sử dụng đồ dùng trực quan vào dạy học kể chuyện cho học sinh lớp 5 trường tiểu học 146 huyện mộc châu sơn la - Pdf 22

CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT HS : Học sinh
GV : Giáo viên
TH : Tiểu học
HSTH : Học sinh tiểu học
GVTH : Giáo viên tiểu học
SGK : Sách giáo khoa
SGV : Sách giáo viên
TBDH : Thiết bị dạy học MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu 3
3. Mục đích nghiên cứu 4
4. Nhiệm vụ nghiên cứu 5
5. Phương pháp nghiên cứu 5
5.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận 5
5.2. Phương pháp quan sát sư phạm 5
6. Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu 5
6.1. Đối tượng nghiên cứu 5
6.2. Phạm vi nghiên cứu 5
7. Cấu trúc đề tài 6
8. Giả thuyết khoa học và đóng góp của đề tài 6
NỘI DUNG 7
CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 7
1.1. Cơ sở lý luận 7

3.4. Nội dung thể nghiệm 42
3.5. Kết quả thể nghiệm 43
KẾT LUẬN 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC 1
MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài
1. Xuất phát từ mục tiêu giáo dục đào tạo ở bậc tiểu học cơ sở, đặc biệt
theo tinh thần Nghị quyết TW2 khóa 8 đào tạo những học sinh thành những con
người năng động, sáng tạo, tiếp thu được những tri thức khoa học, công nghệ
hiện đại vận dụng vào thực tiễn cuộc sống phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước. Các bộ môn nói chung và môn Tiếng Việt nói riêng cần phải thực
hiện đổi mới chương trình, nội dung phương pháp và những phương tiện phục
vụ cho dạy học, nhằm nâng cao chất lượng dạy học. Uyliam BatơDit từng nói:
“Nhà giáo không phải là người nhồi nhét kiến thức, mà đó là công việc của
người khơi dậy ngọn lửa cho tâm hồn”. Trước đây, một giờ dạy học được xem
như là một buổi “biểu diễn nghệ thuật” của giáo viên. Vai trò chủ thể của học
sinh chưa được phát huy, các đồ dùng dạy học minh họa cho bài học còn hạn
chế. Học sinh là người bị động tiếp thu kiến thức còn giáo viên đóng vai trò chủ
thể của hoạt động dạy - học với nhiệm vụ là truyền thụ kiến thức. Hiện nay, với
sự đổi mới trong dạy - học thì vai trò chủ thể của học sinh đã được phát huy.
Giờ dạy - học không còn là “buổi biểu diễn nghệ thuật” của giáo viên nữa và

đặc biệt trong hoạt động giao tiếp. Vì truyện là một tác phẩm văn học nên kể
chuyện có sức mạnh của cả văn học. Truyện có khả năng bồi dưỡng tâm hồn trẻ
thơ. Sự hiểu biết về cuộc sống, con người, tâm hồn, tình cảm của các em sẽ
nghèo đi biết bao nhiêu nếu không có môn Kể chuyện trong trường học. Phân
môn Kể chuyện có nhiệm vụ đáp ứng nhu cầu được nghe kể chuyện ở trẻ em,
phát triển ngôn ngữ đặc biệt là kỹ năng nghe - nói, đồng thời phát triển tư duy
và bồi dưỡng tâm hồn, làm giàu vốn sống, vốn văn học cho học sinh.
Môn Tiếng Việt trong chương trình tiểu học có nhiệm vụ hoàn thành năng
lực hoạt động ngôn ngữ cho học sinh. Năng lực hoạt động ngôn ngữ được thể hiện
trong 4 dạng hoạt động, tương ứng với bốn kỹ năng: nghe, nói, đọc, viết. Từ đó,
các em có thể học tập và giao tiếp trong môi trường học tập, lứa tuổi và giúp học
sinh có cơ sở để tiếp thu kiến thức ở các bậc học trên.
3
Trong các phân môn Tiếng Việt (Tập đọc, Học vần, Tập viết, Chính tả,
Kể chuyện, Tập làm văn, Luyện từ và câu) mỗi phân môn chứa đựng một bộ
phận kiến thức nhất định, chúng bổ trợ cho nhau để học sinh học tốt môn Tiếng
Việt. Trong đó phân môn Kể chuyện giúp học sinh nhận thức thế giới xung
quanh, hình thành những khái niệm và mở rộng kinh nghiệm sống cho các em.
Qua các câu chuyện giúp học sinh xác lập một thái độ đối với các hiện tượng
của đời sống xung quanh, trẻ em không chỉ có nhận thức mà còn đáp ứng lại sự
kiện và hiện tượng của thế giới xung quanh, tỏ thái độ của mình với các điều
thiện, điều ác. Truyện cung cấp những biểu tượng đầu tiên về chính nghĩa và phi
nghĩa. Giai đoạn đầu tiên của giáo dục lí tưởng cũng diễn ra nhờ những câu
chuyện. Đặc biệt những câu chuyện cổ tích là ngọn nguồn phong phú và không
gì thay thế được để giáo dục tình yêu tổ quốc, con người. Xuất phát từ mục đích
nâng cao chất lượng dạy và học môn tiếng Việt nói chung và phân môn Kể
chuyện nói riêng, em mạnh dạn tìm hiểu nghiên cứu đề tài: “Sử dụng đồ dùng
trực quan vào dạy học kể chuyện cho học sinh lớp 5 Trường Tiểu học 14/6
Huyện Mộc Châu - Sơn La” giúp cho học sinh phát huy được tính tích cực, chủ
động, sáng tạo trong việc nhận thức, góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả

