SKKN một số KINH NGHIỆM về VIỆC GIẢNG dạy tác PHẨM tự sự THEO đặc TRƯNG THỂ LOẠI - Pdf 32

BM 01-Bia SKKN

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐỒNG NAI
TRƯỜNG THPT NGÔ SĨ LIÊN
Mã số: ................................

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ KINH NGHIỆM
VỀ VIỆC GIẢNG DẠY TÁC PHẨM TỰ SỰ
THEO ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI
TRONG CHƯƠNG TRÌNH NGỮ VĂN THPT

Người thực hiện: NGUYỄN VĂN CÔNG
Lĩnh vực nghiên cứu:
- Phương pháp dạy học bộ môn: Ngữ văn 

Có đính kèm: Các sản phẩm không thề hiện trong bản in SKKN
 Mô hình  Phần mềm
 Phim ảnh
 Hiện vật khác

Năm học: 2012 – 2013


2

SƠ LƯỢC LÝ LỊCH KHOA HỌC
I. THÔNG TIN CHUNG VỀ CÁ NHÂN
1. Họ và tên: Nguyễn Văn Công
2. Ngày tháng năm sinh: 17 – 04 – 1969


_________________________________________________________________
Nguyễn Văn Công
Trường THPT Ngô Sĩ Liên


4
Đề tài:
MỘT SỐ KINH NGHIỆM VỀ VIỆC GIẢNG DẠY
TÁC PHẨM TỰ SỰ THEO ĐẶC TRƯNG THỂ LOẠI
TRONG CHƯƠNG TRÌNH MÔN NGỮ VĂN THPT
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Vì nhiều lí do, việc giảng dạy các tác phẩm văn xuôi tự sự ở trường phổ
thông hiện nay còn có một số bất cập, trong đó có vấn đề giảng dạy theo đặc trưng
thể loại. Phần lớn giáo viên, khi dạy bài đọc hiểu về một tác phẩm tự sự nào đó,
thường chưa có ý thức khai thác tác phẩm tự sự theo đặc trưng thể loại. Chính vì
vậy, có thể dẫn đến sự đánh đồng hoặc xem nhẹ các yếu tố thuộc về thi pháp thể
loại trong quá trình phân tích. Một tác phẩm truyện trung đại vẫn được dạy như
một tác phẩm văn xuôi hiện đại hoặc một tác phẩm văn chính luận vẫn được dạy
như một truyện ngắn. Việc phân tích tác phẩm chắc chắn sẽ khó đạt được hiệu quả
cao.
Các tác phẩm tự sự được đưa vào giảng dạy ở trường phổ thông hiện nay có
thể được tạm chia như sau:
Về loại hình lịch sử, có các tác phẩm tự sự thuộc về VHDG, văn học trung
đại và văn học hiện đại.
Về mặt cấu trúc thể loại, có truyền thuyết, truyện cổ tích, truyền kì, truyện
ngắn, truyện dài…
Mỗi tiểu loại có một đặc điểm riêng. Vì vậy, khi giảng dạy tác phẩm văn
xuôi tự sự, giáo viên cần ý thức được và có cách khai thác giá trị nội dung và nghệ
thuật của tác phẩm theo đặc trưng thể loại. Điều này, một mặt giúp khai thác tác

rời hai phần nội dung và nghệ thuật. Phần nội dung thì cảm nhận chủ quan, áp đặt,
phần nghệ thuật thì còn phân tích hời hợt qua loa…
Trong quá trình giảng dạy nhiều năm qua, chúng tôi đã cố gắng vận dụng
các lí thuyết về thi pháp thể loại vào việc hướng dẫn học sinh đọc hiểu, khai thác
văn bản và đã thu được một số thành công đáng kể.
Đặt vấn đề vận dụng lí thuyết thể loại vào việc giảng dạy các tác phẩm văn
xuôi tự tự, người viết muốn giáo viên cần ý thức được tầm quan trọng của việc
khai thác các giá trị của tác phẩm dưới góc độ thể loại, nâng cao kĩ năng đọc – hiểu
cho HS, khai thác tác phẩm sâu sắc và thỏa đáng hơn.
Điều này cũng hoàn toàn phù hợp với chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Tài liệu Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Ngữ Văn do Bộ Giáo
dục và Đào tạo ban hành, trong từng bài dạy về tác phẩm tự sự, luôn có yêu cầu về
mức độ cần đạt là giúp học sinh nắm vững và biết phân tích văn bản theo đặc
trưng thể loại.
Trong phạm vi của đề tài này, người viết chỉ đề cập đến kinh nghiệm giảng
dạy một số tác phẩm văn xuôi tự sự ( bao gồm một số truyện dân gian, truyện
trung đại và truyện ngắn hiện đại ) trong chương trình THPT. Các tác phẩm văn
xuôi khác như văn nghị luận, chính luận sẽ được đề cập trong một đề tài khác. Đề
tài này cũng chỉ đề cập đến những vấn đề nảy sinh trong thực tế giảng dạy môn
Văn ở trường THPT Ngô Sĩ Liên và những kinh nghiệm thu nhận được quá trình
giảng dạy thực tế của người viết.

