skkn một số kinh nghiệm về việc chữa các lỗi trong bài làm văn của học sinh trung học phổ thông - Pdf 19

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ KINH NGHIỆM VỀ VIỆC CHỮA
CÁC LỖI TRONG BÀI LÀM VĂN CỦA HỌC
SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

I/LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
1.Tính cấp thiết của đề tài:
Hiện nay trong các trường phổ thông, chất lượng học tập môn văn chưa
cao.Ở trường trung học cơ sở (THCS), học sinh đã được học kĩ môn Tiếng
Việt, Làm văn, nhưng học sinh khi làm bài viết vẫn mắc nhiều lỗi : sai chính tả,
dùng từ không chính xác, viết câu không đúng ngữ pháp tiếng Việt, chưa biết
xây dựng đoạn văn, chép sai dẫn chứng Ở trung học phổ thông (THPT), tình
trạng này vẫn còn khá phổ biến.Số học sinh đạt loại khá giỏi môn văn còn
tương đối ít. Nguyên nhân dẫn đến chất lượng học tập môn Văn chưa cao là do
chương trình môn Văn quá tải, nặng nề, chưa tạo được sự hứng thú học tập cho
học sinh. Do hạn chế về thời gian, về trang thiết bị dạy học nhiều giáo viên
phải dạy cho nhanh để kịp chương trình. Học sinh còn học lệch, học tủ, có xu
hướng thiên về các môn tự nhiên, hy vọng sau này thi được vào nhiều trường
Đại học, Cao đẳng và trung học chuyên nghiệp. Khi ra trường dễ tìm được việc
làm ở các doanh nghiệp nhà nước và tư nhân. Nhiều học sinh lười học, học tập

trình giảng dạy và học tập tương đối nặng, nhiều giáo viên chưa dành nhiều
thời gian và công sức vào việc tìm hiểu các lỗi cụ thể trong bài làm văn của học
sinh, trong giờ trả bài viết chỉ nêu vài câu sai về ngữ pháp, về ý nghĩa, gọi học
sinh tìm chỗ sai và nêu cách sửa.Việc chữa các lỗi trong bài làm văn của học
sinh còn mang tính hình thức, chưa có hiệu quả cao.Trong các bài làm văn tại
lớp và ở nhà, trong các bài thi học kì của học sinh còn rất nhiều kiểu lỗi về
dùng từ, sai chính tả, diễn đạt lủng củng, lạc ý Nhiều giáo viên chưa chú ý đến
việc chữa nhiều câu sai trong cùng một đoạn văn ( chữa các lỗi trong đoạn văn),
chưa chú ý đến sự liên kết giữa các câu trong đoạn sự liên kết giữa các đoạn
trong bài làm văn.
Trong đề tài này, người viết nêu lên một số kiểu lỗi thường gặp trong bài
làm văn của học sinh ở trường THPT. Qua thực tế tìm hiểu, phân tích, sửa chữa
nhiều câu văn, đoạn văn có chứa nhiều lỗi của học sinh trong mấy năm gần
đây.Người viết cũng tìm ra nguyên nhân sai và nêu lên cách chữa các lỗi mà
học sinh mắc phải.Tác giả có chép lại các câu văn, đoạn văn đã chữa lại để
đồng nghiệp cùng tham khảo.

II.THỰC TRẠNG TRƯỚC KHI THỰC HIỆN CÁC GIẢI PHÁP CỦA
ĐỀ TÀI:
1.Thuận lợi:
Vấn đề nâng cao chất lượng dạy và học môn Văn luôn được sự quan tâm
rộng rãi của các ban nghành, nhà trường, giáo viên và cha mẹ học sinh. Sở Giáo
Dục và Đào Tạo tỉnh Đồng Nai đã tổ chức các hội nghị chuyên đề nhằm nâng
cao chất lượng dạy và học ở trường THPT, tổ chức hội giảng cấp tỉnh trong
nhiều năm, tuyên dương những giáo viên đạt giáo viên dạy giỏi cấp tỉnh. Ban
giám hiệu nhà trường, tổ chuyên môn có nhiều đổi mới trong việc tổ chức trong
các buổi họp tổ chuyên môn, bàn đến những vấn đề cấp thiết về chuyên môn,
không nặng về các thủ tục hành chính.
Đội ngũ giáo viên trong tổ chuyên môn nhiệt tình có nhiều kinh nghiệm trong
giảng dạy, tâm huyết với nghề, luôn mong muốn nâng cao chất lượng dạy và