học kể chuyện.
Cuốn “Dạy học kể chuyện ở trường tiểu học” (Chu Huy) đã nêu ra vị trí,
nhiệm vụ và vai trò của phân môn Kể chuyện trong trường tiểu học. Cuốn sách
còn đưa ra một số cách thức tổ chức dạy học kể chuyện ở tiểu học.
Trong quá trình tìm hiểu về các biện pháp dạy học, em thấy rằng: Tìm hiểu
và nghiên cứu về các phương pháp dạy học ứng dụng các đồ dùng dạy học thì đã
có nhiều, tuy nhiên trong phân môn Kể chuyện ứng dụng các thiết bị dạy học và
cụ thể hơn là đồ dùng trực quan thì đến nay vẫn chưa có một công trình nghiên
cứu nào. Qua việc tìm hiểu cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của việc dạy học
phân môn Kể chuyện, cụ thể Kể chuyện lớp 5 là những cơ sở để em lựa chọn đề
tài nghiên cứu
3. Mục đích nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu cơ sở lí luận cũng như cở sở thực tiễn thông qua việc tìm
hiểu về chương trình sách giáo khoa, quan niệm đổi mới dạy học về phân môn
5
Kể chuyện lớp 5 ở tiểu học hiện nay, về thực trạng dạy và học phân môn Kể
chuyện của học sinh lớp 5 trường Tiểu học 14/6 Huyện Mộc Châu – Sơn La.
Nhằm đề xuất các biện pháp dạy học và thể nghiệm các biện pháp dạy học
đó để khẳng định tính khả thi kết quả nghiên cứu của đề tài, góp phần nâng cao
chất lượng dạy học môn Kể chuyện ở nhà trường tiểu học
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lý luận.
- Nghiên cứu cơ sở thực tiễn.
- Đề xuất biện pháp dạy học.
- Vận dụng các biện pháp được đề xuất đó vào dạy thể nghiệm.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp nghiên cứu lý luận
- Đọc tài liệu liên quan đến đề tài.
- Nghiên cứu nội dung kể chuyện trong chương trình sách giáo khoa tiếng
Việt lớp 5.

