TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
* * *
HOÀNG VŨ TĨNH
ĐỀ TÀI: HOÀN THIỆN VIỆC ÁP DỤNG HỆ THỐNG KIỂM
SOÁT NỘI BỘ NHẰM TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ HÀNG
TỒN KHO TẠI TỔNG CÔNG TY VIỄN THÔNG QUÂN ĐỘI
VIETTEL
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH DOANH VÀ QUẢN LÝ
Hà Nội, Năm 2011
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
* * *
HOÀNG VŨ TĨNH
ĐỀ TÀI: HOÀN THIỆN VIỆC ÁP DỤNG HỆ THỐNG KIỂM
SOÁT NỘI BỘ NHẰM TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ HÀNG
TỒN KHO TẠI TỔNG CÔNG TY VIỄN THÔNG QUÂN ĐỘI
VIETTEL
Chuyên ngành: Kế toán
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH DOANH VÀ QUẢN LÝ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : PGS. TS. LÊ THỊ HOÀ
Hà Nội, Năm 2011
MỤC LỤC
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng biểu, sơ đồ
Tóm tắt luận văn
LỜI MỞ ĐẦU
KẾT LUẬN
Phụ lục
Tài liệu tham khảo
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
VIETTEL Tập đoàn Viễn thông Quân đội VIETTEL
IFAC Liên đoàn kế toán quốc tế
Hà Nội, Năm 2011
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Hàng tồn kho là một yếu tố quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh
của một doanh nghiệp, chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng tài sản của doanh nghiệp.
Cung cấp vật tư đầy đủ đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra một cách
liên tục, sử dụng vật tư tiết kiệm nhằm tiết kiệm chi phí sản xuất kinh doanh, hạ giá
thành sản phẩm, xây dựng định mức sử dụng vật tư hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả
sử dụng vốn lưu động… là những yêu cầu cơ bản của công tác quản lý vật tư, hàng
hoá tại doanh nghiệp. Để thực hiện được các mục tiêu quản lý trên, các nhà quản lý
doanh nghiệp cần sử dụng các nguồn thông tin nội bộ cũng như bên ngoài doanh
nghiệp để có những quyết định hợp lý. Hệ thống kiểm soát nội bộ của doanh nghiệp
là một trong những kênh thông tin cần thiết cho các quyết định của nhà quản lý.
Việc kiểm soát nội bộ đối với hàng tồn kho trên thực tế tại một số đơn vị, tuy
nhiên, vẫn chưa thực sự đáp ứng được yêu cầu cung cấp thông tin phục vụ cho quản
lý, thậm chí có trường hợp gây tổn thất hàng tồn kho do hệ thống kiểm soát nội bộ
yếu kém.
Với tính đa dạng và phức tạp của các loại vật tư, hàng hoá về chủng loại, mẫu
mã, kích thước được sử dụng như yếu tố cơ bản trong quá trình sản xuất kinh
doanh, cung cấp dịch vụ và hoạt động của đơn vị, chiếm tỷ lệ khá cao trong toàn bộ
chi phí sản xuất kinh doanh của toàn bộ chi phí sản xuất kinh doanh, việc quản lý
vật tư, hàng hoá một cách chặt chẽ là một yêu cầu bắt buộc đối với VIETTEL. Do
vậy, việc nghiên cứu nhằm hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ nhằm tăng cường
quản lý hàng tồn kho tại VIETTEL là vấn đề có tính cấp thiết và có ý nghĩa về lý
luận và thực tiễn.
Về mặt khoa học, luận văn sẽ hệ thống hoá những vấn đề lý luận về hệ thống
kiểm soát nội bộ đối với vật tư, hàng hoá trong các doanh nghiệp sản xuất, kinh
doanh dịch vụ.
Về mặt thực tiễn, trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng quản lý hàng tồn
kho tại các đơn vị thành viên trực thuộc VIETTEL, luận văn sẽ đưa ra phương
hướng và giải pháp hoàn thiện, nâng cao năng lực quản lý hàng tồn kho của
nghiệp đối với các quy trình thu mua, vận chuyển, nhận hàng, lưu kho, phế liệu và
xử lý vật tư dư thừa.