Một số giáo viên trong giảng dạy và đánh giá kết quả của học sinh còn khắt
khe, thiếu sáng tạo, chưa động viên được tính tích cực, chủ động của học sinh.
3.Số liệu thống kê:
Khi thực hiện phương pháp mới trong các giờ trả bài của học sinh, chất
lượng bài viết của học sinh được nâng cao. Học sinh ít mắc các lỗi trong bài
làm.
Chất lượng giảng dạy và học môn văn trong những năm gần đây .
( Căn cứ vào số học sinh đạt điểm 5 trở lên trong thi học kì I năm học 2010-
2011).

Lớp Sỉ số Chất lượng thi học kì I

Trên 5Khá
-

gi
ỏi.

10a 7

40

19

4
8
%


17.5
%

III.NỘI DUNG ĐỀ TÀI.
1.Nội dung:
Tsecnưsepxky từng nói: Những kết luận khoa học như những thỏi vàng chỉ
lưu hành trong một phạm vi nhỏ hẹp, còn tri thức từ tác phẩm văn học như
những đồng tiền nhỏ dễ lưu thông, len lõi đến mọi người”. Những giáo viên
môn văn ở trường THPT có nhiệm vụ truyền đạt những tri thức từ tác phẩm văn
học, từ bộ môn làm văn và Tiếng Việt đến học sinh. Đồng thời, người giáo viên
tiếp nhận những thông tin phản hồi từ phía học sinh qua các bài kiểm tra, đánh
giá chất lượng học tập môn văn, để có những phương pháp giảng dạy phù hợp,
nâng cao chất lượng bài làm văn của học sinh. Người giáo viên còn phải trân
trọng, phát huy sự sáng tạo của học sinh, khuyến khích các em rèn luyện để viết
những bài văn hay, không chấp nhận sự bình thường, bởi vì “ bình thường là
cái chết của nghệ thuật” (Huy gô).Trong thực tế giảng dạy, nhiều học sinh “
không viết được nhiều đoạn văn hay, nhiều bài văn tốt”, có những câu văn
đúng của học sinh đã bị “ giáo viên cho là những câu sai”, “ngữ pháp nhà
trường lâu nay chỉ dạy đến câu. Câu được coi là đơn vị cuối cùng của việc
nghiên cứu và giảng dạy.Cho nên, khi dạy làm văn, phải động chạm đến những
vấn đề thuộc lĩnh trên câu như chuỗi câu, đoạn văn, v.v. thì cả học sinh lẫn
giáo viên đều tỏ ra lúng túng” (Nguyễn Quang Ninh).
Một số nhà khoa học còn thấy được tình trạng một bộ phận học sinh sinh phổ
thông và nhân dân phát âm chưa đúng chuẩn, viết sai chính tả, đề ra cách giải
quyết “ chỉ có một cách tốt nhất là phải có những quy định thống nhất trên cơ
sở thực tế của hoạt động ngôn ngữ, cụ thể là hoạt động lời nói của tiếng Việt (