Đề tài là tài liệu cho sinh viên khoa Tiểu học - Mầm non trường Đại học
Tây Bắc trong quá trình học tập, nghiên cứu, rèn luyện nghiệp vụ sư phạm.
Nếu đề tài nghiên cứu thành công sẽ góp phần nâng cao chất lượng, hiệu
quả giảng dạy phân môn kể chuyện cho học sinh lớp 5 trường Tiểu học 14/6
Huyện Mộc Châu - Sơn La.
Đồng thời đề tài sẽ là tài liệu tham khảo cho sinh viên Khoa Tiểu học -
Mầm non trường Đại học Tây Bắc trong quá trình học tập, rèn luyện nghiệp vụ
sư phạm và ra trường công tác sau này. 7
CHƢƠNG 1:
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Vai trò, tầm quan trọng của phân môn Kể chuyện đối với học
sinh tiểu học
Như chúng ta đã biết, kể chuyện là môn học mang tính tổng hợp. Nó dựa
trên kết quả nghiên cứu của nhiều khoa học khác nhau như: Tâm lý học, ngôn
ngữ học, lý luận văn học…
Đối với học sinh tiểu học phân môn Kể chuyện có một vị trí quan trọng được
xếp liền ngay sau phân môn Tập đọc, Học thuộc lòng của bộ môn Tiếng Việt.
Phân môn Kể chuyện bồi dưỡng tâm hồn, đem lại niềm vui, trau dồi vốn
sống và vốn văn học, phát triển ngôn ngữ và tư duy cho trẻ. Xuất phát từ chỗ
truyện là những sáng tác mang tính chất văn học nên tác dụng của truyện đối với
trẻ em cũng là tác dụng của văn học nói chung. Hơn bất kỳ loại hình nào khác,
truyện có khả năng bồi dưỡng tâm hồn con người đặc biệt đối với trẻ em. Suốt
những năm học ở tiểu học, nếu các em được nghe và học kể chuyện thì phân
môn kể chuyện sẽ góp phần làm cho tâm hồn các em giàu có thêm bằng biết bao
câu chuyện bổ ích và lý thú, những hình tượng quen thuộc của truyện sẽ trở

động lĩnh hội văn bản tiếp nhận được (bao gồm hành động hiểu ngôn bản, đọc
được, nghe được). Các hành động sản sinh và lĩnh hội ngôn bản đó được coi là
hành động ngôn ngữ. Trong xã hội loài người, phần lớn nhất và trọng yếu nhất
của thông tin được tàng trữ và lưu hành nhờ ngôn ngữ. Chính nhờ ngôn ngữ mà
con người có thể hiểu nhau trong quá trình sinh hoạt và lao động, có thể diễn đạt
và làm cho người khác hiểu được tư tưởng, tình cảm, trạng thái và nguyện vọng
của mình. Cũng nhờ đó, con người có thể đồng tâm hiệp lực chinh phục thiên
nhiên, chinh phục xã hội, làm cho xã hội ngày càng phát triển. Chức năng giao
tiếp của ngôn ngữ có bản chất xã hội vì nó sinh ra do nhu cầu xã hội, nó quay lại
phục vụ xã hội và trở thành động lực giúp cho xã hội phát triển. Mặt khác chính
chức năng giao tiếp được mở rộng nhờ sự phát triển của xã hội. Từ chức năng là
phương tiện giao tiếp, là công cụ tư duy quan trọng nhất của loài người, ngôn
ngữ cũng là công cụ của văn hóa, của biểu cảm thẩm mỹ. Bản sắc văn hóa của
9
mỗi dân tộc thể hiện, lưu trữ trong ngôn ngữ. Trong bộ môn Tiếng Việt thì phân
môn Kể chuyện giúp cho học sinh có thể diễn đạt ngôn ngữ của bản thân một
cách tự nhiên thông qua sự phân vai kể chuyện. Trong quá trình học tập, phân
môn Kể chuyện rèn luyện khả năng nói tiếng Việt trực tiếp giúp học sinh mạnh
dạn, tự tin bộc lộ khả năng ngôn ngữ của bản thân một cách hiệu quả, góp phần
hình thành các kỹ năng tiếng Việt một cách đầy đủ nhất.
1.1.1.2. Cơ sở văn học
Kể chuyện là một hình thức thông tin nhanh gọn, truyền cảm bằng ngôn ngữ.
Mặc dù đã có những phương tiện thông tin đại chúng hiện tại như ti vi, đài
phát thanh, rađiô catset, người ta vẫn thích nghe nói chuyện bằng miệng. Theo
định nghĩa rộng, thuật ngữ “kể chuyện” có thể bao hàm toàn bộ ngôn ngữ nói
sinh hoạt hàng ngày. Chủ tịch Hồ Chí Minh thường dạy: “Tiếng nói là thứ của
cải vô cùng lâu đời và vô cùng quý báu. Chúng ta phải biết quý trọng nó, giữ
gìn nó, phát triển nó”. Nhờ có tiếng nói và lao động con người mà thoát hẳn
khỏi đời sống động vật, vươn lên làm chủ bản thân, làm chủ xã hội, làm chủ
thiên nhiên. Bầy người nguyên thủy quây quanh đám lửa trại nướng thịt thú

