SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
Trường THPT Nguyễn Hữu Cảnh
Mã số:…………
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Đề tài
MỘT SỐ KINH NGHIỆM VỀ VIỆC SỬ DỤNG
ĐỒ DÙNG TRỰC QUAN TRONG DẠY HỌC
LỊCH SỬ VIỆT NAM LỚP 12 Người thực hiện: HOÀNG VĂN TÂM
Lĩnh vực nghiên cứu:
Quản lý giáo dục:
Phương pháp dạy học bộ môn LỊCH SỬ
Phương pháp giáo dục:
Lĩnh vực khác:
Có đính kèm:
Mô hình Phần mềm Phim ảnh Hiện vật khác
2006-2007
+ “MỘT VÀI KINH NGHIỆM VÀ BIỆN PHÁP BỒI DƯỢNG HỌC SINH
GIỎI MÔN LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT” năm học 2007-2008
+ MỘT VÀI KINH NGHIỆM VỀ ĐỔI MỚI NỘI DUNG VÀ HÌNH THỨC
KIẾM TRA MIỆNG NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG DẠY HỌC MƠN
LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT” năm học 2008-2009
+ “MỘT SỐ BIỆN PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THI TỐT NGHIỆP
THPT MƠN LỊCH SỬ” năm học 2009-2010
SỞ GD&ĐT ĐỒNG NAI CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Trường THPT Nguyễn Hữu Cảnh Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Biên Hòa, ngày 20 tháng 5 năm 2011
PHIẾU NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
Năm học: 2010-2011
Tên sáng kiến kinh nghiệm: MỘT SỐ KINH NGHIỆM VỀ VIỆC SỬ DỤNG
ĐỒ DÙNG TRỰC QUAN TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM LỚP
12
Họ và tên tác giả: HOÀNG VĂN TÂM Đơn vị (Tổ): Khoa học xã
hội
những kiến thức cơ bản, cần thiết về lịch sử dân tộc và lịch sử thế giới, góp phần
hình thành ở học sinh thế giới quan khoa học, giáo dục lòng yêu quê hương, đất
nước, truyền thống dân tộc, cách mạng, bồi dưỡng các năng lực tư duy, hành
động và thái độ ứng xử đúng đắn trong cuộc sống xã hội. Vì vậy, phương pháp
và hình thức dạy học môn lịch sử rất phong phú đa dạng, bao gồm cả các phương
pháp hiện đại và các phương pháp truyền thống, trong đó phương pháp sử dụng
đồ dùng trực quan là một trong những phương pháp cơ bản của lí luận dạy học .
Bởi lẽ, việc nhận thức lịch sử vừa phải tuân thủ theo quy luật nhận thức nói
chung, nhưng đồng thời còn có nét đặc thù riêng “ Học sinh không thể trực tiếp
nhận thức ( tri giác ) các sự kiện lịch sử, vì lịch sử là cái đã qua không lặp lại
nguyên xi, không thể dựng lại hoàn toàn hay thí nghiệm như khoa học tự nhiên.
Do đó, dạy học lịch sử trước hết là một quá trình truyền thông tin, thu nhận và
xử lý thông tin giữa giáo viên và học sinh qua các phương tiện dạy học. Thông
tin về sự kiện lịch sử càng chính xác, chân thật, phong phú ( Sinh động và vừa
sức thì nhận thức lịch sử của học sinh càng sâu sắc bền vững) lời nói, hình ảnh
cũng như các loại đồ dùng trực quan ( hiện vật, tranh ảnh, bản đồ, băng đĩa, máy
chiếu…) là những phương tiện dạy học, có khả năng chứa hoặc truyền thông tin
rất đa dạng và phong phú. Các phương tiện này đóng vai trò rất quan trọng trong
việc bảo đảm tính trực quan và tạo biểu tượng lịch sử chân thật cho học sinh
nhằm góp phần đạt được mục tiêu dạy học. Tuy nhiên trong những năm vừa qua,
trong quá trình thực hiện tranh tra hoạt động sư phạm của một số giáo viên dạy
sử trong địa bàn tỉnh, tôi nhận thấy, vẫn còn không ít giáo viên chưa kết hợp
phương pháp này vào dạy học, nếu có chăng cũng chỉ minh họa qua loa, chưa
phát huy tính chủ động tích cực của học sinh trong việc khai thác tư liệu lịch sử
ở các đồ dùng dạy học, điều này ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng giáo dục
bộ môn lịch sử.
