LỜI CẢM ƠN Tôi xin trân trọng bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và chân thành nhất đến
Ban giám hiệu trường Đại học Thủy Lợi, cùng các Thầy, Cô đã truyền đạt
những kiến thức bổ ích trong quá trình học tập tại trường.
Với tất cả sự kính trọng, tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn của
mình với sự hướng dẫn tận tình, chu đáo của Thầy Giáo sư, tiến sỹ Vũ
Thanh Te, đã dành rất nhiều thời gian và tâm huyết hướng dẫn cho tôi trong
suốt quá trình hoàn thành luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn đến bạn bè, những người thân đã luôn bên
cạnh khích lệ tôi trong quá trình thực hiện luận văn. Cuối cùng, con xin cảm
ơn gia đình đã luôn hỗ trợ cho con trong suốt thời gian qua, đó là chỗ dựa tinh
thần vững chắc để con tập trung và hoàn thành luận văn tốt nghiệp này.
Tôi đã có nhiều cố gắng để hoàn thiện luận văn bằng tất cả tâm huyết
và năng lực của mình, nhưng không thể tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy,
tôi rất mong sự góp ý, chỉ bảo của Quý thầy cô và đồng nghiệp, đó chính là sự
giúp đỡ quý báu mà tôi mong muốn để cố gắng hoàn thiện hơn trong quá trình
nghiên cứu và công tác sau này.
Một lần nữa xin chân thành cảm ơn./.
Hà Nội, tháng 5 năm 2014
Học viên
Trịnh Vũ Mạnh LỜI CAM KẾT
2.1.1. Tính trương nở 27
2.1.2 Tính tan rã 29
2.1.3. Tính lún ướt 31
2.1.4. Hiện tượng co ngót khi độ ẩm giảm 32
2.1.5 Đặc điểm địa chất công trình và guồn vật liệu đất đắp 32
2.2. Các quy chuẩn, tiêu chuẩn áp dụng trong quản lý chất lượng thi công
đập đất . 39
2.3. Các phương pháp thí nghiệm trong quản lý chất lượng đắp đập 41
2.3.1. Quy định chung về việc lấy mẫu đất 41
2.3.2. Lấy mẫu 41
2.3.3. Bao gói mẫu 44
2.3.4. Vận chuyển và bảo quản 46 2.3.5. Thí nghiệm đầm nén ở trong phòng thí nghiệm 47
2.3.6. Thí nghiệm đầm nén ở hiện trường 56
2.4. Các phương pháp kiểm tra đánh giá chất lượng đắp đập 57
2.5. Kết luận 62
CHƯƠNG 3: XÂY DỰNG ĐIỀU KIỆN KỸ THUẬT ĐỂ QUẢN LÝ VÀ
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐẮP ĐẬP CÔNG TRÌNH THỦY ĐIỆN
THƯỢNG – KONTUM 64
3.1 Giới thiệu công trình thủy điện Thượng Kon-Tum. 64
3.1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên của tỉnh Kon Tum 64
3.1.2. Giới thiệu về thủy điện Thượng Kon Tum 67
3.2. Các yêu cầu về chất lượng đập Thượng Kon Tum 73
3.2.1. Công tác chuẩn bị nền đập 73
3.2.2. Công tác đắp thân đập 74
3.3. Xây dựng điều kiện kỹ thuật để quản lý và nâng cao chất lượng đắp
đập 75
3.3.1. Lựa chọn độ ẩm của đất đầm nén và dung trọng thiết kế 76
Bảng 3.1 : Các thông số kết cấu chính mặt cắt đập 68
Bảng 3.2 : Bảng trữ lượng các mỏ vật liệu 72
Bảng 3.3: Kết quả thí nghiệm đầm nén trong phòng thí nghiệm 78
Bảng 3.4 : Kết quả thí nghiệm đầm nén ngoài hiện trường 86
Bảng 3.5: Cường độ giảm độ ẩm tại lớp mặt và lớp giữa cách lớp mặt 15cm 90 DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1.1 : Thiết kế dẫn dòng thi công 11
Hình 1.2 : Dòng thấm phát triển dưới đáy đập 20
Hình 1.3 : Bắt đầu xuất hiện mạch đùn, mạch sủi nền hạ lưu đập 20
Hình 1.4 : Những gì còn lại sau khi nước hồ bị tháo cạn 21