_________________________________________________________________
Nguyễn Văn Công
Trường THPT Ngô Sĩ Liên


6
II. TỔ CHỨC THỰC HIỆN ĐỀ TÀI
1. Cơ sở lý luận

thức phân biệt được những điểm khác nhau giữa truyện trung đại và truyện ngắn
hiện đại.
Tóm lại, khi dạy một tác phẩm tự sự, do đặc trưng thể loại, cách phân tích,
khai thác văn bản phải khác với dạy các tác phẩm trữ tình và kịch. Trong phạm vi
tác phẩm văn xuôi, phải có sự khác biệt giữa dạy tác phẩm tự sự với dạy tác phẩm
văn chính luận. Ngay khi cùng là tác phẩm tự sự, dạy một truyện cổ tích cũng phải
khác với một truyện ngắn hiện đại.
1.2. Các phạm vi phân tích tác phẩm tự sự:
_________________________________________________________________
Nguyễn Văn Công
Trường THPT Ngô Sĩ Liên


7
Nói đến tác phẩm tự sự là phải nói đến các yếu tố cơ bản như cốt truyện, sự
kiện, nhân vật, trần thuật… Chính vì vậy, khi phân tích tác phẩm tự sự, khác với
phân tích thơ, kịch hay tác phẩm chính luận, các phạm vi phân tích thường là:
+ Tóm tắt nội dung cốt truyện
+ Phân tích cốt truyện, các tình tiết, sự kiện nổi bật…
+ Phân tích nhân vật ( lai lịch, ngoại hình, hành động, nội tâm, ngôn
ngữ, số phận, tính cách… )
+ Phân tích nghệ thuật trần thuật
Tuy nhiên, trong từng thể loại nhỏ như truyện cổ tích, truyện cười, truyện
ngắn hiện đại,… cách phân tích không thể giống nguyên như nhau.
1.3. Yêu cầu định hướng cách phân tích cho từng tác phẩm tự sự cụ thể:
Trong chương trình Ngữ văn THPT hiện hành, có các loại tác phẩm tự sự
như cổ tích (Tấm Cám), truyền thuyết (An Dương Vương và Mị Châu – Trọng
Thủy), truyền kì (Chuyện chức phán sự đền Tản Viên), tiểu thuyết chương hồi
(Tam quốc diễn nghĩa), truyện ngắn hiện đại (Chữ người tử tù, Chí Phèo, Hai đứa
trẻ, Vợ chồng A Phủ, Vợ nhặt, Chiếc thuyền ngoài xa … )…