Chính vì điều đó, tôi xin mạn phép đưa ra “Một số kinh nghiệm về việc sử
dụng đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử Việt Nam lớp 12” để chia sẻ với
quý thầy cô nhằm đạt được hiệu quả cao nhất trong việc nâng cao chất lượng dạy
học bộ môn theo xu thế đổi mới phương pháp dạy học hiện nay.
nhân dân lao động, lòng căm thù bọn xâm lược và chiến tranh……
Với tất cả ý nghĩa giáo dưỡng, giáo dục và phát triển nêu trên, đồ dùng
trực quan góp phần to lớn nâng cao chất lượng dạy học lịch sử, gây hứng thú học
tập cho học sinh, nó là chiếc “cầu nối” giữa hiện thực quá khứ khách quan với
đời sống hiện tại.
2/ Cơ sở thực tiễn:
Đã nhiều lần chúng ta bàn đến việc sử dụng các phương tiện trực quan
trong dạy học lịch sử, coi đó là nguyên tắc trong dạy học, một phương pháp
không thể thiếu được trong quá trình giảng dạy lịch sử ở trường phổ thông. Tuy
nhiên sử dụng như thế nào để có hiệu quả dạy học nói chung, phát huy tính tích
cực hoạt động độc lập của học sinh nói riêng trong dạy học lịch sử thì không đơn
giản, chưa có sự thống nhất, mỗi người sử dụng một cách. Tình trạng sử dụng
các phương tiện dạy học còn mang tính hình thức chưa phát huy được những ưu
thế của các đồ dùng trực quan trong dạy học lịch sử. Trong bài viết này, tôi
không trình bày lại phương pháp sử dụng đồ dùng trực quan trọng dạy học lịch
sử nói chung mà chủ yếu đề xuất một số kinh nghiệm sử dụng nhằm phát huy
tính tích cực hoạt động độc lập của học sinh.
Trước tiên khẳng định hiệu quả của việc sử dụng phương pháp trực quan
trong dạy học lịch sử do nhiều yếu tố quyết định: như chất lượng đồ dùng trực
quan, hiện vật, bản đồ, tranh ảnh lịch sử … Phương pháp sử dụng, kỹ năng, năng
lực sư phạm của giáo viên và đặc biệt là trình độ nhận thức của học sinh. Đồ
dùng trực quan được sử dụng tốt sẽ huy động được sự tham gia của nhiều giác
quan, sẽ kết hợp được hai hệ thống tín hiệu trong quá trình nhận thức “ Tai nghe-
Mắt thấy” tạo điều kiện cho học sinh dễ hiểu, nhớ lâu, gây được mối quan hệ
thần kinh tạm thời khá phong phú, phát huy ở học sinh năng lực chú ý, quan sát,
hứng thú, đặc biệt là tính tích cực hoạt động độc lập. Ngược lại nếu không sử
dụng đúng mức mà bị lạm dụng thì dễ làm cho học sinh phân tán xử lý, không
tập trung vào các dấu hiệu cơ bản chủ yếu, thậm chí hạn chế phát triển năng lực
tư duy trừu tượng của học sinh.
cả nước.