lý luận và quay trở lại thực tiễn kiểm nghiệm. Từ trực quan sinh động đến tư
duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn đó là con đường nhận thức
của nhân loại. Phương tiện trực quan, kể cả ngôn ngữ lời nói sinh động làm
cho người học cảm giác, tri giác được và sự khai thác gợi mở của người dạy
thông qua quan sát các sự vật hiện tượng từ riêng lẻ đến bộ phận, học sinh sẽ
nắm bắt, nhận thức nhanh chóng.
Về cơ sở phương pháp dạy học kết hợp với trực quan sinh động: Trước hết
ta hiểu phương pháp dạy học là một hệ thống tác động liên tục của người dạy
nhằm tổ chức cho hoạt động nhận thức của học sinh để người học lĩnh hội các
thành phần của nội dung giáo dục để đạt được mục tiêu đã định.
Phương pháp dạy học quan hệ với các thành tố khác của quá trình dạy học
như mục tiêu - nội dung - phương pháp - phương tiện và người chỉ huy.
Nếu ta coi mục tiêu là cái đích cần đạt đến, nội dung cần truyền tải; phương
pháp là con đường thì phương tiện phải tốt để hoàn thành nhiệm vụ được giao.
11
Song, người “chỉ huy” đó là người dạy cần phải biết sử dụng triệt để mới có
hiệu quả. Trong thời kỳ đổi mới, giáo dục đào tạo con người toàn diện, đáp ứng
yêu cầu mới. Nội dung kiến thức có chỉnh lý cho phù hợp thì yêu cầu phương
pháp cần được đổi mới. Phương tiện phục vụ nó càng được coi trọng để nâng
cao chất lượng.
Trong hoạt động dạy và học: phương pháp - phương tiện có vị trí hết sức
quan trọng, nó là loại công cụ và công việc có tổ chức, có trật tự, hệ thống, kế
hoạch. Nó tuân theo những quy luật tâm lý: nhu cầu, hứng thú, năng lực của
người học, được coi như là công cụ hữu hiệu tiết kiệm thời gian giúp cho người
dạy và người học thuận lợi.
Các phương pháp dạy học tổ chức và thực tiễn được phân thành các nhóm
lôgíc truyền thụ và tri giác thông tin (quy nạp - suy diễn).
Nhóm theo nguồn tri thức và đặc điểm tri giác thông tin (đàm thoại - diễn
giảng trực quan, minh họa, biểu diễn, thực hành).
Nhóm theo mức độ tư duy độc lập, tích cực độc lập của học sinh (tái tạo,

học để các em có thể tiếp thu bài học một cách hiệu quả. Người giáo viên tiểu học
phải nắm được những đặc điểm này người dạy sẽ có những phương pháp, cách
thức tổ chức dạy học đạt hiệu quả tốt. Lớp 5 là lớp học cuối cấp I, ở giai đoạn này
các em đã có sự chuyển biến sâu sắc về nhận thức, hệ thống các kiến thức có trong
sách giáo khoa ít kênh hình hơn thay vào đó là hệ thống các kênh chữ. Điều đó đòi
hỏi ở các em sự nhận thức tốt hơn, tuy nhiên dù có sự thay đổi lớn đó các em vẫn
sẽ học tốt hơn nếu có các thiết bị trực quan trong các giờ dạy học.
1.1.3. Quan niệm đổi mới trong dạy học kể chuyện ở tiểu học
Trong chương trình sách giáo khoa tiếng Việt đổi mới hiện hành (năm
2000), hệ thống kiến thức vẫn không khác so với chương trình cũ nhiều nhưng
có điểm mới so với chương trình cũ đó là: Kiến thức được trình bày ở hệ thống
kênh hình nhiều hơn trước, tranh ảnh minh họa cho bài học mang đầy đủ kiến
thức chúng có chức năng minh họa cho lời giảng của giáo viên, kích thích tính
tò mò ham học hỏi của học sinh.
Mặt khác, trong đổi mới phương pháp dạy học kể chuyện hiện nay khi
giảng dạy giáo viên cần sử dụng kết hợp nhiều phương pháp dạy học khác nhau
13
để đạt được hiệu quả cao. Trong đó phương pháp trực quan được coi là phương
pháp dạy học chủ yếu và có hiệu quả.
1.1.3.1. Phương pháp trực quan
Trước hết, phương pháp dạy học nói chung, là con đường, cách thức mà
người giáo viên sử dụng nhằm chiếm lĩnh hoặc biến đổi đối tượng theo mục
đích đã định, nếu nói phương pháp làm việc là phương cách, phương sách,
phương thức để giải quyết một vấn đề, một công việc đạt hiệu qủa cao nhất.
1.1.3.2. Khái niệm phương pháp dạy học trực quan
Có rất nhiều khái niệm về phương pháp trực quan, nhưng phương pháp trực
quan được hiểu là phương pháp dạy học mà trong đó giáo viên sử dụng các phương
tiện, thiết bị dạy học để hình thành kiến thức, củng cố kiến thức cho học sinh.
Phương pháp trực quan có vị trí rất quan trọng trong dạy học ở tiểu học. Nó
giúp học sinh tích lũy được những tài liệu cụ thể của các đối tượng quan sát để

