skkn một số kinh nghiệm sử dụng đồ dùng trực quan khi dạy phân môn luyện từ và câu lớp 2 - dạng bài “mở rộng vốn từ - Pdf 19



DÙNG TRỰC QUAN KHI DẠY PHÂN
MÔN LUYỆN TỪ VÀ CÂU LỚP 2
DẠNG BÀI “ MỞ RỘNG VỐN TỪ ”

- Người thực hiện: Văn Thị Sương
- Lĩnh vực nghiên cứu:
- Quản lý giáo dục 
- Phương pháp dạy học bộ môn: Luyện từ và câu

- Lĩnh vực khác: 

(Ghi rõ tên lĩnh vực)

Có đính kèm:
Các sản phẩm không thề hiện trong bản in SKKN
 Mô hình  Phần mềm  Phim ảnh  Hiện vật khác
BM02-LLKHSKKN

A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Trong chương trình dạy ở Tiểu học môn Tiếng Việt là môn học có vị
trí hết sức quan trọng, nó vừa là môn khoa học, vừa là môn công cụ, nó
chiếm thời lượng lớn nhất trong tất cả các môn học. Một trong những phân
môn của môn Tiếng Việt, hỗ trợ rất nhiều cho việc giúp học sinh nắm nghĩa
của từ, biết dùng từ đặt câu, sử dụ
ng các kiểu câu trong giao tiếp đó là phân
môn Luyện từ và câu. Việc dạy luyện từ và câu nhằm mở rộng, hệ thống hóa
làm phong phú vốn từ của học sinh, cung cấp cho học sinh những hiểu biết
sơ giản về từ và câu, rèn cho học sinh kĩ năng dùng từ, đặt câu và sử dụng
các kiểu câu để thể hiện tư tưởng, tình cảm của mình, đồng thời có khả năng
sử dụ
ng các kiểu câu của người khác nói ra trong hoàn cảnh giao tiếp nhất
định. Bởi lẽ đó có thể nói rằng việc dạy luyện từ và câu cho học sinh lớp 2 là
hết sức cần thiết.
Thế nhưng việc học luyện từ và câu ở trường tiểu học, đặc biệt ở học
sinh lớp 2 ( là lớp đầu tiên làm quen và học phân môn này) thì thật không dễ
chút nào. Đối với giáo viên thì chưa có sự sáng tạo v


B. NỘI DUNG I. CƠ SỞ LÝ LUẬN:
Sử dụng đồ dùng trực quan trong quá trình dạy học là con đường kết
hợp chặt chẽ giữa cái cụ thể và cái trừu tượng, phù hợp với các đặc điểm
nhận thức của học sinh tiểu học. Nó còn tạo điều kiện tích cực trong quá
trình học tập của học sinh. Khi sử dụng đồ dùng trực quan trong dạy Luyện
từ và câu có ngh
ĩa là giáo viên sử dụng tranh ảnh sách giáo khoa, tranh sưu
tầm được giúp học sinh có cơ sở nắm được từ theo chủ đề. Ngoài ra đồ dùng
trực quan còn giúp các em hiểu được nghĩa của từ. Các em biết dùng từ đặt
câu dựa trên tranh ảnh cho sẵn. Những đồ dùng trực quan để dạy học bao
gồm:
- Tranh ảnh phục vụ kiến thức bài học.
- Tranh ảnh sưu tầm của giáo viên và học sinh để minh ho
ạ cụ thể
hơn nội dung của bài
Bên cạnh đó, ta biết rằng trực quan trong dạy luyện từ và câu cũng chính
là việc rèn luyện theo mẫu. Bởi lẽ, rèn luyện theo mẫu là thông qua những
mẫu cụ thể về lời nói hoặc mô hình lời nói, giáo viên hướng dẫn học sinh
tìm hiểu đặc điểm của mẫu, cơ chế tạo mẫu, biết cách tạo ra những lời nói
theo đị
nh hướng của mẫu. Mẫu là một phương tiện để “ thi phạm hóa”, học
sinh tiếp nhận ngôn ngữ không phải chỉ bằng cách quan sát mẫu một cách
tường minh. Mẫu thị giác, mẫu thính giác được dùng đồng thời hoặc đan
xen. Tùy thuộc vào đối tượng nhận thức trong từng trường hợp cụ thể mà
chọn mẫu cho phù hợp. Đối tượng nghiên cứu của Luyện từ và câu lớp 2 là
từ