Trong quá trình giảng dạy, giáo viên kết hợp hướng dẫn các em quan sát
các tranh ảnh in trong sách giáo khoa. Học sinh thích xem tranh ảnh lịch sử
nhưng ít biết khai thác nội dung của tranh ảnh để phục vụ bài học. Vì thế để sử
dụng có hiệu quả, giáo viên hướng dẫn gợi mở giúp học sinh tự tìm ra nội dung
tranh ảnh. Sau đó giáo viên bổ sung, sửa chữa để các em hiểu bức ảnh một cách
đầy đủ, toàn diện sâu sắc hơn.
Ví như: khi sử dụng bức ảnh “Lễ thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền
giải phóng quân” ( hình 39 ) trong bài 16 “ Phong trào giải phóng dân tộc và
tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1939-1945 ” Giáo viên phải gợi mở để học sinh quan sát: Lá cờ biểu hiện điều gì? Ai là
người chỉ huy trực tiếp đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân khi mới
thành lập? Trang bị lúc đầu như thế nào? Tất cả những điều này cuối cùng giúp
học sinh nắm được Đảng ta đứng đầu là chủ tịch Hồ Chí Minh đã sinh ra và lãnh
đạo lực lượng vũ trang đầu tiên của cách mạng. Họ là những người du kích trong
đội “Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân ” và “ Cứu quốc quân ” (5/1945).
Tuy số lượng còn ít ỏi ( chỉ có 34 người ) vũ khí trang bị còn thô sơ nhưng đã
tích cực hoạt động góp phần rất quan trọng vào thắng lợi của các mạng. Đồng
thời đây là mầm mống đầu tiên của lực lượng vũ trang Việt Nam sau này.
Hình vẽ, tranh ảnh trong SGK là một phần của đồ dùng trực quan trong
quá trình dạy học. Nó có ý nghĩa hết sức to lớn, không chỉ là nguồn kiến thức có
tác dụng giáo dục tính cách, mà còn phát triển tư duy học sinh, sử dụng tốt loại
phương tiện trực quan này sẽ phát huy được tính tích cực của học sinh, tạo ra sự
hứng thú trong quá trình nhận thức. Từ việc quan sát, học sinh sẽ đi tới công việc
tư duy trừu tượng. Bản thân tranh ảnh không thể gây ra sự quan sát tích cực của
học sinh nếu như nó không được quan sát trong tình huống có vấn đề. Mặt khác
thông qua quan sát, miêu tả tranh ảnh học sinh được rèn luyện khả năng sử dụng
b/ Sử dụng ảnh chân dung của các nhân vật lịch sử
Chân dung các nhân vật lịch sử có tác dụng tạo biểu tượng về đặc điểm
các giai cấp, tầng lớp trong xã hội, của các nhà cách mạng v.v…giáo viên sử
dụng để giảng dạy nhằm tăng cường, cụ thể hóa về hình ảnh cũng như đặc điểm
tính cách tài đức của các nhân vật lịch sử. Khi sử dụng, giáo viên không nên miêu
tả quá nhiều về hình dáng bên ngoài của nhân vật mà chủ yếu là làm nổi bật
những nét tính cách, tài đức, lập trường, quan điểm và nội tâm của nhân vật để
cho học sinh hiểu nhân vật một cách trọn vẹn, sâu sắc. Chẳng hạn như khi dạy về
Hội nghị Ban chấp hành trung ương Đảng tháng 10/1930, học sinh không thể
không biết đến Trần Phú - Tổng bí thư đầu tiên của Đảng- người cộng sản trung
kiên đã khởi thảo ra bản Luận cương của Đảng. Để học sinh hiểu rõ về Trần Phú
Trần Phú (1904-1931)
Trước hết, giáo viên yêu cầu học sinh quan sát chân dung ( hình 5 ), và
phát biểu những hiểu biết của mình về Trần Phú, sau đó giáo viên chốt lại những
nét tiêu biểu nhằm giúp học sinh có ấn tượng sâu sắc về nhà cách mạng trẻ tuổi
này.
