho các giống cũ năng suất thấp. Việc thay thế
này được thực hiện dần. Nghĩa là, cây mới lên đến đâu thì mới phạt dần cây
cũ đến đó. Làm như vậy có 2 cái lợi: Một là, trong thời gian chờ chè mới lên,
người dân vẫn tận thu được từ chè cũ để đảm bảo cuộc sống. Hai là, giải
phóng dần tâm lý e ngại của người dân. Qua đó sẽ thay đổi nhận thức của
nhiều người dân trong vùng, rằng việc thay thế giống chè cũ là hướng đi hoàn
toàn đúng đắn.
13
1.3.2. Về sản lượng chè
Do chủ trương giảm diện tích chè của tỉnh để tập trung vào sản xuất các
giống chè mới có chất lượng cao và nâng cao năng suất chất lượng cây chè
nên sản lượng chè cũng giảm đáng kể.
Huyện Đại Từ là huyện có sản lượng chè lớn nhất toàn tỉnh qua các năm.
Năm 2008, sản lượng chè của huyện đạt 46124 tấn, chiếm 30,9% sản lượng
Tấn
Tỷ trọng
(%)
Tấn
Tỷ trọng
(%)
Thành phố Thái
Nguyên
6120 6,29 8477 7,66 9632 7,41 10846 7,74 12211 8,18
Thị xã Sông Công 2450 2,52 2840 2,56 3531 2,72 3871 2,76 4241 2,84
Huyện Định Hoá 11500 11,82 13640 12,33 15228 11,72 16170 11,54 16877 11,31
Huyện Võ Nhai 1080 1,11 1.738 1,57 2247 1,73 2602 1,85 2827 1,89
Huyện Phú Lương 20035 20,59 23117 20,89 29039 22,35 31010 22,12 32170 21,55
Huyện Đồng Hỷ 12267 12,61 14763 13,34 20004 15,39 22563 16,09 23750 15,91
Huyện Đại Từ 35921 36,93 37376 33,78 41154 31,68 43223 30,83 46124 30,90
Huyện Phú Bình 410 0,42 450 0,40 600 0,46 656 0,46 662 0,44
Huyện Phổ Yên 7480 7,71 8236 7,47 8478 6,54 9241 6,61 10393 6,98
Tổng số 97263 100,00 110636 100,00 129.913 100,00 140182 100,00 149255 100,00
[Nguồn: 5]
15
Sự thay đổi về sản lượng chè búp tươi được thể hiện qua bảng 1.3.b. Giai
đoạn 2004 – 2006 sản lượng chè tăng dần qua các năm: Năm 2005 sản lượng
chè búp tươi toàn tỉnh là 110636 tấn, tăng 13373 tấn (13,75%) so với năm
2004. Năm 2006 sản lượng chè là 129913 tấn, tăng 19.277 (17,42%) tấn so
với năm 2005.
Tuy nhiên đến giai đoạn 2007 – 2008, tốc độ tăng của sản lượng chè
giảm so với giai đoạn 2004 – 2006. Năm 2007, sản lượng chè đạt 140182
ha,tăng 10269 tấn (7,9%) so với năm 2006. Năm 2008, sản lượng chè toàn
tỉnh đạt 149255 tấn, tăng 9073 tấn (6,47%) so với năm 2007
1.4. Vai trò của việc trồng chè trong quản lý và sử dụng đất dốc
bệnh thống nhất v.v.). Định nghĩa của Smyth và Dumanski (1993) về quản lý
đất bền vững là: “Quản lý đất đai bền vững là kết hợp kỹ thuật, chính sách và
các hoạt động nhằm thống nhất các nguyên tắc kinh tế xã hội với các mối
quan tâm về môi trường để đồng thời gìn giữ hoặc tăng cường sản xuất, giảm
mức độ rủi ro của sản xuất, bảo vệ tiềm năng của nguồn tài nguyên thiên
nhiên và phòng chống (đệm để chống lại) sự thoái hoá đất đai và nước, phát
triển về mặt kinh tế và chấp nhận được về mặt xã hội”.
Quản lý đất bền vững gồm 5 tiêu chí sau:
- Tính hiệu quả sản xuất: là sự duy trì và nâng cao sản lượng.