+ Nhà trường thường mở các chuyên đề để giáo viên dự giờ, trao đổi
kinh nghiệm lẫn nhau. Trong các buổi sinh hoạt chuyên môn trường, đều tạo
điều kiện cho giáo viên trao đổi tháo gỡ những vướng mắc trong chuyên
môn.
+ Một số tranh ảnh trực quan để phục vụ cho các bài Luyện Từ & Câu
ở lớp 2 đã có sẵn ở thư viên: Tranh các chim, loài cá, thú…
- Học sinh:
+Các em học sinh có đủ SGK, vở bài tậ
p, đồ dùng học tập phục vụ
cho môn học.
+Phần lớn phụ huynh quan tâm đến việc học của con em mình.
2. Khó khăn:
- Giáo viên :
+ Phân môn Luyện Từ & Câu là phân môn mà học sinh lớp 2 vừa
được làm quen, nên giáo viên gặp nhiều khó khăn khi lựa chọn các hình thức
dạy học phù hợp với các em.
+ Giáo viên đã có nhiều cố gắng trong việc đổi mới phương pháp dạy
học nhưng đôi khi cũng ngại không dám thoát li các gợi ý củ
a sách giáo
khoa, sách hướng dẫn vì sợ sai.
+ Đối với một số giáo viên do sử dụng đồ dùng dạy học nói chung và
đồ dùng trực quan nói riêng chưa được thường xuyên, nên việc sử dụng còn
nhiều lúng túng.
- Học sinh:
+ Học sinh lớp hai vốn từ của các em rất hạn chế, các em còn lúng
túng khi dùng từ, đặt câu.
+ Tư duy của các em chủ yếu dựa vào đặc điểm trực quan. Thế nhưng,
ở một số dạ
ng bài tập không có tranh ảnh trực quan nên học sinh lúng túng,
gặp nhiều khó khăn, thậm chí không làm được các bài tập này.

)
25 1 2 2 1 6 6 3 2 2 0 136 5.44
Lớp 2A2
( lớp đối chứng)
25 2 1 1 3 6 4 4 2 2 135 5.4 III. CÁC GIẢI PHÁP THỰC HIỆN ĐỀ TÀI:

Dạy LT&C phương pháp chủ yếu là thực hành. Thông qua hệ thống
bài tập giúp học sinh rút ra kiến thức cảu bài học. Nhưng không phải bài tập
nào cũng áp dụng như nhau. Do đó, tôi đã nghiên cứu và áp dụng một số
kinh nghiệm sử dụng đồ dùng trực quan khi dạy LT&C ở dạng bài “ Mở
rộng vốn từ” bằng cách phân loại các bài tập theo các dạng cơ
bảng sau:

1.Loại bài tập dạy nghĩa từ :
Đây là loại bài tập có vị trí chủ đạo, bao trùm trong nội dung luyện từ
và câu lớp 2. Dạy “ Mở rộng vốn từ có nghĩa là giáo viên hướng dẫn các em
mở rộng vốn từ và phát triển vốn từ theo các trường nghĩa. Các em vận
dụng vốn hiểu biết của mình và sự dẫn dắt cảu giáo viên để có thể g
ọi tên
các từ xung chủ điểm mà sách giáo khoa yêu cầu.
Khi dạy kiểu bài này, tôi sử dụng phương pháp trực quan làm chỗ
dựa cho việc tìm từ qua các bài dạy “ Mở rộng vốn từ qua tranh vẽ” giáo
viên tổ chức cho các em quan sát tranh theo nhóm, sau đó thi đua giữa các tổ
gọi tên các từ đúng với nội dung tranh. Đôi khi quan sát tranh học sinh còn
phải tưởng tượng để tìm từ thích hợp. Đối với những dạng bài tập này, giáo
viên cần biết khai thác triệt để kênh hình ở SGK, hình ảnh giáo viên và học
sinh sưu tầm được để phục vụ cho tiết dạy. Người giáo viên cũng có thể thiết

phải gợi mở óc tưởng tượng của học sinh bằng những hình
ảnh minh họa
hay câu hỏi dẫn dắt học sinh nhận ra hình ảnh cụ thể để từ đó mới hiểu được
nghĩa và từ cần tìm.
Ví dụ: (Bài tập 1, TV2, tập, trang 90) có một số đồ vật được vẽ ẩn, học
sinh khó nhận biết được, giáo viên phải hướng dẫn học sinh tìm từ chỉ đồ vật
đó bằng những câu hỏi gợi ý sau: Hai con chim đang
đậu trên đồ vật gì? (cái
giá treo mũ áo). Bạn trai đang ngồi trên đồ vật gì? (cái kiềng). Cái kiềng
dùng để làm gì? (cái kiềng để bắc vào bếp)
Đối với dạng bài tập cho từ và nghĩa của từ, yêu cầu học sinh xác lập
sự tương ứng. Đối với dạng bài này, giáo viên có thể sử dụng đồ dùng trực
quan để giúp học sinh tìm đúng từ tương ứng với nghĩa đã cho.
Ví dụ : ( TV2, t
ập 2, trang 64) Tìm từ trong ngoặc đơn hợp với mỗi nghĩa
sau:
a. Dòng nước chảy tương đối lớn trong đó thuyền bè đi lại được.
b. Dòng nước chảy tự nhiên ở đồi núi.
c. Nơi đất trũng, chứa nước, tương đối rộng và sâu ở trong đất liền.
( suối, hồ, sông )