Hình 1.5: Vị trị thấm số 1 22
Hình 1.6: Thấm bùng nhùng ngang thân đập tại vị trí số 2 22
Hình 1.7: Đập vỡ tại vị trí cống lấy nước 23
Hình 1.8 : Vị trí cống bị gãy 24
Hình 1.9 : Toàn cảnh đập Khe Mơ sau sự cố 24
Hình 1.10 : Đoạn thân đập bị vỡ 25
Hình 2.1 : Cối đầm chặt 48
Hình 2.2 :Đường đầm chặt tiêu chuẩn 56
Hình 3.1: Mặt cắt ngang điển hình của tuyến đập 69
Hình 3.2: Mặt cắt ngang điển hình của tuyến đập 70
Hình 3.3: Sơ đồ chọn độ ẩm cho đất đầm nén trong đắp đập 77
Hình 3.4: Biểu đồ đầm nén tiêu chuẩn trong phòng thí nghiệm( mẫu từ bãi
vật liệu tràn) 79
Hình 3.5. Biểu đồ đầm nén tiêu chuẩn trong phòng thí nghiệm( mẫu từ bãi vật
liệu số 1) 80
Hình 3.6. Biểu đồ đầm nén tiêu chuẩn trong phòng thí nghiệm( mẫu từ bãi vật
liệu số 2) 81
hành Luật Xây dựng, Chính phủ ban hành các Nghị định, các bộ ngành liên
quan ban hành những thông tư hướng dẫn. Ngoài ra nhà nước còn ban hành
định mức dự toán, hệ thống quy chuẩn, tiêu chuẩn trong xây dựng công trình
thuỷ lợi. Thiết lập bộ máy quản lý tham mưu giúp việc cho công tác quản lý
nhà nước về chất lượng xây dựng như ở trung ương có cục quản lý chất lượng
xây dựng, ở các tỉnh có các trung tâm kiểm định chất lượng.
Tuy vậy trong quá trình xây dựng công trình vẫn còn rất nhiều bất cập
trong quá trình quản lý chất lượng. Trong thời gian qua đã xảy ra hàng loạt sự
2
cố công trình thuỷ lợi, thủy điện gây nhiều thiệt hại về con người và tiền của.
Trong đó, các sự cố liên quan đến đập đất xảy ra rất nhiều. Chính vì vậy một
lần nữa việc quản lý và nâng chất lượng đập đất là một đòi hỏi cấp thiết.
2. Mục tiêu của đề tài
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là nghiên cứu tổng quan về quản lý chất
lượng đập đất ở Tây Nguyên, đi sâu vào nghiên cứu quản lý và nâng cao chất
lượng công trình cụ thể ở Tây Nguyên là đập Thượng KonTum .
3. Cách tiếp cận và phương pháp thực hiện
- Nghiên cứu tổng quan về công tác quản lý chất lượng đập đất.
- Điều tra khảo sát, thu thập tổng hợp tài liệu thực tế về đập đất.
- Phân tích đánh giá và đề xuất giải pháp nâng cao chất lượng đập đất
4. Kết quả dự kiến đạt được
- Thực trạng công tác quản lý chất lượng đập đất hiện nay, đánh giá
những kết quả đạt được, những vấn đề bất cập, tồn tại cần khắc phục, hoàn
thiện.
- Đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng đập đất ở Tây Nguyên
và áp dụng vào một công trình đập đất cụ thể.
nước [3].
- Các tỉnh đã xây dựng nhiều hồ chứa là:
+ Nghệ An 625 hồ chứa
+ Thanh Hóa 618 hồ chứa
+ Hòa Bình 521 hồ chứa
+ Tuyên Quang 503 hồ chứa
+ Bắc Giang 461 hồ chứa
+ Đắc Lắc 439 hồ chứa
+ Hà Tĩnh 345 hồ chứa
+ Vĩnh Phúc 209 hồ chứa
+ Bình Định 161 hồ chứa
4
+ Phú Thọ 124 hồ chứa
- Giai đoạn 1960 ÷ 1975: Chúng ta đã xây dựng nhiều hồ chứa có dung
tích trữ nước từ 10 ÷ 50 triệu m3 như: Đại Lải (Vĩnh Phúc); Suối Hai, Đồng
Mô (Hà Nội); Khuôn thần (Bắc Giang); Thượng Tuy, Khe Lang (Hà
Tĩnh); Rào Nan, Cẩm Ly (Quảng Bình); đặc biệt hồ Cấm Sơn (Lạng Sơn) có
dung tích 248 triệu m
3
nước với chiều cao đập đất 40m (đập đất cao nhất lúc
bấy giờ).