Ví dụ 2: Trong một bài làm văn, học sinh lớp 10 viết:
Bà lão thấy một cô gái xinh đẹp, từ trong quả thịt bước ra.
Học sinh này viết nhầm từ “ quả thị” thành “quả thịt” mà không đọc lại bài làm
văn nên không phát hiện ra chỗ sai, làm mất giá trị thẩm mỹ của hình tượng
văn học
Câu sửa lại:
Một bà lão thấy một cô gái xinh đẹp, từ trong quả thị bước ra.
Ví dụ 3:Dẫn chứng trong một bài viết của học sinh lớp 12:
Ngày xuân mơ nở trăng rừng
Nhớ người đang nói chuốt từng sợi giang.
Trong câu thơ thứ nhất , học sinh đã viết sai từ “ trắng” ( tính từ chỉ màu sắc
của hoa mơ) thành “ trăng” (danh từ) do thiếu dấu sắc làm sai nội dung của câu
thơ.
Trong câu thơ thứ hai, học sinh đã viết từ “ đan nón” (“đan” là động từ, “nón”
là danh từ) thành “ đang nói” ( dể hiểu nhầm là đang nói chuyện), làm giảm giá
trị nội dung của câu thơ, chưa thấy được vẻ đẹp của con người Việt Bắc: cần
cù, chăm chỉ lao động.
Chép lại câu thơ cho đúng nguyên văn:
Ngày xuân mơ nở trắng rừng
Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang.
Để khắc phục loại lỗi viết thiếu nét, nhầm dấu, nhầm chữ Người giáo viên cần
rèn luyện cho học sinh thói quen viết bài cẩn thận, tập trung suy nghĩ để làm
bài, khi làm bài xong nên đọc lại một, hai lần để chữa các lỗi.
2.1.2: Lỗi do cách phát âm của địa phương.
Kiểu lỗi này thường gặp ở những học sinh yếu, ý thức học tập chưa cao,
chưa rèn luyện viết đúng chính tả tiếng Việt.
Ví dụ:
Một số lỗi trong bài làm văn của học sinh.
(Bài làm của một học sinh 12).
Trong ví dụ trên, học sinh không viết hoa các danh từ riêng, tên địa danh, tên
tác giả.
Chữa lại các lỗi chính tả trong câu văn trên:
Bài thơ “ Việt Bắc” được Tố Hữu viết vào tháng 10 năm 1954.
Ví dụ 2: Tùng, Trúc, Mai, Đào, Liễu sánh cùng rau muống, mồng tơi ( ).
(Bài làm của một học sinh 10).
Các từ chỉ các loài cây: tùng, trúc, mai, đào, liễu được viết hoa tùy tiện, dễ hiểu
lầm là những tên người.
Viết lại các từ ngữ đã chữa đúng trong câu trên: Tùng, trúc, mai, đào, liễu sánh cùng rau muống, mồng tơi ( ).
Để khắc phục kiểu lỗi này, học sinh cần nắm vững cách viết các danh từ trong
tiếng Việt, tên riêng của người Việt phải viết rời từng âm tiết, không dùng dấu
gạch nối, viết hoa tất cả các chữ cái đầu của từng âm tiết, như Ngô Tất Tố, Vụ
Trọng Phụng, Nam Cao tên các địa phương cũng viết tương tự như Hà Nội,
Đồng Nai, Thành Phố Hồ Chí Minh Đối với các từ chỉ phương hướng đã
thành tên riêng của một vùng thì viết hoa như :Tây Bắc, Tây Nam, Đông
Nam đối với các từ riêng trở nên thông dụng, quen thuộc thì không viết hoa
như: mực tàu, dép lào

-Số liệu thống kê các lỗi của học sinh thường gặp:
Lớp Sỉ số
Lỗi về chính tả.
Cẩu thả Phát âm địa
phương
Ghi âm chữ
quốc ngữ
Viết sai danh