Đối với ví dụ trên, giáo viên đưa hình ảnh suối, sông, hồ -> yêu cầu
HS gắn hình ảnh này với nghĩ
a tương ứng. Khi gắn được, các em đã hiểu
được từ tương ứng với nghĩa đó thông qua tranh ảnh trực quan.

2. Bài tập hệ thống hóa vốn từ:
Hệ thống hóa vốn từ là yêu cầu học sinh tìm từ hoặc phân loại từ theo
một dấu hiệu chung nào đó. Do đó, đối với dạng bài tập này ngoài việc dựa
vào các ví dụ mẫu trong sách giáo khoa để hướng dẫn họ

cuống quýt, hốt hoảng Như vậy, thông qua tranh ảnh trực quan, tôi đã
giúp các em giải nghĩa từ bằng từ trái nghĩa với nó.

3. Loại bài sử dụng từ ( tích cực hóa v
ốn từ):
Mục đích cuối cùng của việc dạy từ là để HS sử dụng được từ trong
hoạt động nói năng. Ta biết rằng, có một số lượng từ rất lớn HS hiểu được
nghĩa nhưng chúng không đi vào vốn từ tích cực, không được học sinh sử
dụng trong giao tiếp của mình. Chính vì vậy, dạy sử dụng từ rất quan trọng.
Nhiệm vụ
cơ bản của dạy từ ngữ là chuyển vốn từ tiêu cực của học sinh
thành vốn từ tích cực. Thế nhưng, không phải đối tượng HS nào cũng làm
được điều đó. Vì thế, tôi nghiên cứu sử dụng đồ dùng trực quan để giúp các
đối tượng HS yếu sử dụng từ một cách hợp lí.
Ví dụ: Tìm những từ có thể dùng để tả các bộ phận củ
a cây.( Mở rộng
vốn từ: Từ ngữ về cây cối. Đặt và trả lời câu hỏi Để làm gì? )
( Tiếng Việt 2, tập 2 trang 95)
Đối với bài tập này giáo viên nên dùng tranh vẽ về cây ( nhiều loại cây:
mỗi cây có thân, cành, lá khác nhau) để học sinh dựa vào đó nêu được các
bộ phận của cây, qua đó các em mở rộng thêm mỗi loại cây có thân, cành lá
khác nhau
Ví dụ : Hãy chọn tên con vật thích hợp với mỗi chỗ trống dướ
i đây:
a/ Dữ như… c/ khỏe như…

b/ Nhát như…. d/ Nhanh như….
( thỏ, voi, hổ (cọp), sóc)
( Bài: Mở rộng vốn từ: Từ ngữ về loài thú. Dấu chấm, dấu phẩy, TV2,
tập 2, trang 55)

tập.

Bảng thống kê điểm kiểm tra sau 3 tháng tác động ( sau khi thực hiện
đề tài - Cuối học kì 2)

Lớp
Số
HS
Điểm/ Số học sinh đạt điểm Tổng
số
điểm
Đểm
trung
bình
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10
Lớp 2A1
(lớp thực nghiệm)
25 1 1 4 4 2 6 4 3 189 7.16

Ngoài việc đảm bảo được mục tiêu bài dạy thì đồ dùng trực quan phải
đảm bảo tính khoa học, thẩm mĩ.