Giáo viên có thể dựa vào đoạn tư liệu sau: “Trần Phú sinh ngày 1/5/1904
tại Quảng Ngãi ( nguyên quán ở huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh ). Ngay từ thuở thơ ấu
Trần Phú đã sống trong cảnh côi cút tha phương cầu thực vô cùng cực khổ, vì cha
mẹ mất sớm. Trước cuộc sống quá khó khăn, anh em Trần Phú phải về Quảng Trị
tìm họ hàng nương tựa, nhờ bà con giúp đỡ, Trần Phú vào học ở trường Quốc học
Huế. Ông học rất giỏi và nuôi trong lòng một hoài bão lớn, rồi sau đó Trần Phú đi
theo cách mạng, trở thành người chiến sĩ trung kiên chiến đấu vì độc lập tự do.
Tháng 10/1930 Ông tham gia Hội nghị Ban chấp hành trung ương lâm thời và
được cử làm Tổng bí thư. Trần Phú được cử thảo ra Luận cương chính trị, để viết
luận cương, Ông đã dựa vào Chính cương, điều lệ vắn tắt của Nguyễn Ái Quốc;
đi vào tìm hiểu thực tế phong trào công nhân ở Hải Phòng, lên Hà Nội dựa vào
anh em bồi bếp làm cho tên công chức cao cấp thực dân Pháp ở số nhà 90 Phố
của học sinh, giúp học sinh phân tích, nêu kết luận khái quát về sự kiện được
phản ánh trên bản đồ, lược đồ chứ không nên cho học sinh tiếp thu một cách thụ
động. Ví như: khi giảng về “ Chương trình khai thác thuộc địa lần 2 của thực dân
Pháp ” trong bài 12 “Phong trào dân tộc dân chủ ở Việt Nam từ 1919 đến 1925 ”,
giáo viên sử dụng lược đồ của trường, nếu không có thì giáo viên tự vẽ hoặc cho
học sinh vẽ.
Lược đồ Nguồn lợi của tư bản Pháp trong cuộc khai thác thuộc đại lần thứ hai
Tác dụng của việc sử dụng lược đồ này là nhằm cụ thể hóa kiến thức giúp
học sinh thấy rõ mục đích, quy mô của cuộc khai thác cũng như hậu quả của
cuôc khai thác đối với Việt Nam, qua đó các em hiểu sâu hơn bản chất và những
thủ đoạn tàn bạo trắng trợn của thực dân Pháp. Sau khi đã chuẩn bị lược đồ trong
tiến trình giảng dạy giáo viên thực hiện các bước sau:
Sau khi đã phân tích rõ nguyên nhân mục đích của cuộc khai thác thuộc
địa lần hai của thực dân Pháp. Giáo viên treo lược đồ lên tường (Nơi mà học sinh
có thể nhìn rõ ) để lần lượt trình bày quá trình khai thác của thực dân Pháp về
mục đích, quy mô, hậu quả v.v… kết hợp với lời giảng, giáo viên chỉ rõ cho các
em những vị trí, địa điểm mà thực dân Pháp khai thác, khai thác những nguồn lợi
gì, ở đâu? Tại sao lại khai thác những nguồn lợi này? Nó có tác dụng gì? v.v
sau đó yêu cầu các em nhận xét và rút ra kết luận khái quát.
Việc giảng dạy kết hợp với việc sử dụng lược đồ, bảng biểu thực tế đã cho
những kết quả tốt, hầu hết các em đã chăm chú lắng nghe, dễ hiểu và nắm được
bài học ngay trên lớp. Không những thế còn làm nảy sinh những xúc cảm lịch sử
của các em. Đó là thái độ căm phẫn trước những hành động vơ vét tàn bạo của
thực dân Pháp, là lòng xót xa, sự uất ức đối với người dân Việt Nam sống trong
cảnh nước mất nhà tan.