- Tính an toàn: giảm thiểu những nguy cơ và rủi ro.
17
- Tính bảo vệ: bảo vệ tiềm năng nguồn lực tự nhiên và ngăn ngừa thoái
hóa đất.
- Tính lâu bền: đảm bảo hiệu quả lâu dài.
- Tính chấp nhận: được xã hội chấp nhận.
Nghiên cứu tập trung vào các biện pháp quản lý và sử dụng đất dốc bền
vững ở xã La Bằng, tức là các kĩ thuật chống xói mòn, mất dinh dưỡng ở đất
thông qua các kỹ thuật, các mô hình trồng chè. Sử dụng phương pháp phân
tích hệ thống giúp cho việc đánh giá các vấn đề một cách tổng thể, nằm trong
mối quan hệ chặt chẽ.
2.2.2. Phương pháp đánh giá nhanh môi trường
Đánh giá nhanh môi trường là phương pháp thu thập thông tin về hiện
trạng môi trường đất, các kĩ thuật trồng và chăm sóc chè, biện pháp quản lý
và sử dụng đất trên cơ sở quan sát, điều tra, phỏng vấn… Những thông tin thu
thập được sẽ là cơ sở của việc phân tích, đánh giá và đưa ra kết luận về các
biện pháp quản lý và sử dụng đất dốc bền vững ở khu vực nghiên cứu. Trong
phương pháp này, những kỹ thuật mà đề tài sử dụng bao gồm:
a. Thu thập và phân tích số liệu, tài liệu
Phương pháp này được sử dụng để thu thập thông tin khoa học trên cơ sở
nghiên cứu các văn bản, tài liệu và tư liệu đã có, vận dụng phương pháp tư
Trong quá trình khảo sát thực tế sẽ tiến hành nghiên cứu cụ thể trên 3
xóm của xã La Bằng là xóm Tiến Thành, xóm Kẹm, xóm Rừng Vần. Trong
mỗi xóm chọn 10 hộ tiến hành phỏng vấn. Dựa trên thông tin từ trưởng xóm,
chọn ra 3 hộ thuộc nhóm hộ khá, 3 hộ thuộc nhóm hộ nghèo và 4 hộ thuộc
nhóm hộ trung bình để phỏng vấn. Từ 30 phiếu điều tra thu được, sẽ khái quát
được hiện trạng phát triển của vùng, là cơ sở cho việc đánh giá và chọn ra mô
hình canh tác trên đất dốc hiệu quả phù hợp nhất với điều kiện khu vực
nghiên cứu.
19
CHƯƠNG III
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
3.1. Hiện trạng quản lý và sử dụng đất tại Xã La Bằng
Trong thời gian qua, Đảng bộ và nhân dân Xã La Bằng đã thực hiện tốt
các chủ trương của nhà nước về quản lý đất đai, từng bước đưa công tác này đi
vào nề nếp, hạn chế những tiêu cực phát sinh trong quá trình quản lý và sử
dụng đất. Sau khi luật đất đai năm 2003 ra đời và có hiệu lực, được sự quan
tâm của các cấp ủy chính quyền địa phương và cơ quan chuyên môn, ủy ban
nhân dân Xã La Bằng đã tổ chức hội nghị đưa ngay luật đất đai vào cuộc sống,
giúp mọi cơ quan đoàn thể, nhân dân hiểu và chấp hành nghiêm túc thực hiện.
Xã cũng đã xác lập được địa giới hành chính, xây dựng bản đồ hiện trạng sử
dụng đất, lập quy hoạch sử dụng đất. Thực hiện tốt công tác quản lý tài chính,
kết hợp với ủy ban nhân dân huyện Đại Từ thực hiện tốt công tác giao đất, thu
hồi đất, chuyển đổi mục đích sử dụng đất, để người dân an tâm sản xuất. Do
vây, công tác quản lý đất đai trên địa bàn tiếp tục được củng cố. Đến nay, ủy
ban nhân dân Xã La Bằng đã thi hành đầy đủ các văn bản pháp luật về đất đai,
phổ biến cho người sử dụng.
20