Kiểm soát nội bộ giúp các nhà quản trị quản lý hữu hiệu và hiệu quả hơn các
nguồn lực kinh tế, góp phần hạn chế tối đa những rủi ro phát sinh trong quá trình
sản xuất kinh doanh. Trong đó hàng tồn kho luôn là trung tâm của sự chú ý trong
doanh nghiệp. Hàng tồn kho thường chiếm tỉ trọng lớn, số lượng nghiệp vụ nhập
xuất lớn, hàng tồn kho lại được cất trữ ở nhiều nơi và việc xác định tình trạng của
hàng tồn kho là một công việc khó khăn nên dễ phát sinh ra các gian lận và sai sót.
ii
Với mục đích làm rõ thực trạng vận dụng hệ thống kiểm soát nội bộ trong
quản lý hàng tồn kho tại VIETTEL cũng như nêu lên những ưu điểm và tồn tại, ở
Chương 2 tác giả trình bày các nội dung sau:
Thứ nhất, tổng quan chung về Tập đoàn Viễn thông Quân đội VIETTEL cũng
như quá trình hình thành và phát triển của VIETTEL;
Thứ hai, tổng quan về hệ thống kiểm soát nội bộ của VIETTEL;
Thứ ba, đặc điểm và yêu cầu quản lý hàng tồn kho của VIETTEL;
Thứ tư, thực trạng áp dụng hệ thống kiểm soát nội bộ đối với việc tăng cường
quản lý hàng tồn kho tại VIETTEL.
Tại nội dung “Tổng quan về hệ thống kiểm soát nội bộ của VIETTEL”, tác giả
đã làm rõ đặc điểm của các yếu tố trong hệ thống kiểm soát nội bộ của VIETTEL,
cụ thể:
Môi trường kiểm soát
VIETTEL luôn coi con người là chủ thể để phát triển, do vậy mà nét văn hoá
tổ chức được xây dựng có tính hướng ngoại với quan điểm cá thể con người với con
người (VIETTEL với khách hàng) nên khách hàng là đối tượng được trân trọng, sẵn
sàng phục vụ, đáp ứng các dịch vụ tốt nhất. Mặt khác, luôn coi trọng nhân viên
Công ty mẹ - Tập đoàn Viễn thông Quân đội với tình cảm chân thành, tạo điều kiện,
khuyến khích, hỗ trợ phát huy khả năng, năng lực, quan tâm đến chính sách đào tạo,
đề cao ý kiến của từng cá nhân, con người trong sự phát triển của Công ty mẹ - Tập
đoàn Viễn thông Quân đội và chăm lo đến đời sống tinh thần, vật chất cho cán bộ
bàn bạc và lắng nghe ý kiến tư vấn của Phòng Tài chính kế toán. Nhờ đó lãnh đạo
của VIETTEL không những nắm được tình hình tài chính của công ty mà còn kịp
thời đưa ra các chủ chương, phương hướng hành động hợp lý.
Cơ cấu tổ chức
Cơ cấu tổ chức của VIETTEL cơ cấu tổ chức phân quyền. Cơ cấu này phù hợp
với quy mô phát triển rộng của VIETTEL. Chức năng và nhiệm vụ được phân tách
rõ ràng đến từng vị trí trên cơ sở đánh giá năng lực thực tế và trình độ chuyên môn,
đạo đức của mỗi nhân viên. Quan hệ báo cáo giữa các cấp tương đối rõ ràng, như
vậy sẽ giúp ích cho mối quan hệ hợp tác, phối hợp và chia sẻ thông tin lẫn nhau
giữa những bộ phận khác nhau và những nhân viên trong cùng một phòng ban và
giữa cấp dưới với cấp trên. Sự phân công công việc, trách nhiệm và yêu cầu đối với
từng vị trí cũng được thể hiện rõ trong quy chế cán bộ của VIETTEL.