%

4

10,5
%

5

13%

3

7,9
%

12a6 38 5 13 % 3 7,9 % 6 15,8%

4 10,5%

12a7

40

3

7,
5 %

5

(1) Triệu Đà dùng mưu kế cho con trai là Trọng Thủy sang ở rể tại Âu Lạc.
(2) Long Vương sai thị vệ đưa Trọng Thủy vào.
Học sinh dùng từ thiếu chính xác còn do kiến thức về lịch sử, văn học, thời đại,
tác giả, tác phẩm chưa được đầy đủ. Ví dụ 3:
(1) Nhà thơ Đặng Thị Mai đã nhận xét về thơ Bác ( )
(2) Tố Hữu là một nhà văn lớn.
(3) Trong “ Nhật kí trong tù”, Bác đã tố cáo chế độ nhà tù của thực dân phát xít.
(Bài làm của một số học sinh ).
Ở câu (1), học sinh đã dùng sai từ: “Nhà thơ Đặng Thị Mai” (người đọc sẽ hiểu
sai đó là một nhà thơ nữ) sửa lại từ cho chính xác: “Nhà phê bình Đặng Thai
Mai”.Ở câu (2), học sinh dùng từ sai “ nhà văn lớn” để nói về Tố Hữu là
sai.Trên thực tế Tố Hữu là một nhà thơ lớn. Ở câu (3) học sinh thiếu kiến thức
về lịch sử văn học nên đã dùng từ sai “ chế độ nhà tù của Quốc dân đảng”.
Viết lại từ ngữ đã chữa đúng trong các câu văn:
(1) Nhà phê bình Đặng Thai Mai đã nhận xét về thơ Bác ( )
(2) Tố Hữu là một nhà thơ lớn.
(3) Trong “ Nhật kí trong tù”, Bác đã tố cáo chế độ nhà tù của Quốc dân đảng.
Người thầy giáo cần hướng dẫn cho học sinh cách dùng từ chính xác.Từ ngữ
cần phải diễn đạt trong sáng, rõ ràng, thấu đáo điều mình muốn nói.Phải biết sử
dụng những từ ngữ đúng nhất trong hoàn cảnh ngôn ngữ cụ thể.Từ tất yếu nhất
là chỉ có nó, không thể thay vào một từ khác.Dùng từ chính xác còn là biết
dùng từ đồng nghĩa, đa nghĩa, biết lựa chọn chính xác trong đó một từ thích hợp
nhất.Học sinh còn phải nắm được hệ thống động từ, tính từ, từ láy, từ ghép để
bài viết sinh động, phong phú về nội dung.
2.2.2: Dùng từ khoa trương, sáo rỗng, lạm dụng từ Hán Việt.
Nguyên nhân của kiểu lỗi này là do học sinh không hiểu thấu đáo nghĩa
của từ, do đó lúng túng trong việc diễn đạt bằng những từ ngữ thiếu sát thực.Do

2.2.3: Lỗi thừa từ, lặp từ:
Do kiến thức về từ ngữ còn hạn chế, một số học sinh khi làm văn đã dùng
từ trùng lặp về nghĩa hoặc lặp đi lặp lại về ngữ âm không cần thiết.
Ví dụ 1: Lòng thương người, chủ nghĩa nhân đạo của Hồ Chí Minh đã đạt tới
mức độ quên mình.
(Bài làm của một học sinh ).
Trong đoạn văn trên, học sinh đã dùng thừa tù, lặp về ý nghĩa. “ Lòng thương
người” là một khía cạnh của “ chủ nghĩa nhân đạo”, “ chủ nghĩa nhân đạo có ý
nghĩa bao quát, phong phú hơn “ lòng thương người”. Từ “ Lòng thương
người” đã dùng thừa, nên không dùng được.
Viết lại câu văn đã sửa lại từ.
Chủ nghĩa nhân đạo của Hồ Chí Minh đã đạt tới mức độ quên mình.
Ví dụ 2:
Dân tộc ta có một lòng nồng nàn yêu nước, ái quốc.
(Bài làm của một học sinh ).
“Aí quốc” là từ Hán Việt, có nghĩa là yêu nước, học sinh đã dùng thừa từ. Nên
dùng từ thuần Việt “ yêu nước”, bỏ từ “ ái quốc” đi.
Câu văn được sửa lại là:
Dân tộc ta có một lòng nồng nàn yêu nước.
Giáo viên cần lưu ý phân biệt các lỗi thừa từ, lặp từ với phép điệp ( điệp âm,
điệp từ, điệp cấu trúc câu). Nếu học sinh có ý thức sử dung điệp từ thì lại nâng
cao hiệu quả nội dung và nghệ thuật của câu văn, đoạn văn.
Ví dụ 3: Vẫn là đôi mắt ấy, “ đôi mắt mở to, bình thản, trong suốt”. Đôi mắt
nghiêm khắc khi hỏi giấy phép của Tnú. Đôi mắt nhìn kẻ thù bình thản lạ
lùng.Đôi mắt Dít ráo rảnh trong khi mọi người trong làng đều khóc vì cái chết
của Mai.