- Giai đoạn 1975 ÷ 2000: Sau khi đất nước thống nhất chúng ta đã xây
dựng được hàng ngàn hồ chứa trong đó có nhiều hồ chứa nước lớn như: Núi
Cốc (Thái Nguyên); Kè Gỗ (Hà Tĩnh); Yên Lập (Quảng Ninh); Sông Mực
(Thanh Hóa); Phú Ninh (Quảng Nam); Yazun hạ (Gia Lai); Dầu Tiếng (Tây
Ninh)… trong đó hồ Dầu Tiếng có dung tích lớn nhất 1,58 tỷ m
3
nước phần lớn là do UBNN tỉnh quản lý vốn, kỹ thuật thiết kế thi công. Các
hồ nhỏ phần lớn do huyện, xã, HTX, nông trường tự bỏ vốn xây dựng và quản
lý kỹ thuật. Những hồ tương đối lớn được đầu tư tiền vốn và kỹ thuật tương
đối đầy đủ thì chất lượng xây dựng đập đạt được yêu cầu. Còn những hồ nhỏ
do thiếu tài liệu cơ bản như: Địa hình, địa chất, thủy văn, thiết bị thi công, lực
lượng kỹ thuật và nhất là đầu tư kinh phí không đủ nên chất lượng đập chưa
tốt, mức độ an toàn rất thấp.
1.2. Những vấn đề liên quan đến chất lượng đập đất
An toàn đập là vấn đề từ lâu đã được nhiều quốc gia quan tâm. Đập đất
chiếm tỷ lệ cao trong số các đập ngăn sông để tạo hồ chứa ở Việt Nam. Hư
hỏng của đập đất thường tiềm ẩn sự mất an toàn, nhiều trường hợp đã gây ra
thảm họa vỡ đập. Do vậy, các công tác khảo sát, thiết kế, thi công có ảnh
hưởng rất lớn đến chất lượng và sự an toàn của đập đất.
1.2.1. Khảo sát
Trong xây dựng công trình thủy lợi nói chung và xây dựng đập đất nói
riêng, công tác khảo sát địa chất là công việc phải thực hiện đầu tiên và có
tính chất cực kỳ quan trọng, nó không những tác động đến giá thành, hiệu quả
của dự án mà còn tác động rất lớn đến sự an toàn của công trình. Công tác
khảo sát còn giúp ích rất nhiều cho việc lựa chọn các vật liệu đất tốt nhất,
tuyến đập tốt nhất.
1.2.1.1. Tài liệu khảo sát địa chất nền, vai đập, khảo sát thăm dò vật
liệu
Công tác khảo sát đánh giá điều kiện địa chất công trình và vật liệu xây
dựng – mỏ khai thác vật liệu là một trong những công đoạn khó và rất phức
6
tạp trong các giai đoạn thiết kế công trình, đặc biệt là giai đoạn thiết kế kỹ
với thực tế.
1.2.1.2. Tài liệu cơ bản phục vụ cho tính toán thủy văn công trình
Như ta đã biết tài liệu thủy văn đóng vai trò rất quan trọng trong tính
toán dòng chảy. Để kết quả tính toán lũ đảm bảo độ tin cậy thì chuỗi số liệu
cơ bản phải đầy đủ và tính đại biểu phải cao. Thực tế cho thấy tài liệu đo đạc
thủy văn ở hầu hết các công trình ở Tây Nguyên rất ngắn. Khi tài liệu đo đạc
còn ngắn, lại chưa có phương pháp kéo dài tài liệu cho phù hợp, vì vậy dẫn
đến kết quả tính toán với độ tin cậy thấp [6].
Một số hồ chứa do không có trạm đo nên phải dung tài liệu tương tự của
vùng tương tự. Trong trường hợp này khi mượn tài liệu tính thì phải đưa ra
những chỉ số hiệu chỉnh, điều này bị hạn chế khi tài liệu cơ sở cho tính toán
cũng thiếu. Mặt khác khâu điều tra, thu thập chỉnh lý số liệu những trận mưa
lũ lịch sử theo khu nghiên cứu, hay triền sông, đánh giá tính đại biểu của
chuối số liệu còn hạn chế.
Từ những mặt trên việc xác định thông số của dòng chảy lũ chưa được
sát với thực tế. Phần nhiều là trị số tính toán nhỏ hơn lưu lượng xảy ra sau khi
hệ thống đầu mối bước vào hoạt động.