Chính sách nhân sự
VIETTEL luôn quan tâm đến chính sách đào tạo và trọng dụng nhân tài, đặc
biệt luôn đề cao vai trò của từng cá nhân, con người trong sự phát triển của
VIETTEL. VIETTEL luôn coi con người là chủ thể để phát triển, do vậy mà nét văn
hoá tổ chức được xây dựng có tính hướng ngoại với quan điểm cá thể con người với
con người (VIETTEL với khách hàng) nên khách hàng là đối tượng được trân trọng,
iv
sẵn sàng phục vụ, đáp ứng các dịch vụ tốt nhất. Điều này xác định tính hướng nội
của chính sách nhân sự của VIETTEL.
Thông tin và truyền thông
VIETTEL được tổ chức theo mô hình công ty đa ngành có quy mô lớn, cơ cấu
kinh doanh phức tạp, có các công ty trực thuộc, các văn phòng chi nhánh, đại lý
khắp trên cả nước và nước ngoài, do đó yêu cầu đặt ra với Tổng giám đốc và kế
toán trưởng là phải tổ chức công tác kế toán một cách khoa học, phù hợp với đặc
điểm tổ chức quản lý và kinh doanh của công ty. Ban lãnh đạo công ty phải phân
cấp kinh doanh, phân cấp trong quyền hành quản lý dẫn đến phải phân cấp tổ chức
kế toán.
Mô hình kế toán mà VIETTEL đang áp dụng là mô hình kế toán phân tán gồm
với quy mô phát triển rộng của VIETTEL. Tuy nhiên, đối với mỗi vị trí làm việc,
VIETTEL chưa xây dựng các “Bảng mô tả công việc chi tiết”. Bảng mô tả công
việc quy định rõ yêu cầu về kiến thức và chất lượng nhân sự cho từng vị trí trong tổ
chức giúp đảm bảo công tác quản lý (từ khâu lập kế hoạch, tổ chức, quản lý nhân
sự, lãnh đạo và kiểm soát) được triển khai chính xác, kịp thời, hiệu quả. Như thế có
thể tránh được các lỗi vô ý hoặc sai sót cố ý và đùn đẩy trách nhiệm khi có sự cố
xảy ra.
Do sự phát triển quá nhanh của hệ thống các cửa hàng, siêu thị trên 64 tỉnh
thành cùng với đó là nhu cầu về nhân sự quá lớn dẫn đến quá trình tuyển dụng
không đủ số lượng cho việc phân chia trách nhiệm cũng như chất lượng của nhân sự
tại các vị trí thường không đảm bảo yêu cầu. Do việc phân công phân nhiệm không
rõ ràng nên ai cũng có thể tiếp xúc với tài sản và sổ sách kế toán của chi nhánh, cửa
hàng. Do vi phạm nguyên tắc bất kiêm nhiệm đó nên việc bảo vệ tài sản và sổ sách
kế toán không chặt chẽ.
Điểm yếu của việc đánh giá rủi ro tại VIETTEL
Việc phân tích rủi ro đã được VIETTEL quan tâm ở một mức độ nhất định.
Tuy nhiên, do các yếu tố rủi ro trong doanh nghiệp có thể phát sinh và tác động ở
nhiều phạm vi và nhiều mức độ khác nhau nên việc nhận dạng và phân tích rủi ro
cần được vận dụng ở các cấp độ quản lý khác nhau. Qua khảo sát tại VIETTEL cho
thấy VIETTEL chưa thiết lập được một bộ phận chuyên trách thực hiện nhiệm vụ
nhận dạng và phân tích rủi ro để kịp thời cung cấp cho ban lãnh đạo có những cơ sở
ra quyết định thích hợp.