(Bài làm của một học sinh ).
2.2.4: Dùng sai từ tượng hình, tượng thanh:


-Số liệu thống kê các lỗi của học sinh thường gặp:

Lớp Sỉ số
Lỗi về dùng từ.
Dùng từ
thiếu chính
xác
Từ khoa
trương, sáo
rỗng, lam
d
ụng

Lỗi thừa từ,
lặp từ
Sai từ tượng
hình, tượng
thanh
10a7

40

4

10
%

3

7,

7,9
%

3

7,9
%

3

7,9
%

3

7,9
%

12a7

40

4

10

%

4


mồm” dùng từ thừa (vì hành động “nuốt” ai cũng hiểu phải qua đường
miệng). Câu chữa lại thành câu mở đầu đoạn văn.
Viết lại câu văn đã chữa lại đúng.
Để tin tức không rơi vào tay giặc, Tnú đã nuốt lá thư ( ).
2.3.2.Sai về ngữ nghĩa:
Kiểu lỗi này thường gặp ở những học sinh chưa chăm học, chưa chú ý
nghe giảng, chưa sử dung tốt sách giáo khoa, hiểu nội dung bài học còn lơ
mơ, nhưng có khả ngăng diễn đạt. Kiểu lỗi này còn hay gặp ở những học
sinh có xu hướng học “lệch”, học “tủ”, chỉ lo dốc sức vào các môn khoa học
tự nhiên, chuẩn bị cho kì thi vào các trường đại học.Những học sinh này
thường viết câu văn trong đoạn văn tuy đúng cấu trúc ngữ pháp nhưng sai về
ngữ nghĩa, sai về thời điểm lịch sử, nhầm tác giả này với tác giả khác, dẫn
chứng bài thơ này một câu, câu tiếp theo ở bài thơ khác.
Ví dụ:
(1)Nguyễn Trung Thành là nhà văn xứ sở chiến trường Tây Bắc .(2)Truyện
ngắn “Rừng xà nu” được Nguyên Ngọc viết vào năm 1971. (3)Lúc ấy cuộc
chiến tranh phá hoại của đế quốc Mĩ đã lan rộng ra miến Bắc. (4)Truyện
ngắn “ Rừng xà nu” được in trong tập “ Trên quê hương những anh hùng ”.
Bài làm của học sinh lớp 12.
Các câu trong đoạn văn trên đúng về cấu trúc ngữ pháp, đúng về liên kết câu
trong đoạn văn nhưng sai về nội dung.
-Câu (1) tên tác giả là Nguyễn Trung Thành. Câu (2) tên tác giả là Nguyên
Ngọc. Thật ra Nguyên Ngọc là bút danh của nhà văn khi tập kết ra Bắc, khi
ông viết tác phẩm “Mạch nước ngầm”, “Rẻo cao”. Từ năm 1962, ông trở lại
miền Nam lấy bút danh là Nguyễn Trung Thành. Tên thật Nguyễn văn báu. -Ở câu (1): học sinh dùng từ “ xứ sở chiến trường Tây Bắc”là sai, trong thực
tế thì Nguyễn Trung Thành gắn bó mật thiết với chiến trường Tây Nguyên.
Câu (1) phải sửa lại từ ngữ.

Man nuôi nấng ( ). Bài làm của học
sinh lớp 12.
Các câu trong đoạn văn trên sai cả về ngữ pháp và ngữ nghĩa, các câu chắp
nối nhau rời rạc, chưa thành một đoạn văn.
-Câu (1) Học sinh dùng sai từ “dân tộc xảo trá”, mang ý nghĩa xấu. Thật ra
nếu viết đúng phải là “dân tộc Strá”, một dân tộc ít người sống ở Tây
Nguyên. -Câu (2) Học sinh không hiểu từ “xà lét, xà lách” nên viết sai ý nghĩa của
câu trong đoạn “xà lét’ là dung cụ đeo lưng của dân tộc Strá (như cái gùi),
không phải là một cây làm lương thực, thực phẩm. “Xà lách” là một loại rau,
dân tộc Strá ở Tây Nguyên hầu như không trồng và không sử dung trong
bữa ăn bao giờ. Dùng từ “nhân dân Xô Man” chưa chính xác lắm. Vì nhân
dân được hiểu theo nghĩa rộng hơn, “Xô Man” là tên một làng nhỏ, nên
dùng từ “ nhân dân Xô Man” thì đúng hơn.
-Giữa câu (2) và câu (1) chưa có sự liên kết về ngữ nghĩa.
-Câu (3) dùng từ “ đứa mồ côi” mang sắc thái biểu cảm không thân thiện.
-Câu (3) và câu (2) chưa có sự liên kết về ý nghĩa.
-Câu (4): lặp lại nhóm từ “ nhân dân Xô Man”, thiếu bổ ngữ cho từ “ nuôi
nấng”.
Cách chữa lại các câu văn trong đoạn văn trên:
-Câu (1): sửa từ” dân tộc xảo trá thành dân tộc Strá”.
-Câu (3) sửa nhóm từ “một đứa mồ côi” thành “một đứa trẻ mồ côi”.
-Sửa lại câu (3) và câu (4), nhập hai câu thành một câu đặt ở vị trí câu thứ
hai, có chủ ngữ là “ anh”.
-Câu (2): Nên sửa lại, đặt ở vị trí thứ ba để tạo ra sự liên kết với các câu
trước. Thêm trạng ngữ “ hàng ngày” vào đầu câu, bỏ các từ ‘ trồng xà lét, xà
lách”.
Cách sửa như trên là hợp lí, bởi vì học sinh muốn nói đến quãng đời của