Giáo viên cần chuẩn bị hệ thống câu hỏi nhằm giúp học sinh trực quan
một cách có mục đích, có trọng tâm
Giáo viên phải tự trau dồi cho mình có kiến thức từ ngữ phong phú,
ngôn ngữ phải chuẩn xác, diễn đạt rõ ràng, mạch lạc, trong sáng gần gũi đời
sống ngôn ngữ của các em.
Khi giao tiếp, giáo viên cần tập cho học sinh cách nói trọn câu, đủ ý,
nhất là khi trả lời câu hỏi. Trong khi dạy các phân môn khác, giáo viên cũng
thường xuyên củng cố các kiểu câu đã học, tập cho học sinh viết câu đúng
ngữ pháp, đúng chính tả.
Giáo viên luôn tìm cách tạo cho các em cảm giác thoải mái, tự tin khi
học tiết LT&C.
Đặc biệt giáo viên cần mạnh dạn trao đổi, tháo gỡ những khó khăn,
vướng mắc trong soạn giảng ở các buổi sinh hoạt chuyên môn tổ khối,
chuyên môn trường.
V. KẾT LUẬN:
Trên đây là những kinh nghiệm mà tôi đã tích lũy đượ
c trong quá
trình dạy phân môn LT&C. Vì điều kiện và năng lực của bạn thân có hạn,
nên đề tài không tránh khỏi những sai sót. Rất mong sự quan tâm giúp đỡ và
góp ý của Ban giám khảo để đề tài của tôi được hoàn thiện hơn.
Xin chân thành cảm ơn !

V.TÀI LIỆU THAM KHẢO:
1. Sách giáo khoa Tiếng Việt 2, tập 1- Nguyễn Minh Thuyết ( chủ biên)

,
n
g
à
y
thán
g
năm

PHIẾU NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Năm học: 2011-2012
Tên sáng kiến kinh nghiệm:
Một số kinh nghiệm sử dụng đồ dùng trực quan
khi dạy phân môn LT&C lớp 2, dạng bài Mở rộng vốn từ ”

Họ và tên tác giả: Văn Thị Sương Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị: Trường Tiểu học Nguyễn Bá Ngọc-Xuân Đông-Cẩm Mỹ-Đồng Nai
Lĩnh vực: (Đánh dấu X vào các ô tương ứng, ghi rõ tên bộ môn hoặc lĩnh vực
khác)
- Quản lý giáo dục  - Phương pháp dạy học bộ môn: Luyện Từ và câu 
- Phương pháp giáo dục  - Lĩnh vực khác: . 
Sáng kiến kinh nghiệm đã được triển khai áp dụng: Tại đơn vị  Trong Ngành 
1. Tính mới (Đánh dấu X vào 1 trong 2 ô dưới đây)
- Có giải pháp hoàn toàn mới 
- Có giải pháp cải tiến, đổi mới từ giải pháp đã có 
2. Hiệu quả (Đánh dấu X vào 1 trong 4 ô dưới đây)
- Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng trong toàn ngành có hiệu quả cao 
- Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp
dụng trong toàn ngành có hiệu quả cao 
- Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng tại đơn vị có hiệu quả cao 


Bài 1/ Tìm : (3 đ)
- 2 từ có tiếng tập :
- 2 từ có tiếng làm:
Bài 2/ Tìm 4 từ chỉ đồ dùng ở nhà bếp. (4đ)
Bài 3/ Đặt câu với một từ em vừa tìm được ở bài 2. (3đ)
II.BẢNG ĐIỂM:
1. Lớp thực nghiệm:
STT Họ và tên Điểm KT trước tác
động
Điểm KT sau tác
động
1 Bùi Tuấn Anh 6 8
2 Trần Nguyễn Phương Anh 3 5
3 Nguyễn Thị Thùy Dung 5 6
4 Đinh Phạm Hoàng Duy 6 8
5 Lê Xuân Đại 6 7
6 Vũ Minh Đạt 9 10
7 Đào Minh Hiếu 1 3
8 Lê Thị Hoài LIên 6 8
9 Nguyễn Duy Linh 5 6
10 Nguyễn Hoàng Long 5 9
11 Vũ Thị Thùy Linh 6 8
12 Đinh Minh Mẫn 2 5
13 Đinh Minh Nghi 2 4
14 Trịnh Thị My Ngọc 8 9
15 Nguyễn Minh Nguyệt 9 10
16 Vũ Hoàng Oanh 5 6
17 Nguyễn Minh Quá 7 9
18 Nguyễn Văn Thâu 3 5
29 Trần Minh Tiến 7 9
20 Trần Đan Trường 6 8
21 Lý Giang Tuyên 5 7
22 Nguyễn Thị Như Quỳnh 7 8

13 Nguyễn Thị Ngân Hà 7 8
14 Nguyễn Phạm HoàiThương 6 6
15 Hoàng Văn Bảy 1 2
16 Vũ Thị Bình 8 8
17 Nguyễn Quốc Duy 5 5
18 Nguyễn Phương Đông 2 5
19 Nguyễn Thị Thuý Lành 1 5
20 Trần Đức Lương 7 7
21 Vũ Tuấn Khoa 2 5
22 Nguyễn Cao Thăng 6 6
23 Nguyễn Văn Thâu 7 7
24 Tằng Thanh Tiến 2 5
25 T
r
ần Đan T
r
ường 6 6


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status