1.2.1.3. Tài liệu khảo sát địa hình chưa đầy đủ hoặc độ chính xác
không đảm bảo
Tài liệu khảo sát địa hình là cơ sở cho việc xác định kích thước, chọn
tuyến và kết cấu công trình, công tác khảo sát chính xác là phần nối tiếp công
trình sẽ hợp lý, công trình lại làm việc bình thường với dòng chảy thiết kế.
Thực tế cho thấy tác khảo sát công trình loại vừa và nhỏ còn có những tồn tại,
ảnh hưởng không ít đến việc lựa chọn kết cấu công trình.
8
1.2.2. Thiết kế
Trải qua lịch sử xây dựng và phát triển đập đất ở nước ta từ trước tới
chính một cấp. Điều này dẫn đến bất hợp lý, đối với công trình quan trọng,
khi vỡ thì gây ra tai họa vô cùng lớn, nhưng không cần làm tràn sự cố. Còn
đối với các công trình nhỏ, khi chưa có đủ tài liệu tính toàn thì cho phép làm
tràn sự cố. Thực tế cho thấy trị số lưu lượng thiết kế lại nhỏ hơn trị số đo
được xảy ra tại công trình.
Thực tế cho thấy lưu lượng đỉnh lũ và tổng lượng lũ tính toán thường
nhỏ hơn so với tài liệu thực đo.
1.2.2.2. Nguyên nhân lựa chọn phần giải pháp công trình chưa hợp
lý
Vấn đề lựa chọn kết cấu công trình, vị trí xây dựng là hết sức quan
trọng, nó quyết định đến ổn định và giá thành công trình. Nếu đất đắp không
đủ phải dung tường lõi chỗng thấm thì việc chọn vật liệu, vị trí đặt, vật liệu
tầng lọc… là một việc rất quan trọng. Sau đây xin đi vào phân tích từng yếu
tố liên quan đến chọn giải pháp thiết kế xử lý.
a. Nền và vai đập
Việc sử dụng phần vai đập đóng một vai trò cực kỳ quan trọng đến điều
kiện ổn định của khối đắp. Thực tế chỉ ra rằng có rất nhiều đập do xử lý tiếp
giáp không tốt và gây ra sự cố vỡ đập
Vấn đề thi công chân khay cũng cần được xem xét nghiêm túc trong khi
thiết kế. Người thiết kế phải có phương án thi công cho loại kết cấu mà mình
đã chọn. Thông thường chân khay phải thi công khẩn trương, lại bị nước
ngầm tác động. Nếu thiết kế chọn phương án thi công không hợp lý, nhà thầu
sẽ thi công theo kiểu riêng của họ, đôi khi chất lượng không thật đảm bảo.
10
b. Thiết kế lớp bảo vệ mái đập
Qua phần phân tích sự cố của đập đất cho thấy sự cố sạt mái đập, hỏng
mái chiếm một tỉ lện lớn và xảy ra đối với các đập vừa và lớn, còn các đập rất
đất có một số điểm cần chú ý như sau :
1.2.3.1. An toàn khi dẫn dòng thi công
Khi thiết kế dẫn dòng, nội dung chính thể hiện qua sơ đồ sau:
Hình 1.1 : Thiết kế dẫn dòng thi công
Ví dụ, chọn lưu lượng thiết kế dẫn dòng (Q
dd
TK P%
) với công trình cấp III
theo Tiêu chuẩn XDVN 285: 2002:
- Khi đó công trình tạm là cấp IV, tần suất lưu lượng thiết kế dẫn dòng
(LLTKDD) P=10%. Thời đoạn dẫn dòng thông thường chia theo mùa khô và
mùa mưa. Nếu cứ tiến hành tuần tự theo sơ đồ trên thì sau khi tính thủy lực sẽ
xác định được kích thước công trình dẫn và ngăn dòng, việc tính toán ở thời
đoạn mùa khô thường không bị mắc sai lầm. Tuy nhiên, tần suất trên để tính
cho công trình dẫn dòng và ngăn dòng là các công trình tạm (kênh dẫn dòng,
đê quai…). Giai đoạn mùa lũ, việc chọn tần suất LLTKDD có thể chưa phù
hợp trong 2 trường hợp sau:
+ Vào mùa lũ năm thi công thứ nhất, dòng chảy thường được dẫn qua
lòng sông thu hẹp (một hay 2 bờ); mùa lũ năm thi công thứ 2 hoặc 3 dòng
chảy dẫn qua tràn tạm (tràn xây dở hay lợi dụng địa hình yên ngựa), công
trình chắn nước trong giai đoạn này là đập chính. Khi đó, nếu vẫn tính toán
12
mực nước hồ ứng với lưu lượng Q
dd
TK p=10%
thì khi xuất hiện Q > Q
liệu chính (điển hình như đập Nà Danh - Cao Bằng do vật liệu khó khăn, khối
lượng đập gần 300 ngàn m3 phải khai thác 6 bãi), chưa kể mỗi bãi vật liệu có
thể gồm nhiều lớp với thành phần hạt, độ ẩm khác nhau. Mặt khác, tại mỗi
13
công trường thường sử dụng một vài thiết bị đầm nén nhất định. Chính vì vậy,
mỗi khi chuyển vị trí bãi khai thác hay chuyển mùa thi công cần làm tốt công
tác thí nghiệm đầm nén hiện trường. Qua thực tế một số công trường cho
thấy, thí nghiệm đầm nén hiện trường chưa được chủ đầu tư và các nhà thầu
quan tâm đúng mức, có trường hợp chỉ thí nghiệm 01 lần với 01 bãi vật liệu
sau đó áp dụng cho suốt quá trình đắp đập; ở trường hợp khác, nhà thầu coi
công tác này là việc phát sinh nên chưa chủ động thực hiện.