Điểm yếu hoạt động giám sát và đánh giá tại VIETTEL
Tại VIETTEL, chức năng giám sát và đánh giá định kỳ đang được thực hiện
bởi các phòng ban mang tính chất kiêm nhiệm mà chưa thành lập thành một bộ
phận “Kiểm toán nội bộ” hoạt động độc lập với các bộ phận khác. Do vậy, việc
đánh giá định kì chưa được thực hiện thông qua chức năng kiểm toán nội bộ. Việc
phát hiện kịp thời những yếu kém trong hệ thống và đưa ra biện pháp hoàn thiện
vi
cung như đánh giá phạm vi và tần suất giám sát độc lập. Khả năng xảy ra rủi ro sẽ
Hiện nay tại chi nhánh do có nhiều nguồn nhập vật tư như nhập của Tổng công
ty, nhập của công ty Viettel Telecom, công ty công trình, công ty truyền dẫn và cả
vii
những vật tư phụ chi nhánh được phân cấp mua. Nhưng trên sổ sách của kế toán
(phần mềm tài chính chỉ có “kho vật tư chi nhánh “) chỉ mới phản ánh chung vật tư
cho tất cả các nguồn đó dẫn đến sự trùng chéo, khó xác định được vật tư nào của
nhà cung cấp nào, giá trị bao nhiêu. Trong khi đó việc nhận nợ vật tư và giá trị chỉ
diễn ra với Công ty Viettel Telecom, hay việc hoàn trả chứng từ với Tổng công ty
và các công ty khác do khi xuất kho vào công trình, dự án đã được hạch toán (TK
2412) tại Tổng công ty và các công ty.
Những điểm yếu trong quy trình lưu kho
Thiết kế các thủ tục kiểm soát
Việc áp dụng các thủ tục kiểm soát nhập kho, xuất kho tại các chi nhánh
VIETTEL vẫn còn một số những tồn tại như sau. Thứ nhất, thiết kế các thủ tục
kiểm soát quy trình lưu kho, thứ hai, thực hiện các thủ tục kiểm soát. Các điểm yếu
trong thiết kế các thủ tục kiểm soát của quy trình lưu kho bao gồm thiết kế thủ tục:
phân quyền truy cập phần mềm, thủ tục theo dõi hàng hỏng, thủ tục kiểm soát hàng
xuất bán qua các kênh bán hàng…
Chưa phân quyền truy cập các giao dịch tại cửa hàng VIETTEL
Theo phân quyền trên phần mềm hiện tại cho phép nhân viên giao dịch được
được quyền hủy giao dịch, hủy hóa đơn. Có một số trường hợp ngày hôm trước
CHT và NVGD đã chốt hàng, ngày hôm sau NVGD lại hủy giao dịch, hủy hóa đơn
dẫn đến: Hàng hóa trên sổ, thẻ kho chênh lệch với hàng tồn trên hệ thống; doanh
thu thu giữa các ca không đúng với thực tế (hủy nhầm phải tạo lại giao dịch); mất
thời gian kiểm kê, đối chiếu chi tiết cuối tháng để tìm ra chênh lệch.
Sổ theo dõi tại các cửa hàng VIETTEL chưa khoa học và thuận tiện cho quản
lý
Tại các cửa hàng việc mở và ghi chép sổ quản lý giao hàng cho CTV, NVQL
điểm bán chưa có hướng dẫn cụ thể. Do vậy cách thực hiện ở các Cửa hàng rất khác
nhau. Một số Cửa hàng mở sổ tập hợp tất cả phiếu nhập hàng, mở sổ ký nhận giao
Đối với kênh bán qua NV bán hàng trực tiếp
Nhân viên bán hàng trực tiếp nhận hàng từ thủ kho của Trung tâm. Cách thức
kiểm soát việc báo cáo kịp thời doanh thu và nộp tiền ở các Trung tâm tương đối
đồng nhất. Phần lớn đều yêu cầu báo cáo kết quả bán hàng theo tuần. Tuy nhiên vẫn
chưa sử dụng thông tin từ các phần mềm theo dõi đấu nối để kiểm tra thường xuyên
doanh thu của hàng hóa phải đấu nồi. Biện pháp kiểm soát duy nhất đối với hàng
hóa không phải đấu nối là kiểm kê đột xuất, có trung tâm áp dụng chính sách chỉ
xuất tiếp hàng hóa khi nhân viên đã nộp đủ tiền hàng xuất đợt trước.
Hàng hóa bán theo kênh CTV ở là các mặt hàng Sim trả sau, AP và
Homephone (chỉ hàng đấu nối). Việc quản lý doanh thu, tiền hàng và hàng hóa phụ
thuộc phần lớn và khả năng quản lý của Cửa hàng trưởng, người QLCTV. Đối với
ix
hàng phải đấu nối, thông thường sẽ phải đấu nối trong vòng 24 giờ trên cơ sở hồ sơ
khách hàng đã nộp. Trên thực tế CTV có thể gọi điện cho CHT để đấu nối ngay,
CHT sẽ ghi lại để theo dõi việc hoàn trả hồ sơ của CTV.