Ví dụ trong bài 20 “ Cuộc kháng chiến chống thực Pháp kết thúc 1953 –
1954 ” giáo viên kết hợp sử dụng lược đồ, bảng biểu trống, trình bày diễn biến
( 2/1930 )
Luận cương chính trị
( 10/1930 )
Mục tiêu
Đánh đổ Đế quốc, phong kiến,
tư sản phản cách mạng
Đánh đổ phong kiến, cách bóc lột
tiền tư bản, thực hiện cách mạng
thổ địa triệt để
Giai cấp
lãnh đạo
Giai cấp Vô sản (Nhân tố quyết
đinh thắng lợi cách mạng là sự
lãnh đạo của Đảng cộng sản
Việt Nam )
Giai cấp Vô sản (Nhân tố quyết
đinh thắng lợi cách mạng là sự
lãnh đạo của Đảng cộng sản Đông
Dương )
Nhiệm vụ
Tịch thu tài sản ruộng đất của
Đế quốc và bọn phản cách
mạng chia cho dân cày
Đánh đổ Đế quốc Pháp, lật đổ
phong kiến
Lực
lượng
CM
Liên minh công-nông chặt chẽ,
lợi của
cuộc
kháng
chiến
chống
Mỹ
Chủ
quan
Khách
quan
Do có sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng
đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh
Nhân dân ta yêu nước, đoàn kết, chiến
đấu dũng cảm
Hậu phương miền Bắc lớn mạnh
Sự phối hợp chiến đấu và đoàn kết của ba
nước Đông Dương.
Sự ủng hộ, giúp đỡ của các nước, nhất là
của Liên Xô, Trung Quốc và các nước
XHCN
Nhân dân Mỹ và nhân dân thế giới phản
đối cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam
của Mỹ
viên và học sinh có thể tự tổ chức đắp mô hình sa bàn Điện Biên Phủ ( tất nhiên
có sự hỗ trợ kinh phí của nhà trường ). Trước hết cần làm nổi bật cho học sinh
thấy: “Đây là một tập đoàn cứ điểm mạnh nhất Đông Dương, một pháo đài
không thể công phá ( như lời nhận xét của bọn Mỹ ), có 3 phân khu: phân khu
Trong sách giáo khoa chúng ta mới thấy có các nhân vật chính diện tiêu
biểu cho cái đẹp ( chủ yếu là các nhà cách mạng ) mà chưa có các nhân vật phản
diện, đại diện cho cái xấu, cái thấp hèn phản động. Trong giảng dạy nếu có điều
kiện thuận lợi giáo viên có thể sưu tầm và sử dụng chân dung của các nhân vật
phản diện. Song ở đây phải chú ý tới sự phù hợp của tranh ảnh lịch sử với nội
dung sự kiện lịch sử.
Đặc biệt trong giảng dạy lịch sử 12 rất cần có bảng biểu, sơ đồ song cả
phần lịch sử Việt Nam hầu như không có, chính vì điều đó để nâng cao hiệu quả
giờ dạy, giáo viên, học sinh cần lập một số sơ đồ, bảng biểu trong một số bài học
lịch sử cụ thể :ví dụ khi dạy bài 22 “Nhân dân hai miền trực tiếp chiến đấu
chống Đế quốc Mỹ xâm lược, nhân dân Miền Bắc vừa chiến đấu, vừa sản
xuất” ở phần III giáo viên có thể lập bảng hệ thống về cuộc chiến đấu chống
chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh của Mỹ và chính quyền Sài Gòn như sau:
Mặt trận Sự kiện chính Kết quả
Chính trị -
Ngoại giao
- 06/6/1969: Chính phủ Cách
mạng lâm thời cộng hòa miền
Nam Việt Nam ra đời
- 24-25/4/1970: Hội nghị cấp
cao 3 nước Đông Dương
- Tăng thêm sức mạnh cho
cách mạng miền Nam
- Biểu hiện tinh thần đoàn
kết chống kẻ thù chung của
nhân dân 3 nước Đông
Dương
Quân sự
Âm mưu
Thủ đoạn
Phạm vi
Quy mô
Lực lượng quân
Khi hướng dẫn học sinh lập bảng so sánh giáo viên cần phải tuân thủ các
yêu cầu về mặt sư phạm, chọn lựa kiến thức chính xác, nội dung ngắn gọn dễ
hiểu, không rườm rà, có tính trực quan. Sau khi giới thiệu và phân tích rõ nội
dung các sự kiện nói trên giáo viên yêu cầu học sinh so sánh rút ra những điểm
giống và khác nhau của hai chiến lược đó. Việc lập bảng này giúp các em nắm
kiến thức cơ bản một cách vững chắc. Hiểu rõ bản chất của sự kiện đồng thời bồi
dưỡng cho các em năng lực tư duy so sánh đánh giá sự kiện.