2.1. Về việc xác định đặc trưng thể loại và ý thức phân tích một tác
phẩm tự sự theo đặc trưng thể loại
2.1.1. Trước khi dạy, giáo viên phải nắm vững và xác định
được những đặc trưng cơ bản của từng thể loại nhỏ,
như:
+ Truyền thuyết, cổ tích… ( những thể loại văn xuôi thuộc bộ phận
VHDG, có đặc điểm là những câu chuyện kể truyền miệng )
+ Truyền kì, tiểu thuyết chương hồi… ( những thể loại thuộc bộ phận
văn học viết trung đại, chịu sự quy định của thi pháp văn học trung đại )
+ Tiểu thuyết và truyện ngắn hiện đại
- Phân biệt đặc trưng của truyện trung đại và truyện hiện đại:
Về cốt truyện, truyện trung đại truyền thống thường đầy đủ các thành phần
(trình bày, thắt nút, phát triển, đỉnh điểm, mở nút ), dù là một hay nhiều sự kiện thì
vẫn chỉ được xâu chuỗi theo thời gian, không được mô tả trong quan hệ mở rộng
không gian… Trong cốt truyện của truyện hiện đại, mỗi sự kiện tham gia vào cốt
truyện thường được mô tả, phân tích, lí giải một cách cặn kẽ: từ đâu mà có, liên
quan đến sự kiện trung tâm như thế nào…
Về nhân vật, nhân vật trong truyện trung đại thường đơn giản, dễ hiểu vì là
kết quả của cái nhìn một chiều, ít có sự thay đổi, trái lại nhân vật trong truyện hiện
đại thường là “con người tâm lí”, phức tạp, đầy mâu thuẫn, là kết quả của cái nhìn
đa chiều ( Mị trong Vợ chồng A Phủ, người đàn bà hàng chài trong Chiếc thuyền
ngoài xa…)
Các thành phần trần thuật cũng được cấu trúc khác nhau. Ở truyện truyền
thống, lời trần thuật là lời thông báo khách quan chiếm ưu thế; ở truyện hiện đại,
bên cạnh “lời khách quan” còn có sự gia tăng “lời chủ quan”, các đoạn trữ tình
ngoại đề…
Về hệ thống chi tiết, trong truyện trung đại là hệ thống chi tiết cốt truyện
không thừa, không thiếu, còn hệ thống chi tiết trong truyện hiện đại có thêm loại
“chi tiết phi cốt truyện”, và nhiều khi loại chi tiết này chiếm ưu thế…
Khi dạy truyện trung đại, cũng như truyện dân gian, nếu chúng ta không ý

một truyện ngắn hay đòi hỏi phải có sự chặt chẽ, đảm bảo sự thống nhất cao độ để
có thể tạo nên một hiệu quả nghệ thuật duy nhất, từ đó tạo nên một ấn tượng sâu
đậm trong lòng người đọc. Nói như Nguyễn Minh Châu: “Chỉ cần ít trang văn
xuôi… có thể làm nổ tung trong tình cảm và ý nghĩ người đọc những điều rất sâu
xa và da diết của con người, khiến người đọc phải nhớ mãi, suy nghĩ mãi, đọc đi
đọc lại vẫn không thấy chán” (Trang giấy trước đèn).
Vì vậy, khi dạy truyện ngắn, nhất thiết người dạy phải chú ý đặc biệt đến
việc phân tích tình huống truyện và các chi tiết, hình ảnh đặc sắc liên quan đến
cảnh ngộ, cuộc đời, tính cách nhân vật…
2.1.2. Kết hợp cung cấp các kiến thức về thể loại qua việc
khai thác nội dung bài dạy.
+ Truyện An Dương Vương và Mị Châu – Trọng Thủy:
Truyền thuyết về An Dương Vương là một truyền thuyết nổi tiếng của dân
tộc Việt, được xem như là gạch nối các truyền thuyết thời vua Hùng và các truyền
thuyết đời sau. Truyền thuyết này có nhiều bản kể với nhiều tên gọi khác nhau.
Khi soạn sách Ngữ văn 10 (2006), các soạn giả ghi là Truyệnt An Dương Vương
và Mị Câu – Trọng Thủy.
Như ta đã biết, kết cấu của truyện có hai phần chính: phần một kể về An
Dương Vương xây thành Cổ Loa, chế nỏ thần, chống giặc Triệu Đà, phần hai tập
trung kể về mối tình Mị Châu – Trọng Thủy.
Cần cho học sinh thấy được cốt lõi lịch sử của câu chuyện ( một tiêu chí
quan trọng để phân biệt với cổ tích ). Cốt lõi lịch sử này chủ yếu nằm ở phần một
của truyện. Với việc xây dựng thành Cổ Loa, nhân vật An Dương Vương mang
dáng dấp của một nhân vật anh hùng văn hóa nhưng với việc chế nỏ, chống giặc,
_________________________________________________________________
Nguyễn Văn Công
Trường THPT Ngô Sĩ Liên