người lính Tây Tiến.Đoạn thơ viết về những anh bộ đội Tây Tiến trong
những năm 1947-1948, khi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp bước vào
giai đoạn đầy gian khổ,hy sinh.Bệnh sốt rét rừng hành hạ làm cho các anh
tóc rụng, da xanh bủng. Nhưng tâm hồn các anh vẫn lãng mạn, hào hoa.
-Số liệu thống kê sai lỗi về thường gặp trong đoạn văn:

Lớp Sỉ số
Lỗi sai trong đoạn văn
Sai về ngữ
pháp
Sai về ngữ
nghĩa
Sai về ngữ
pháp - sai về
ng
ữ nghĩa

Không có
quan hệ logic
10a7

40 5 12,5%

6 15% 5 12,5%

4 10,5%

10a9

38

40 5 12,5%

4 10,5%

4 10 % 5 12,5%2.4. Lỗi về đoạn văn.
2.4.1.Đoạn văn quá ngắn, chưa hoàn chỉnh, ý rời rạc:
Một số học sinh có thói quen viết đoạn văn tùy tiện, không theo cách
thức nào, chưa hết ý đã qua hàng khác. Mỗi “đoạn văn” có khi chỉ là một,
hai câu văn rời rạc, có khi chỉ là một vế câu.
Ví dụ:
Bài thơ “Đất Nước” viết 1948- 1955.
Nguyễn Đình Thi sinh năm 1924 ở Lào, quê ở Phú Xuyên,Hà Đông. Sau
cách mạng tháng 8 làm tổng thư kí hội văn hóa cứu quốc.
Bài thơ được Nguyễn Đình Thi viết xong năm 1955 sau khi kháng chiến
chống Pháp kết thúc.Sau đó bài thơ được in trong tập “ Người chiến sĩ
(1958)”.
Ý của ba “ đoạn văn” trên rời rạc, thiếu các phương tiện liên kết. Học sinh
còn viết thiếu từ, sai chính tả.Xét về nội dung, ba “ đoạn văn” trên viết về
tác giả Nguyễn Đình Thi và hoàn cảnh ra đời của bài thơ “Đất Nước”.Cách chữa đơn giản nhất là nhập ba “đoạn văn” làm một, sắp xếp lại các ý, sữa lỗi
chính tả, sữa lại từ ngữ.
Sau đây là đoạn văn đã chữa lại:
Nguyễn Đình Thi sinh năm 1924 tại Luông Pha băng (Lào), quê ở Phú
Xuyên, tỉnh Hà Đông. Sau cách mạng tháng 8 làm tổng thư kí hội văn hóa
cứu quốc. Bài thơ “Đất Nước” được Nguyễn Đình Thi viết trong một thời