Thực hiện các thủ tục kiểm soát
Không sử dụng thẻ kho:
Thủ kho tại chi nhánh không sử dụng thẻ kho để theo dõi cập nhật thường
xuyên trong ngày hàng thực tế nhập, xuất hàng ra vào kho mà căn cứ vào phiếu
nhập xuất kho cuối tháng mà bộ phận kế toán chuyển cho thủ kho để nhập lại vào
thẻ kho sau đó đối chiếu với kế toán và kiểm kê thực tế tại kho. Do vậy, không đảm
bảo cơ sở đối chiếu trên hai hệ thống kho và kế toán theo phương pháp ghi sổ song
song.
Chưa thường xuyên đối chiếu số liệu
Công tác đối chiếu báo nợ vật tư giữa Tổng công ty và Công ty, Công ty và chi
nhánh diễn ra rất chậm, cũng như việc báo cáo tình hình nhận và sử dụng vật tư tại
chi nhánh lên cấp trên không thường xuyên từ đó không phản ánh được tình hình
biến động vật tư tại chi nhánh.
Hàng tháng, quý kế toán chưa thực hiện việc in sổ sách liên quan tới vật tư như
Bảng cân đối nhập xuất tồn, sổ chi tiết vật tư trong khi đó chưa có sự đối chiếu, đối
phải được thể hiện rõ ràng và đảm bảo được truyền đạt rộng rãi trong nội bộ công
ty; thực hiện sự phân định trách nhiệm và quyền hạn rõ ràng. Bảng mô tả công việc
quy định rõ yêu cầu về kiến thức và chất lượng nhân sự cho từng vị trí trong tổ chức
giúp đảm bảo công tác quản lý (từ khâu lập kế hoạch, tổ chức, quản lý nhân sự, lãnh
đạo và kiểm soát) được triển khai chính xác, kịp thời, hiệu quả. Như thế có thể tránh
được các lỗi vô ý hoặc sai sót cố ý và đùn đẩy trách nhiệm khi có sự cố xảy ra.
Xây dựng và vận hành bộ phận Quản lý rủi ro tại VIETTEL
Những biến động kinh tế những năm gần đây cho thấy những thất bại của hệ
thống quản lý rủi ro và quản trị rủi ro là hai nhân tố chính làm tổn thất giá trị của
doanh nghiệp đối với các cổ đông, chủ nợ và các chủ thể liên quan. Bởi vậy, việc
chấp nhận rủi ro là một phần quan trọng của hoạt động kinh doanh, trong đó trách
nhiệm của Ban lãnh đạo là đặc biệt quan trọng nhằm thiết lập và thực hiện tốt hệ
thống quản lý rủi ro. Nếu quản lý rủi ro hiệu quả, VIETTEL có thể làm tăng đòn
bẩy hoạt động và tăng dòng tiền, qua đó hỗ trợ tích cực cho hoạt động của mình.
Bên cạnh đó, việc quản lý rủi ro tốt cũng giúp cho tăng cường hiệu quả trong việc
thiết kế và vận hành các thủ tục kiểm soát nội bộ.
Để đạt mục tiêu này, VIETTEL nên thành lập bộ phận “Quản lý rủi ro” chuyên
biệt. việc thành lập một bộ phận chuyên trách như vậy giúp cho việc quản lý rủi ro,
đặc biệt là khai thác khía cạnh tích cực của các yếu tố rủi ro thường xuyên hơn, hiệu
quả hơn. Để đạt được điều đó, VIETTEL cần làm rõ trách nhiệm của bộ phận này,
xi
cũng như quy chế báo cáo, hoạt động, tiêu chuẩn các thành viên tham gia bộ phận
quản lý rủi ro.