10

+Ở các truyện ngắn hiện đại như Chí Phèo, Hai đứa trẻ, Vợ nhặt, Chiếc
thuyền ngoài xa…:
Câu chuyện mô tả đời sống như một thực tại đang tiếp diễn, không phải
thuộc về một quá khứ đã được đóng khung; cốt truyện linh hoạt, biến hóa; nhân vật
thường là “con người tâm lí” đầy phức tạp, không dễ hiểu…
Đặc sắc của từng truyện còn gắn với phong cách nghệ thuật của từng tác giả,
mang đậm dấu ấn sáng tạo của người viết. Khác với Tinh thần thể dục của Nguyễn
Công Hoan giàu kịch tính, bất ngờ, Hai đứa trẻ của Thạch Lam là một kiểu truyện
ngắn – trữ tình hóa, có cốt truyện tâm lí, là kiểu “truyện không có truyện”. Nếu Vợ
_________________________________________________________________
Nguyễn Văn Công
Trường THPT Ngô Sĩ Liên


11
nhặt của Kim Lân nổi bật ở một tình huống truyện bất ngờ, độc đáo thì Rừng xà nu
của Nguyễn Trung Thành lại hấp dẫn bởi một câu chuyện đậm màu sắc sử thi,
mang âm hưởng anh hùng ca… Việc sử dụng ngôn ngữ kể chuyện, cách đan xen,
kết hợp, dịch chuyển điểm nhìn trần thuật… còn tạo cho từng truyện một giọng
điệu riêng.
Việc phân tích các truyện hiện đại vì thế cũng trở nên khó hơn, phạm vi
phân tích cũng phong phú hơn.
2.2. Vận dụng thi pháp thể loại vào khai thác bài dạy: phân tích các
yếu tố cốt truyện, tình huống, nhân vật…
2.2.1. Đối với các truyện dân gian và thể loại truyền kì:
Nội dung tác phẩm thường kể lại, thuật lại theo trình tự thời gian một câu
chuyện nào đó, không đi sâu vào việc miêu tả, tái hiện. Cốt truyện thường đầy đủ
các thành phần, sử dụng “thời gian sự kiện một chiều” chứ không phải là “thời
gian tâm lí nhiều chiều”. Nhân vật thường đơn giản, dễ hiểu, thường là “con người
hành động”, tính cách khá nhất quán, chưa được đi sâu vào thế giới nội tâm.

12
học dung tục…Ví dụ như biến cuộc xung đột giữa Tấm và mẹ con Cám thành cuộc
đấu tranh giữa hai giai cấp địa chủ và cố nông.
+ Phân tích ý nghĩa của các yếu tố nghệ thuật có liên quan đến đặc điểm thể
loại.
VD: các yếu tố thần kì trong Tấm Cám được xem như là phương tiện để giải
quyết xung đột, thúc đẩy sự phát triển của cốt truyện, qua đó thể hiện ước mơ hạnh
phúc, niềm tin vào công lí của nhân dân.
VD: các yếu tố li kì, hoang đường trong Chuyện chức phán sự đền Tản Viên
có tác dụng tạo nên không khí huyền thoại, tăng tính hấp dẫn đồng thời chuyển tải
ý nghĩa ẩn dụ của câu chuyện.
+Cuối cùng, khái quát giá trị tư tưởng của tác phẩm.
2.2.2. Đối với các truyện ngắn hiện đại
*Tóm tắt truyện:
So với truyện trung đại, việc tóm tắt cốt truyện của truyện hiện đại có khó
hơn. Ở các truyện hiện đại, kết cấu truyện có nhiều sáng tạo đa dạng với các thủ
pháp đảo lộn, đồng hiện, thu hẹp hoặc nới rộng thời gian, không gian… Câu
chuyện có khi được triển khai với nhiều mạch chuyện xen kẽ nhau, không theo
trình tự tuyến tính.
Cần hướng dẫn học sinh tóm tắt các bước phát triển của cốt truyện dựa vào
những sự kiện nổi bật, những diễn biến của số phận các nhân vật chính.
Khi tóm tắt cốt truyện, cần bám vào nhân vật chính để làm nổi rõ từng giai
đoạn phát triển của nó. Mặt khác, khi tóm tắt cốt truyện cần quan tâm đến những
chi tiết, sự kiện tạo bước ngoặt trong cuộc đời nhân vật.
Một cách hiệu quả khác là sơ đồ hóa cốt truyện.
*Những điều cần lưu ý khi phân tích cốt truyện:
Cốt truyện được hiểu là một hệ thống các sự kiện phản ánh những diễn biến
của cuộc sống và nhất là các xung đột xã hội một cách nghệ thuật, qua đó các tính
cách hình thành và phát triển trong những mối quan hệ qua lại của chúng nhằm
làm sáng tỏ chủ đề tư tưởng tác phẩm. Việc phân tích các xung đột trong cốt