- Chọn giải pháp dẫn dòng thi công: Theo thống kê các giải pháp dẫn
dòng khi thi công đập đất: Vào mùa khô công trình dẫn dòng thường là kênh,
cống lấy nước; công trình tháo nước trong mùa lũ là lòng sông thu hẹp, tràn
xả lũ, một vài trường hợp kết hợp xả lũ qua tuy nen. Ở công trình miền núi,
do địa hình lòng sông hẹp dẫn đến bố trí mặt bằng khó khăn. Có trường hợp
nhà thầu thi công thay việc dẫn dòng qua kênh theo thiết kế bằng dẫn qua các
ống buy bê tông và đắp đập lên trên, dự kiến sẽ nút ống buy sau khi dòng
chảy được dẫn qua cống. Đây là sai lầm khó khắc phục vì sau một thời gian,
do tiếp xúc với dòng chảy làm đất trong thân đập 2 bên cống bão hòa và phần
nào bị nước cuốn trôi; khi hoành triệt ống dẫn dòng chỉ làm chặt được 2 đầu,
phần nằm trong thân đập vẫn bị rỗng làm tập trung dòng thấm, khi hồ dâng
nước dễ gây mất an toàn đập. Giải pháp khắc phục có thể là khoan phụt vữa xi
măng - sét dọc tuyến ống dẫn dòng, tốn nhiều công và vật liệu nhưng cũng
khó xử lý triệt để.
- Phân đợt đắp đập và tốc độ lên đập: Ngoài những đập khối lượng nhỏ
có thể hoàn thành trong một mùa khô khi đắp không cần phân đợt, phần lớn
bị thi công, kiểm tra bãi vật liệu, phòng thí nghiệm đến các khâu đắp đập,
kiểm tra chất lượng đất đắp, xử lý kỹ thuật, nghiệm thu chuyển giai đoạn
v,v… nên đòi hỏi có hệ thống quản lý chất lượng đáp ứng yêu cầu hồ sơ mời
thầu trước khi đắp đập. Nội dung này phải có sự tham gia và phối hợp chặt
chẽ giữa các đơn vị: chủ đầu tư, nhà thầu thi công, tư vấn giám sát, tư vấn
thiết kế (giám sát tác giả). Mỗi đơn vị thực hiện một phần nội dung trong
15
công tác quản lý chất lượng nên cần có đội ngũ cán bộ kỹ thuật đủ kinh
nghiệm phù hợp với công việc. Thực tế ở một số công trường, công tác này
vẫn còn vài tồn tại như sau:
- Nhân sự của đơn vị tư vấn giám sát chưa đáp ứng yêu cầu theo hồ sơ
mời thầu, thiếu kỹ sư địa chất hoặc cán bộ giám sát thiếu kinh nghiệm trong
thi công đập nên đôi khi bị động trong việc xử lý kỹ thuật hiện trường;
- Phòng thí nghiệm hiện trường sơ sài, thiết bị thí nghiệm chưa được
kiểm định theo định kỳ; một số trường hợp thiết bị thí nghiệm và các phép thử
đưa vào công trường nhưng chưa có sự chấp thuận của chủ đầu tư;
- Giám sát tác giả thường là cán bộ chưa có nhiều kinh nghiệm và không
phải chủ nhiệm thiết kế, dẫn đến việc phát hiện những bất hợp lý trong hồ sơ
thiết kế so với thực tế hiện trường chưa kịp thời.