Xây dựng và vận hành bộ máy kiểm toán nội bộ tại VIETTEL
Qua việc khảo sát tại VIETTEL cho thấy việc xây dựng bổ sung một mô hình
kiếm soát nội bộ tại VIETTEL là thực sự cần thiết. Hoạt động của bộ máy kiểm
toán nội bộ sẽ giúp cho VIETTEL đạt được các mục tiêu: Thẩm tra thông tin tài
chính và thông tin nghiệp vụ; Thẩm tra việc tuân thủ chính sách, kế hoạch, thủ tục,
pháp luật và các quy định; Thẩm tra các biện pháp bảo vệ tài sản và sự tồn tại của
các tài sản đó; Sử dụng các nguồn lực tiết kiệm và có hiệu quả.
Theo phân quyền trên phần mềm hiện tại cho phép nhân viên giao dịch được
được quyền hủy giao dịch, hủy hóa đơn dẫn đến doanh thu thu giữa các ca không
đúng với thực tế (hủy nhầm phải tạo lại giao dịch) và mất thời gian kiểm kê, đối
chiếu chi tiết cuối tháng để tìm ra chênh lệch. Để khắc phục điểm yếu này,
VIETTEL cần thực hiện rà soát việc phân quyền truy cập hệ thống tại tất cả các chi
nhánh, cửa hàng VIETTEL. Theo đó, việc thực hiện các lệnh hủy giao dịch, hủy
hóa đơn phải được thực hiện bởi CHT. Các NVGD chỉ được thực hiện các giao dịch
khi được sự cho phép của CHT.
Theo dõi hàng hỏng
Do số lượng hàng hỏng phát sinh tại các chi nhánh rất lớn nhưng VIETTEL
vẫn chưa có hướng dẫn cho các chi nhánh VIETTEL.
Đối với số lượng hàng bảo hành xuất cho Cửa hàng để đổi hàng hỏng cho
khách hàng đề nghị Chi nhánh yêu cầu thủ kho lập Phiếu xuất kho, Cửa hàng lập
phiếu nhập kho và ghi nhận trên sổ sách của Cửa hàng như hàng hóa thông thường
để tránh tình trạng bị mất hàng hóa (khi kiểm kê thực tế tại Cửa hàng thì những
hàng bảo hành đã chuyển cho Cộng tác viên để lắp cho khách hàng).
Bên cạnh đó, cần phải quy định khi hàng chuyển từ các cửa hàng về cho
phòng chăm sóc khách hàng tại chi nhánh thì phòng chăm sóc khách hàng phải
chuyển ngay bảng kê chi tiết cho phòng kế toán. Đồng thời quy định rõ phòng chăm
sóc khách hàng sẽ chịu trách nhiệm về giảm trừ hàng hỏng.
Xuất hàng bán qua các kênh bán hàng
Đối với hàng hóa như kit, thẻ cào là những hàng hóa không thể kiểm soát qua
đấu nối, có khả năng ghi nhận doanh thu và thu tiền chậm hơn thực tế do nhân viên
đã bán hàng, đã thu tiền từ điểm bán nhưng chưa nộp tiền cho Cửa hàng. Do vậy, để
kiểm soát việc bán hàng và thu tiền trong ngày, VIETTEL cần phải lập ra quy định
kiểm tra thường sử dụng là, đối chiếu kiểm kê hàng đột xuất & kiểm tra các dịch vụ
phải đấu nối và đối chiếu với số tiền đã nộp. Bên cạnh đó, CHT và NH hỗ trợ điểm
bán phải đối chiếu hàng hóa vào cuối tháng. Chỉ đối chiếu trên tổng số lượng hàng
mỗi loại và ký trên sổ Giao hàng của CHT cho NV hỗ trợ điểm bán và phải lập Biên
xiii
theo SERI đối với từng USER đồng thời đầu tư thiết bị kiểm đếm SERI theo mã
vạch. Như vậy sẽ đảm bảo giảm thời gian bàn giao cũng như tính chính xác của việc
kiểm kê bàn giao.
xiv
Xây dựng và vận hành hệ thống sổ sách, báo cáo tại các cửa hàng
Tại các cửa hàng việc mở và ghi chép sổ quản lý giao hàng cho CTV, NVQL
điểm bán chưa có hướng dẫn cụ thể. VIETTEL cần phải thống nhất mẫu biểu các
loại sổ theo dõi tại cửa hàng VIETTEL.