vậy, khi dạy bài này, giáo viên cần khai thác diễn biến tâm trạng nhân vật Liên thể
hiện qua ba đoạn tương ứng với ba sự kiện:
Đó là một nỗi buồn man mác của Liên trước thời khắc của ngày tàn.
Đó là nỗi buồn trong sự chờ đợi, hoài niệm.
Đó là một nỗi buồn sâu thẳm sau khi ngắm chuyến tàu đêm đi qua.
- Kết cấu truyện hiện đại hết sức đa dạng. Có truyện tập trung vào một tình
huống nổi bật như Vợ nhặt, có truyện lại trải dài theo lịch sử cả cuộc đời con người
như Vợ chồng A Phủ, Chí Phèo.
Trong các truyện có ý định dựng lại toàn bộ cuộc đời của nhân vật như Vợ
chồng A Phủ hay Chí Phèo, vì không phải là tiểu thuyết nên nhà văn buộc phải
tóm lược một số đoạn, chỉ tập trung vào một vài chặng đường quan trọng nhất.
Chuyện của một đời nhưng lịch sử chỉ là cái nền mờ nhạt để tác giả dừng lại ở một
vài tình huống tiêu điểm như thâu tóm toàn bộ cuộc đời nhân vật.
Trong vòng tròn bi kịch từ Chí Phèo cha đến Chí Phèo con, giữa những triền
miên những lần say của Chí, Nam Cao đã chọn một tình huống có tính bước ngoặt.
Một tình huống đặt ở thì hiện tại. Đó là cái tình huống Chí say hơn bình thường để
rồi vô tình gặp Thị Nở trong đêm trăng bên vườn chuối. Tình huống đột xuất này
chính là cơ hội để cho Chí tỉnh ra. Tỉnh ra để mà biết cái mùi vị cháo hành – mùi vị
của tình yêu thương. Tỉnh ra để biết thế nào là buồn, là cái nỗi lo sợ cô độc, ốm
đau khi tuổi già kéo đến. Tỉnh ra để mà ước ao, hi vọng... Rồi từ sau cơn tỉnh dài
(đến năm, sáu ngày ), Chí lại say, đi giết Bá Kiến và kết thúc đời mình. Đây là tình
huống quan trọng nhất và cũng chứa đựng nhiều ý nghĩa nhất của truyện. Dạy tác
phẩm Chí Phèo, giáo viên cần lấy việc phân tích tình huống trên làm trọng tâm cho
bài dạy của mình.
Tương tự như dạy Chí Phèo, khi phân tích đoạn trích Vợ chồng A Phủ, giáo
viên cần dành nhiều thời gian để phân tích hai tình huống quan trọng của cuộc đời
Mị lúc ở Hồng Ngài: thời điểm tết đến, Mị muốn đi chơi và lúc Mị cứu A Phủ.
_________________________________________________________________
Nguyễn Văn Công
Trường THPT Ngô Sĩ Liên

Phân tích truyện ngắn hiện đại, nhất thiết phải chú ý đến tình huống truyện.
Trong một số truyện như Vợ nhặt, Chiếc thuyền ngoài xa…, tác giả đã xây dựng
được những tình huống giàu ý nghĩa, có khả năng chuyển tải được nhiều thông
điệp thẩm mĩ của truyện. Tập trung vào việc phân tích tình huống truyện sẽ giúp
cho giáo viên khai thác được ý đồ nghệ thuật của tác giả, đồng thời giúp cho bài
dạy dễ làm nổi bật trọng tâm.
-Trong truyện ngắn “Vợ nhặt”, Kim Lân đã xây dựng được một tình huống
truyện độc đáo: Nhân vật Tràng, một anh nông dân nghèo xấu xí, lại là dân ngụ cư,
thế mà đã lấy được vợ đúng vào lúc nạn đói đang hoành hành. Chỉ qua hai lần gặp
mặt, với vài lời chọc ghẹo vu vơ, sau đó là bốn bát bánh đúc, thế là Tràng có vợ,
thậm chí là vợ theo.