chuyện cho học sinh lớp 5. Ở nhà trường tiểu học, những đồ dùng trực quan mà
em lựa chọn là những thiết bị có thể ứng dụng rất nhiều và phù hợp với đặc
điểm của phân môn kể chuyện như: tranh ảnh, băng ghi âm, băng ghi hình, phim
đèn chiếu, đĩa mềm vi tính…
Thực tiễn sư phạm cho thấy, các phương pháp dạy học chỉ được thực hiện
nhờ có sự hỗ trợ của các thiết bị dạy học nhất định, trong những hình thức dạy
học nhất định.
Nói chung, trong quá trình dạy học, các phương tiện dạy học giảm nhẹ
công việc của giáo viên và giúp cho học sinh tiếp thu kiến thức một cách thuận
lợi. Có được đồ dùng thích hợp, người giáo viên sẽ phát huy hết năng lực sáng
tạo của mình trong công tác giảng dạy, làm cho hoạt động nhận thức của học
sinh trở nên nhẹ nhàng và hấp dẫn hơn, bồi dưỡng cho học sinh những tình cảm
tốt đẹp với môn học. Do đặc điểm của quá trình nhận thức, mức độ tiếp thu kiến
thức mới của học sinh tăng dần theo các cấp độ của tri giác: nghe - thấy - làm
được (những gì nghe được không bằng những gì nhìn thấy và những gì nhìn
thấy thì không bằng những gì tự tay làm), nên khi đưa các phương tiện dạy học
vào quá trình dạy học, giáo viên có điều kiện để nâng cao tính tích cực, độc lập
15
của học sinh và từ đó nâng cao hiệu quả của quá trình tiếp thu, lĩnh hội kiến thức
và hình thành kỹ năng, kỹ xảo của các em.
Đồ dùng dạy học bao gồm các chức năng sau:
- Truyền thụ tri thức.
- Hình thành kỹ năng.
- Phát triển hứng thú học tập.
- Tổ chức điều khiển quá trình dạy học.
1.1.3.5. Sự cần thiết của việc vận dụng phương pháp trực quan vào dạy
học kể chuyện
Ở tiểu học, dù học sinh có thể tiếp thu tài liệu, nắm được một số khái niệm
hay tính chất trừu tượng bằng lời giải thích của giáo viên nhưng hiệu quả thường
thấp, nếu sự giải thích bằng lời không kết hợp với tổ chức cho học sinh tự mình