Sau khi học xong bài 27 “ Tổng kết lịch sử Việt Nam từ năm 1919-2000”,
giáo viên hướng dẫn học sinh về nhà xây dựng bảng niên biểu tổng hợp những
sự kiện lớn trong tiến trình phát triển lịch sử Việt Nam từ 1930-1991 như sau:
Thời gian Sự kiện chính
1930 Đảng cộng sản Việt Nam ra đời
1930-1931
Cao trào cách mạng 1930-1931 và sự thành lập Xô Viết Nghệ-
Tĩnh
1936 Thành lập mặt trận dân chủ Đông Dương
1941 Bác Hồ về nước và chủ trì Hội nghị trung ương Đảng lần thứ 8
1945
Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam dân chủ
cộng hòa ra đời
1946
Tổng tuyển cử bầu quốc hội; Toàn quốc kháng chiến chống
thực dân Pháp xâm lược
1951 Đại hội lần thứ II của Đảng- Đại hội kháng chiến thắng lợi
hình ảnh lịch sử một thời trong quá khứ. Những nhân vật lịch sử, những sự vật
hiện tượng, những sự kiện đã qua nhằm giúp học sinh nắm bắt lịch sử một cách
chính xác dễ nhận biết, dễ nhớ làm tăng hiệu quả học tập, lôi cuốn học sinh tham
gia tích cực vào bài giảng.
Cần coi trong việc sử dụng phim tài liệu vào quá trình dạy học nhằm tận
dụng mọi cơ hội lịch sử một cách cụ thể giàu cảm xúc, được trực tiếp quan sát
các sự vật hiện tượng, được tiếp xúc các nhân vật lịch sử, điều này giúp cho học
sinh dường như đang “ Trực quan sinh động ”, quá khứ có thật mà hiện tại không
có.
Trong giai đoạn lịch sử 1919-1930: Giáo viên có thể sử dụng các đoạn
phim tư liệu nói về quá trình ra đi tìm đường cứu nước của Hồ Chí Minh (trong
CD đính kèm) để minh họa cho bài 12, 13.
Trong giai đoạn lịch sử 1930-1945: Giáo viên có thể sử dụng các đoạn
phim minh họa như Tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945, Bác Hồ đọc tuyên
ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa 2/9/1945 (có
trong CD đính kèm)
Tiếp theo ở giai đoạn lịch sử 1945-1954: Giáo viên cho học sinh xem bộ
phim tư liệu “ Cuộc tiến công chiến lược Đông Xuân 1953 – 1954 và chiến
dịch lịch sử Điện Biên Phủ” . Các em sẽ được chứng kiến những hình ảnh chân
thực của một thời kì lịch sử hào hùng với các hình ảnh của các anh hùng như
Phan Đình Giót lấy thân mình lấp lỗ Châu Mai, Tô Vĩnh Điện lấy thân chèn
Pháo. Hình ảnh quân và dân ta đào hầm khoét núi, nếm mật, nằm gai, chịu bao
khổ cực vận chuyển lương thực, thực phẩm, phương tiện vũ khí để đến với chiến
dịch lịch sử này. Thông qua các đoạn phim tư liệu lịch sử như thế thì giờ học lịch
sử không thể nào còn nhàm chán nữa.