_________________________________________________________________
Nguyễn Văn Công
Trường THPT Ngô Sĩ Liên


15
Tình huống của truyện là một tình huống bi thảm – sự bi thảm do cái đói gây
nên. Đây là một tình huống truyện éo le, vui buồn lẫn lộn, một tình huống nghịch
lí, bất thường. Nhưng qua đó tác giả đã thể hiện được nhiều ý nghĩa sâu sắc:
Lấy vợ là một việc quan trọng trong đời. Thế mà ở đây, vợ lại có thể dễ
dàng nhặt được như cái rơm, cái rác ven đường. Từ đây ta thấy được thân phận
nhỏ nhoi bi thảm của con người trong nạn đói năm 1945. Người đàn bà ấy chấp
nhận theo Tràng trước hết chẳng qua là để chạy trốn cái đói. Qua đó phơi bày hiện
thực đói khổ của người dân nước ta trước CMT8 dưới ách thống trị của thực dân,
phát xít. Tình huống truyện cũng cho thấy được quan điểm nhân đạo sâu sắc của
nhà văn: trong hoàn cảnh bi đát, con người yêu thương đùm bọc lẫn nhau, vẫn
khao khát hạnh phúc và vươn lên, hướng về sự sống, luôn hi vọng vào tương lai.
Từ tình huống truyện, ta có thể phân tích để thấy được số phận, tính cách và



16
vừa vỡ ra trong đầu”, trong nhận thức của Phùng cũng vỡ ra biết bao điều vừa
nghiêm túc vừa xót xa. Sự thức tỉnh ở Phùng không phải đến từ chiêm nghiệm về
bản thân mà có được do trải nghiệm trong sự va chạm trực tiếp với cuộc sống.
Nghịch cảnh éo le cùng với diễn biến dồn dập của sự kiện đã dồn ép, thúc đẩy làm
bật lên những phát hiện ở người nghệ sĩ.
Đằng sau những cảnh đời trái ngang đầy éo le tồn tại một thứ qui luật hiển
nhiên của cuộc sống. Không thể giải quyết một vấn đề nào đó chỉ bằng lòng tốt
hoặc ý chí chủ quan mang tính một chiều. Cũng như để giải quyết cái ác không thể
chỉ dùng mỗi một phương cách là lấy bạo lực diệt trừ hay cách li nó. Từ người đàn
bà lam lũ kia, anh học được thêm một bài học vỡ lòng về cách nhìn nhận cuộc đời :
“Là bởi vì các chú không phải là đàn bà, chưa bao giờ các chú biết như thế nào là
nỗi vất vả của người đàn bà trên một chiếc thuyền không có đàn ông…”, “vả lại, ở
trên chiếc thuyền cũng có lúc vợ chồng con cái chúng tôi sống hòa thuận vui vẻ”.
Cuộc sống phức tạp không thể chỉ được nhìn nhận qua những biểu hiện bên ngoài.
Từ đó, Phùng phát hiện ra một điều quan trọng, đằng sau cái vẻ đẹp lãng mạn của
bức ảnh chụp chiếc thuyền còn có một hiện thực ở bề sâu đáng được quan tâm
hơn: “Quái lạ, tuy là ảnh đen trắng nhưng mỗi lần ngắm kĩ, tôi vẫn thấy hiện lên
cái màu hồng hồng của ánh sương mai lúc bấy giờ tôi nhìn thấy từ bãi xe tăng
hỏng, và nếu nhìn lâu hơn, bao giờ tôi cũng thấy người đàn bà ấy đang bước ra
khỏi tấm ảnh, đó là một người đàn bà vùng biển cao lớn với những đường nét thô
kệch, tấm lưng áo bạc phếch có miếng vá, nửa thân dưới ướt sũng, khuôn mặt rỗ
đã nhợt trắng vì kéo lưới suốt đêm. Mụ bước những bước chậm rãi, bàn chân dậm
trên mặt đất chắc chắn, hòa lẫn trong đám đông”. Và nghệ thuật không thể chỉ
dừng lại ở vẻ đẹp bề ngoài, nghệ thuật cần vươn tới được bề sâu phức tạp của cuộc
đời mà tâm điểm là con người với biết bao cảnh ngộ éo le, vất vả nhưng cũng đầy
ý nghĩa.
*Về nhân vật: cần chú ý hướng dẫn học sinh các phương diện như lai lịch,