1.2.4. Quản lý, vận hành, bảo trì
Mặc dù Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản, quy định trách nhiệm
quản lý, khai thác và bảo vệ công trình thủy lợi thủy điện nói chung và các hồ
đập nói riêng, nhưng nói chung, năng lực về quản lý, theo dõi và vận hành hồ
đập tại Việt Nam còn nhiều bất cập.
Công tác tổ chức quản lý chưa đầy đủ, kém hiệu quả và chưa được quan
tâm đúng mức. Ở các hồ chứa nước lớn và vừa do các công ty khai thác công
trình quản lý, công tác này đã được chú ý hơn nhưng so với yêu cầu đặt ra
chưa được cải thiện nhiều. Thêm vào đó, diễn biến thời tiết ngày càng bất lợi,
cộng với rừng đầu nguồn của hồ chứa bị tàn phá làm cho lượng lũ tập trung
về hồ nhanh và lớn hơn, tăng mức độ nguy hiểm cho công trình.
1.3. Những sự cố xảy ra đối với đập đất
1.3.1. Những sự xảy ra với đập đất
Các sự cố đập đất thường có các dạng sau : Sạt mái thượng, hạ lưu, hỏng
lớp bảo vệ, thấm phát triển trong nền và thân đập gây ra vỡ, tràn nước qua
đỉnh đập và bắt nguồn từ sự cố của những công trình khác. Nguyên nhân gây
17
sự cố có thể bắt nguồn từ nhiều khía cạnh, nó thể hiện từ khâu thiết kế đến thi
công và quản lý vận hành [4]. Những sự cố thường gặp như sau:
- Lũ tràn qua đỉnh đập do :
+ Tính toán thủy văn không chính xác
+ Cửa đập tràn bị kẹt
+ Lũ vượt tần suất thiết kế
+ Đỉnh đập đắp thấp hơn cao trình thiết kế
- Sạt lở mái đập ở thượng lưu:
+ Tính toán sai cấp bão
+ Biện pháp gia cố mái không đủ sức chịu sóng do bão gây ra
+ Thi công lớp gia cố kém chất lượng
+ Đất mái thượng lưu đầm nện không đủ độ chặt
- Thấm mạnh làm xói nền đập do :
+ Đánh giá sai địa chất nền đập
+ Biện pháp thiết kế xử lý nền không đảm bảo chất lượng
+ Thi công xử lý không đúng thiết kế
- Thấm và sủi nước ở vai đập do :
+ Thiết kế sai biện pháp tiếp giáp giữa đập và vai
+ Nước hồ rút nhanh
+ Thiết kế chọn sai sơ đồ tính toán ổn định, tổ hợp tải trọng
+ Địa chất nền xấu không xử lý triệt để
+ Chất lượng thi công không đảm bảo
+ Thiết bị tiêu nước thấm trong thân đập không làm việc, thiết bị tiêu
nước mưa trên mái không tốt
- Đập tràn bị hỏng do :
+ Nền bị xói làm thân đập bị gãy nứt nẻ
+ Tiêu năng bị xói do thiết kế sai
+ Hạ lưu bị xói do tiêu năng không hết
+ Cửa van bị kẹt do thiết kế gia công và lắp đặt kém, thiết bị đóng mở
hoạt động kém
19
- Cống lấy nước bị hỏng do:
+ Nền lún làm gãy cống
+ Hỏng khớp nối, nước xói ở mặt tiếp giáp giữa cống và đập
+ Cửa cống bị kẹt, cống ở quá sâu không xử lý được nhất là trong khi hồ
chứa đầy nước
+ Tiêu năng sau cống bị xói
1.3.2. Một số sự cố đập đất
1.3.2.1. Sự cố đập hồ Am Chúa – huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh
Hòa
Hồ Am Chúa được xây dựng năm 1987 và cơ bản hoàn thành vào năm
1992. Hồ có đập đất dài 330 m, cao 24.5 m, cao trình đỉnh đập 37.0 m. Sự cố
đập xảy ra vào tháng 10/1989 và tháng 10/1992: Do mưa to kéo dài, nước hồ
dâng lên nhanh đột ngột, xuất hiện nhiều lỗ rò rỉ, thấm mạnh qua thân đập.
Nguyên nhân gây ra sự cố là do chất lượng công tác thi công đắp đập. Khối