Hoặc ở giai đoạn lịch sử Việt Nam từ 1954 – 1975: có rất nhiều phim tư
liệu phục vụ cho bài dạy lịch sử như: phong trào Đồng Khởi, nhân d6an miền
Nam chiến đấu chống chiến tranh đặc biệt, chống chiến tranh cục bộ, chống
chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh, Cuộc tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân
1968, Tổng tiến công và và nổi dậy xuân 1975 ( có đính kèm trong CD ). Qua
- Có phương pháp thích hợp đối với việc sử dụng mỗi loại đồ dùng trực
quan.
- Phải đảm bảo được sự quan sát đầy đủ đồ dùng tực quan của học sinh.
- Phát huy tính tích cực của học sinh khi sử dụng đồ dùng trực quan.
- Đảm bảo kết hợp lời nói và việc trình bày các đồ dùng trực quan, đồng
thời rèn luyện khả năng thực hành của học sinh khi sử dụng đồ dùng trực quan
(đắp sa bàn, vẽ bản đồ, tường thuật trên bản đồ, miêu tả hiện vật )
- Tùy theo yêu cầu của bài học và loại hình đồ dùng trực quan mà có cách
sử dụng khác nhau. Loại đồ dùng trực quan treo tường được sử dụng nhiều nhất
trong dạy học lịch sử hiện nay là lược đồ, sơ đồ, bảng biểu, trước khi sử dụng
chúng cần chuẩn bị thật kĩ (nắm chắc nội dung, ý nghĩa của từng loại, phục vụ
cho nội dung nào của giờ học ). Trong khi giảng cần xác định đúng thời điểm
để treo bản đồ không nên treo trên bảng đen vì còn dùng bảng để viết mà treo
cao ở góc bên phải của bảng, nơi có ánh sáng cho tất cả học sinh nhìn thấy rõ,
giáo viên cần đứng bên phải đồ dùng, dùng que chỉ vị trí thật chính xác.
- Loại đồ dùng trực quan cỡ nhỏ được sử dụng riêng cho từng học sinh
trong giờ học, trong việc tự học ở nhà, giáo viên phải hướng dẫn học sinh sử
dụng tốt loại đồ dùng trực quan này, quan sát kĩ, tìm hiểu sâu sắc nội dung, hoàn
thành các bài tập, tập vẽ bản đồ, chứ không phải “can” theo sách.
- Tổ chuyên môn cần tăng cường tổ chức các giờ hoạt động ngoại khóa,
các chuyên đề lịch sử như các cuộc thi đố vui, các trò chơi lịch sử sẽ tăng cường
bổ sung tính hình ảnh thông qua các đồ dùng trực quan phục vụ cho bài học trên
lớp.
2/ Đối với trường:
- Cần tạo điều kiện về phòng ốc nhất là phòng học Bộ môn, đèn chiếu để
phục vụ giảng dạy. Tăng cường hơn nữa trang thiết bị đồ dùng dạy học trong các
tiết dạy lịch sử.
- Cần có nơi để đồ dùng dạy học một cách ngăn nắp khoa học hơn. Hoàng Văn Tâm
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. SGK lịch sử 12 – Phan Ngọc Liên – Chủ biên – NXB giáo dục 2009
2. SGV lịch sử 12 – Phan Ngọc Liên – Chủ biên – NXB giáo dục 2009
3. Đổi mới nội dung và phương pháp dạy học lịch sử ở trường THPT-
Phan Ngọc Liên- chủ biên-NXB Đại học sư phạm.
4. Tài liệu hội nghị - Bộ giáo dục và đào tạo vụ trung học phổ thông
5. Các con đường biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử ở trường
phổ thông – Nguyễn Thị Côi- NXB Đại học sư phạm năm 2006
6. Kênh hình trong dạy học lịch sử ở trường THPT – Nguyễn Thị Côi –
NXB Đại học quốc gia Hà Nội