buồn tẻ này.
* Về nghệ thuật trần thuật:
Đối với một tác phẩm tự sự, nghệ thuật kể chuyện đóng vai trò hết sức quan
trọng. Cách lựa chọn ngôi kể, lựa chọn điểm nhìn trần thuật, sử sụng ngôn ngữ trần
thuật… là những phương thức cơ bản để để nhà văn xây dụng và tái hiện câu
chuyện. Đây cũng là một vấn đề rất khó dạy và khó tiếp nhận. Trong thực tế, người
dạy ít đi sâu vào các vấn đề này trong bài dạy, hoặc nếu có thì chỉ là những nhận
xét áp đặt được nêu ra lúc gần kết thúc tiết dạy. Ví dụ: truyện có lối kể chuyện sinh
động, truyện có nghệ thuật trần thuật độc đáo… Rõ ràng nếu không đi sâu phân
tích thì học sinh không hiểu, chỉ biết lặp lại một cách máy móc nhận xét của thầy
cô.
Khi dạy tác phẩm tự sự, giáo viên nên chọn một số đặc điểm nổi bật trong
nghệ thuật trần thuật của tác phẩm để kết hợp phân tích khi tìm hiểu cốt truyện
hoặc nhân vật.
Khi dạy Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi, cần chỉ cho học
sinh thấy tác dụng nghệ thuật của cách lựa chọn điểm nhìn trần thuật đặc biệt trong
truyện. Truyện kể ở ngôi thứ ba (người kể chuyện giấu mặt) nhưng chủ yếu được
thuật lại qua dòng hồi tưởng miên man khi đứt khi nối của nhân vật Việt trong tình
huống anh bị trọng thương nằm lại ở chiến trường. Cách thức trần thuật qua điểm
nhìn của “người trong cuộc” làm cho câu chuyện trở nên chân thật hơn; mặt khác,
nhà văn có thể dễ dàng đi sâu miêu tả nội tâm nhân vật… Diễn biến câu chuyện trở
nên linh hoạt, không phụ thuộc vào thời gian tự nhiên, có thể thay đổi đối tượng,
không gian, thời gian, đan xen tự sự và trữ tình… Những hồi ức sống động của
nhân vật Việt còn giúp người đọc hình dung rõ về một gia đình giàu truyền thống
cách mạng, từ thế hệ cha ông đến thế hệ trẻ hôm nay…
Khi phân tích đoạn mở đầu truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao, cùng với
sự xuất hiện đầy ấn tượng của nhân vật, giáo viên có thể kết hợp hướng dẫn cho
học sinh thấy được đặc sắc trong nghệ thuật trần thuật của truyện ngắn nổi tiếng
này. Đặc biệt hơn cả trong phương thức kể chuyện của Nam Cao là sự kết hợp đan
_________________________________________________________________

So sánh đặc điểm của sử thi nước ngoài và sử thi Việt Nam (Ô đi xê và Đăm
Săn)…
Ở cấp độ nhỏ hơn, có thể so sánh đặc điểm nhân vật chính trong các truyện
ngắn sử thi hóa ( Rừng xà nu, Những đứa con trong gia đình ) với những truyện
ngắn tiểu thuyết hóa ( Chiếc thuyền ngoài xa, Một người Hà Nội ),
So sánh tình huống nhận thức trong Chiếc thuyền ngoài xa và Một người Hà
Nội (một bên là quá trình “bừng ngộ”, một bên là quá trình “tiệm ngộ”)…
So sánh thủ pháp tương phản trong Hai đứa trẻ và trong Chữ người tử tù…
III. HIỆU QUẢ CỦA ĐỀ TÀI
Đề tài đã giúp cho giáo viên giảng dạy có ý thức rõ ràng về việc giảng dạy
tác phẩm tự sự theo đặc trưng thể loại, đáp ứng được yêu cầu của Chuẩn kiến thức,
kĩ năng do Bộ GD&ĐT ban hành. Vận dụng kiến thức về thể loại giúp cho việc
_________________________________________________________________
Nguyễn Văn Công
Trường THPT Ngô Sĩ Liên