xv
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN
* * *
HOÀNG VŨ TĨNH
ĐỀ TÀI: HOÀN THIỆN VIỆC ÁP DỤNG HỆ THỐNG KIỂM
SOÁT NỘI BỘ NHẰM TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ HÀNG
TỒN KHO TẠI TỔNG CÔNG TY VIỄN THÔNG QUÂN ĐỘI
VIETTEL
Chuyên ngành: Kế toán
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH DOANH VÀ QUẢN LÝ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC : PGS. TS. LÊ THỊ HOÀ
Hà Nội, Năm 2011
LỜI MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của Đề tài
Hàng tồn kho là một yếu tố quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh
của một doanh nghiệp, chiếm một tỷ trọng lớn trong tổng tài sản của doanh nghiệp.
Cung cấp vật tư đầy đủ đảm bảo cho quá trình sản xuất kinh doanh diễn ra một cách
liên tục, sử dụng vật tư tiết kiệm nhằm tiết kiệm chi phí sản xuất kinh doanh, hạ giá
thành sản phẩm, xây dựng định mức sử dụng vật tư hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả
sử dụng vốn lưu động… là những yêu cầu cơ bản của công tác quản lý vật tư, hàng
hoá tại doanh nghiệp. Để thực hiện được các mục tiêu quản lý trên, các nhà quản lý
doanh nghiệp cần sử dụng các nguồn thông tin nội bộ cũng như bên ngoài doanh
phương pháp thống kê, so sánh kết hợp với phương pháp tổng hợp, phân tích tình
hình thực tiễn, khảo sát thu thập tài liệu tại VIETTEL.
5. Những đóng góp của Đề tài
Về mặt khoa học, luận văn sẽ hệ thống hoá những vấn đề lý luận về hệ thống
kiểm soát nội bộ đối với vật tư, hàng hoá trong các doanh nghiệp sản xuất, kinh
doanh dịch vụ.
Về mặt thực tiễn, trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng quản lý hàng tồn
kho tại các đơn vị thành viên trực thuộc VIETTEL, luận văn sẽ đưa ra phương
hướng và giải pháp hoàn thiện, nâng cao năng lực quản lý hàng tồn kho của
VIETTEL cũng như các doanh nghiệp kinh doanh viễn thông.
6. Bố cục của Luận văn
Ngoài Lời mở đầu và Kết luận, Luận văn gồm 3 chương cơ bản:
Chương 1: Tổng quan về hệ thống kiểm soát nội bộ và áp dụng trong quản lý
hàng tồn kho;
Chương 2: Thực trạng áp dụng hệ thống kiểm soát nội bộ trong quản lý hàng
tồn kho tại VIETTEL;
Chương 3: Giải pháp hoàn thiện việc áp dụng hệ thống kiểm soát nội bộ nhằm
tăng cường quản lý hàng tồn kho tại VIETTEL.
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VỀ HỆ THỐNG KIỂM SOÁT NỘI BỘ
VÀ ÁP DỤNG TRONG QUẢN LÝ HÀNG TỒN KHO
1.1. Khái quát chung về hệ thống kiểm soát nội bộ
1.1.1. Khái niệm hệ thống kiểm soát nội bộ
Mọi hoạt động trong đó có hoạt động kiểm soát xuất hiện trong thực tế đều là
kết quả của nhu cầu nảy sinh khi một người bất kỳ ngồi lại và kiểm tra cái anh ta đã
làm. Khi đó, anh ta tự hỏi mình đã làm một việc như thế nào và nếu lại làm việc đó
thì có thể làm tốt hơn ra sao. Khi có một người thứ hai liên quan đến nữa, chức năng
đó được mở rộng thêm ra vì có thẩm tra hoạt động của người thứ hai đó. Trong một
doanh nghiệp, khối lượng các nghiệp vụ nhiều và phức tạp nên người chủ sở hữu
hay người quản lý cấp cao thực tế không dễ dàng tiếp xúc với các nghiệp vụ đó để
kiểm tra hiệu quả của các hoạt động một cách vừa ý được.