- Ở lớp 2, mỗi tuần có 1 tiết/tuần.
- Ở lớp 3, 5 tiết kể chuyện/tuần, học chung trong 1 tiết với bài tập đọc đầu tuần.
- Ở lớp 4, 5 phân môn Kể chuyện học 1 tiết/tuần.
* Yêu cầu về kĩ năng kể chuyện:
Ở lớp 1 là sau khi nghe giáo viên kể mẫu 2, 3 lần một câu chuyện đơn giản,
phù hợp với trình độ và đặc điểm lứa tuổi, học sinh phải nắm được nội dung
chính của câu chuyện và dựa vào trí nhớ, vào các tranh minh họa trong SGK,
các câu hỏi dưới tranh, kể lại được từng đoạn của câu chuyện.
Ở các lớp 2, 3 kĩ năng nghe kể chuyện vẫn tiếp tục được rèn luyện. Đó là
các kĩ năng độc thoại và hội thoại nhưng với yêu cầu cao hơn so với lớp 1. Ở lớp
2, 3, trong độc thoại có thêm yêu cầu HS kể bằng lời của mình, kể có thêm một
hai chi tiết sáng tạo. Trong hội thoại có thêm yêu cầu dựng lại câu chuyện đã
học theo vai, bước đầu sử dụng các yếu tố phụ trợ trong giao tiếp (nét mặt, cử
chỉ, điệu bộ ).
Ở lớp 3, khi rèn kĩ năng độc thoại có thêm yêu cầu học sinh kể lại chuyện
theo lời một nhân vật. Ở lớp 4, 5, HS vẫn tiếp tục được củng cố kĩ năng kể
chuyện đã được hình thành từ lớp dưới, đồng thời được hình thành những kĩ
năng mới. Nội dung các câu chuyện được kể ở lớp 4, 5 đã phong phú hơn, độ
dài lớn hơn. So với lớp 2, 3, có thêm yêu cầu mới là HS kể lại các chuyện đã
17
nghe, đã đọc ngoài giờ kể chuyện. Ngoài ra, HS còn phải kể lại được các chuyện
đã chứng kiến hoặc tham gia.
2.1.2. Các dạng bài học Kể chuyện ở lớp 5
Ở lớp 5, cũng có ba dạng bài học kể chuyện: kể chuyện đã nghe thầy cô
kể trên lớp, kể chuyện đã nghe, đã đọc, kể chuyện đã được chứng kiến, tham gia.
Kiểu bài nghe - kể lại câu chuyện vừa nghe thầy, cô kể trên lớp được thực hiện ở
tuần thứ nhất trong một chủ điểm 3 tuần học. Trong trường hợp này, câu chuyện
(có độ dài khoảng trên dưới 500 chữ) được in trong SGV, trình bày thành tranh
hoặc tranh kèm lời dẫn giải ngắn gọn trong SGK.
Câu chuyện được thầy, cô kể cho HS nghe, rồi HS kể lại. Bên cạnh mục

câu chuyện em đã chứng kiến hoặc một việc em đã làm thể hiện tình hữu nghị
giữa nhân dân ta với nhân dân các nước/Nói về một nước mà em được biết qua
truyền hình phim ảnh)
7. Kể chuyện đã nghe thầy cô kể trên lớp (Cây cỏ nước Nam)
8. Kể chuyện đã nghe, đã đọc (Kể một câu chuyện nói về quan hệ giữa con
người với thiên nhiên)
9. Kể chuyện được chứng kiến hoặc tham gia (Kể một câu chuyện về một lần em
đi thăm cảnh đẹp ở địa phương em hoặc ở nơi khác)
10. Ôn tập
11. Kể chuyện đã nghe thầy cô kể trên lớp (Người đi săn và con nai)
12. Kể chuyện đã nghe, đã đọc (Kể một câu chuyện có nội dung bảo vệ môi
trường)
13. Kể chuyện được chứng kiến hoặc tham gia (Chọn một trong hai đề: Kể một
việc làm tốt của em hoặc một người xung quanh để bảo vệ môi trường/ Kể về
một hành động dũng cảm bảo vệ môi trường)
14. Kể chuyện đã nghe thầy cô kể trên lớp (Pastơ và em bé)
15. Kể chuyện đã nghe, đã đọc (Kể một câu chuyện nói về những người đã góp
sức mình chống lại đói nghèo, lạc hậu vì hạnh phúc của nhân dân)
16. Kể chuyện được chứng kiến hoặc tham gia (Kể một buổi sum họp đầm ấm
trong gia đình)
19
17. Kể chuyện đã nghe, đã đọc (Kể một câu chuyện về những người biết sống
đẹp, biết mang lại niềm vui, niềm hạnh phúc cho những người xung quanh)
18. Ôn tập
Học kì II:
19. Kể chuyện đã nghe thầy cô kể trên lớp (Chiếc đồng hồ)
20. Kể chuyện đã nghe, đã đọc (Kể một câu chuyện về những tấm gương sống và
làm việc theo pháp luật, theo nếp sống văn minh)
21. Kể chuyện được chứng kiến hoặc tham gia (Chọn một trong các đề bài sau:
Kể một việc làm của những công dân nhỏ thể hiện ý thức bảo vệ các công trình