19
khai thác bài dạy sâu sắc và thỏa đáng hơn, giờ dạy củng hấp dẫn hơn. Từ đó, học
sinh một mặt nắm thêm được kiến thức thể loại vừa nâng cao được năng lực cảm
thụ tác phẩm văn chương.
Trong quá trình giảng dạy của bản thân, chất lượng các giờ dạy tác phẩm tự
sự được nâng lên thấy rõ. Học sinh biết cách phân tích tác phẩm một cách hợp lí.
Nếu trước đây học sinh rất lúng túng khi đứng trước yêu cầu phân tích một tác
phẩm tự sự cụ thể thì nay đã có tiến bộ hơn nhiều.
Đặc biệt, trong thời gian gần đây, đề thi tốt nghiệp THPT, đề thi ĐH,CĐ
thường có những câu hỏi yêu cầu học sinh phải nắm vững văn bản, hiểu được ý
nghĩa của các chi tiết, hình ảnh nghệ thuật trong tác phẩm truyện. Việc giảng dạy
tác phẩm tự sự theo đặc trưng thể loại đã góp phần giúp học sinh nâng cao kiến
thức để thực hiện tốt các bài tập dạng này. Kết quả các bài nghị luận văn học phân

Nguyễn Văn Công

_________________________________________________________________
Nguyễn Văn Công
Trường THPT Ngô Sĩ Liên


21
V.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Từ điển thuật ngữ văn học, Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi,
Nxb Giáo dục, Hà Nội, 2007.
2. Truyện ngắn: lí luận, tác gia và tác phẩm, Lê Huy Bắc, Nxb Giáo dục, Hà
Nội, 2004.
3. LÍ LUẬN VĂN HỌC, Phương Lựu (chủ biên), Nxb Giáo dục, 2004.
4. Truyện ngắn Việt Nam, lịch sử - thi pháp – chân dung,Phan Cự Đệ (chủ
biên), Nxb Giáo dục, 2007.
5. Tự sự học – một số vấn đề lí luận và lịch sử,Trần Đình Sử (chủ biên), Nxb
ĐHSP, 2004.
6. Truyện ngắn-những vấn đề lí thuyết và thực tiễn thể loại, Bùi Việt Thắng,
Nxb ĐHQG Hà Nội, 2000.
7. Văn học dân gian, những công trình nghiên cứu, Bùi Mạnh Nhị (chủ biên),
Nxb Giáo dục, 2006.
8. Văn học trung đại, những công trình nghiên cứu, Lê Thu Yến (chủ biên),
Nxb Giáo dục, 2006.

_________________________________________________________________
Nguyễn Văn Công
Trường THPT Ngô Sĩ Liên

- Lĩnh vực khác: .................................... 

Sáng kiến kinh nghiệm đã được triển khai áp dụng: Tại đơn vị  Trong Ngành 
1. Tính mới (Đánh dấu X vào 1 trong 2 ô dưới đây)
-

Có giải pháp hoàn toàn mới



- Có giải pháp cải tiến, đổi mới từ giải pháp đã có



2. Hiệu quả (Đánh dấu X vào 1 trong 4 ô dưới đây)
-

Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng trong toàn ngành có hiệu quả cao 

- Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp dụng
trong toàn ngành có hiệu quả cao 
-

Hoàn toàn mới và đã triển khai áp dụng tại đơn vị có hiệu quả cao 

- Có tính cải tiến hoặc đổi mới từ những giải pháp đã có và đã triển khai áp dụng tại
đơn vị có hiệu quả 
3. Khả năng áp dụng (Đánh dấu X vào 1 trong 3 ô mỗi dòng dưới đây)
- Cung cấp được các luận cứ khoa học cho việc hoạch định đường lối, chính sách:
Tốt 


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status