hoặc chưa biết cách trích dẫn chứng, như để dấu ngoặc kép tùy tiện, phần
trích dẫn câu thơ hoặc lời nói của nhân vật thì quên dấu ngoặc kép, trích
dẫn bằng việc đưa ý kiến cá nhân thay thế cho lời của nhân vật hoặc của một
người nổi tiếng nào đó. Ví dụ:Trong bài Tây Tiến khổ thơ miêu tả sự hy sinh của người lính Tây
Tiến.
-Những người lính trẻ trung, hào hoa đó gửi thân mình nơi biên cương xa
xôi, sẵn sàng tự nguyện hiến dâng đời xanh cho Tổ Quốc mà không hề tiếc
nuối.
-Hình ảnh áo bào thay chiếu là cách nói sang trọng hóa sự hy sinh của
người lính Tây Tiến.
(Bài làm của một học sinh lớp 12)
Để khắc phục sai, thiếu phần trích dẫn phần văn bản hoặc câu nói của một ai
đó thì ta nên đưa vào trong dấu ngoặc kép và đảm bảo tính chính xác.
Sửa lại đoạn văn:
-Những người lính trẻ trung, hào hoa đó gửi thân mình nơi biên cương xa
xôi, sẵn sàng tự nguyện hiến dâng “Đời xanh” cho Tổ Quốc mà không hề
tiếc nuối.
-Hình ảnh “ áo bào thay chiếu” là cách nói sang trọng hóa sự hy sinh của
người lính Tây Tiến.
Đồng thời, khi nêu dẫn chứng cần có sự lựa chọn và lấy dẫn chứng có tính
điển hình, tránh việc đưa dẫn chứng tùy tiện, tràn lan mà không hiệu quả.
Ví dụ: Muốn trích dẫn một vài câu của tác phẩm “Vợ Nhặt” của Kim Lân,
nếu không nhớ nội dung văn bản thì ta nên học cách ghi nhớ những từ, cụm
từ và lồng ghép vào trong câu văn của mình để đảm bảo tính bám sát và
triển khai nội dung mạch lạc của bài văn.
-Trên đường đưa người vợ nhặt về nhà.Tràng cảm thấy có cái gì “ phớn
phở” khác hản với ngày thường, hắn cười “ tủm tỉm” và đôi mắt sáng lên

3

7,9
%

3

7,9
%

12a6

38

6

15,8%

5

13,2
%

4

10,5
%

12a7



12

30
%

10a 9

38

34

89,5
%

9

23,7

%

12a 6 38 33 82,5% 9 23,7%

12a7

40

36

90

bài viết, theo dõi những học sinh yếu kém để có cách thức phù hợp.
Những kinh nghiệm ở trên đã được tôi áp dụng trong thực tế, đạt hiệu
quả trong quá trình giảng dạy. Nhiều học sinh yếu, kém trở nên trung bình
đã trở nên khá.
VI.KẾT LUẬN.
Việc chấm trả bài của giáo viên đòi hỏi thời gian và có tâm huyết.Người
giáo viên có đọc thật kỹ bài văn của học sinh mới phát hiện ra các kiểu lỗi, tìm ra cách sửa chữa, đồng thời có chấm kỹ bài làm văn của học sinh thì
người giáo viên mới phát hiện ra được những bài văn hay, sáng tạo, dẫn đến
việc cho điểm mới chính xác, công bằng. Những bài viết mắc nhiều lỗi phải
được sửa chữa, rút kinh nghiệm cho bài viết sau. Những bài văn thể hiện sự
độc đáo, sáng tạo, tư duy logic, diễn đạt mạch lạc, phải được ghi nhân, khen
ngợi. Người giáo viên nên ghi chép lại các lỗi phổ biến trong bài làm văn
của học sinh, những ý tưởng sáng tạo của các em, để làm tư liệu trong các
giờ dạy môn Làm văn, Tiếng việt. Cần khắc phục tình trạng học sinh ngại
học văn, làm văn, chép đề, đọc kỹ đề mà không biết viết câu văn đầu tiên
của phần mở bài như thế nào .Nên tổ chức các buổi thảo luận để học sinh
mạnh dạn phát biểu ý kiến, rèn luyện kỹ năng nói và viết, ý thức yêu mền và
trân trọng, phát huy vẻ đẹp của ngôn ngữ dân tộc. Sáng kiến này đang trong
quá trình áp dụng vào thực tế, cần được tìm tòi, bổ sung thêm cho hoàn
chỉnh. Rất mong được sự góp ý kiến tận tình của đồng nghiệp.
VIII.TÀI LIỆU THAM KHẢO.
1. Nguyễn Trọng Báu, Nguyễn Quang Ninh, Trần Ngọc Thêm (1985). Ngữ
pháp văn bản và việc dạy làm văn -NXB-GD.
2.Hữu Đạt, Trần Trí Dõi, Đào Thanh Lan (1998).Cở sở Tiếng Việt-NXB-
GD
3.Đỗ Việt Hùng (1999).Sổ tay kiến thức Tiếng Việt PTTH- NXB-GD


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status