35. Ôn tập
Tóm lại: Các bài học kể chuyện giúp học sinh tiếp xúc với tác phẩm văn
học. Trong suốt bậc tiểu học học sinh được nghe và tham gia kể rất nhiều câu
chuyện với đủ thể loại. Đó là những tác phẩm có giá trị của văn học cổ, văn học
đương đại Việt Nam và thế giới. Trong chương trình phân môn kể chuyện lớp 5
các bài học kể chuyện không giới hạn ở một phạm vi nào mà các mẩu chuyện
được xây dựng từ rất nhiều những đề tài khác nhau trong cuộc sống, những câu
chuyện đó muôn màu muôn vẻ và luôn hấp dẫn đối với học sinh.
1.2.3. Khảo sát thực trạng dạy - học kể chuyện lớp 5 trƣờng Tiểu học
14/6 Huyện Mộc Châu - Sơn La
1.2.3.1. Tiến hành khảo sát
Em tiến hành khảo sát ứng dụng đồ dùng trực quan trong về vấn đề dạy học
phân môn Kể chuyện lớp 5 theo chương trình mới. Từ đó xác định những khó
khăn mà giáo viên gặp phải khi dạy học ứng dụng đồ dùng trực quan và các
biện pháp khắc phục.
Mặt khác, em tìm hiểu tâm lý của học sinh lớp 5 và khảo sát thực trạng học
tập để thấy được những hạn chế còn tồn tại. Trên cơ sở đó, đưa ra một số biện
pháp góp phần nâng cao chất lượng dạy học kể chuyện ứng dụng đồ dùng trực
quan cho học sinh lớp 5.
* Nội dung khảo sát
Đề tài tiến hành khảo sát trên những nội dung sau:
21
- Tìm hiểu sách giáo khoa, sách giáo viên và các đồ dùng dạy học trực
quan trong phân môn Kể chuyện.
- Hoạt động dạy và học kể chuyện của học sinh lớp 5.
- Thái độ của học sinh khi tham gia học phân môn Kể chuyện.
* Phương pháp khảo sát
- Phương pháp dự giờ trực tiếp.
- Phương pháp phỏng vấn trực tiếp giáo viên và học sinh.
- Phương pháp trắc nghiệm.

Tuy nhiên, bên cạnh những thành công đó, thực trạng việc dạy học kể
chuyện vẫn biểu hiện những tồn tại cơ bản sau:
Hầu hết giáo viên tiểu học đều nhận thức được vai trò quan trọng của trực
quan trong việc nâng cao hiệu quả dạy học, nhưng quan niệm như thế nào là đảm
bảo nguyên tắc trực quan, như thế nào là một tài liệu trực quan có chất lượng và sử
dụng ra sao trong giờ dạy kể chuyện vẫn còn là vấn đề cần làm sáng tỏ hơn.
Trên thực tế (Ở trường Tiểu học 14/6 Huyện Mộc Châu - Sơn La) mặc dù
được trang bị khá đầy đủ về các phương tiện và đồ dùng dạy học, nhưng trong
các tiết học kể chuyện thì đồ dùng trực quan vẫn chưa được vận dụng một cách
hiệu quả. Rất nhiều đồ dùng trực quan được trang bị chỉ mang tính hình thức
còn học sinh thì không được tiếp xúc trong quá trình giảng dạy dẫn đến hiệu quả
dạy học chưa cao. Khi có cán bộ quản lý dự giờ của giáo viên, hoặc giáo viên
dự giờ đồng nghiệp các giờ dạy thường được góp ý là không có đồ dùng dạy
học, không sử dụng trực quan và xem đó là một điểm hạn chế của giờ dạy. Từ lý
do đó dẫn đến một ứng xử thông thường là: Hễ biết có người dự giờ thì việc đầu
tiên là người dạy phải lo cho được các bức vẽ phóng to, các bảng phụ, thu thập
tranh ảnh, mà những việc làm đó, những đồ vật đó nhiều khi thiên về tính hình
thức có khi không thật sự cần thiết.
Khi dạy phần tìm hiểu bài của bài tập đọc, không ít giáo viên đã sử dụng
một hệ thống các bảng phụ bằng giấy, cái to, cái nhỏ để ghi các ý chính và đại ý
(nội dung) của bài rồi dán lên hầu như kín bảng để cho học sinh quan sát nhưng
giáo viên chưa thực sự chú trọng đến việc học sinh tiếp thu được những gì.

Trích đoạn Sử dụng tranh minh họa vào dạy học kể chuyện Cách sử dụng Kết quả thể nghiệm
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status