Trịnh Thị Hạnh – THCS Bùi Thị Xn 1
PHÒNG GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO TP. PLEIKU
TÊN ĐỀ TÀI MỘT SỐ KINH NGHIỆM
TRONG VIỆC GIẢNG DẠY CÁC BÀI
TỔNG KẾT VỀ TỪ VỰNG, TỔNG KẾT VỀ NGỮ PHÁP
( NGỮ VĂN LỚP 9 )
thân tôi luôn không ngừng học hỏi, tích cực tìm tòi, nghiên cứu đổi mới
phương pháp dạy học, có nhiều bài giảng được đồng nghiệp đánh giá khá
thành công. Song, giảng dạy chương trình Ngữ văn 9, những năm đầu, có tiết
– bài, tôi thấy thật sự không dễ dàng, hoạt động giữa giáo viên và học sinh
không nhòp nhàng, chất lượng giờ dạy – học không cao. Trong số đó phải nói
đến các tiết tổng kết kiến thức Tiếng Việt : Tổng kết về từ vựng, Tổng kết
về ngữ pháp.
Nhìn tổng quát, có thể thấy rõ cụm bài Tổng kết về từ vựng, Tổng
kết về ngữ pháp ( cũng như một số bài tổng kết khác ) là một nội dung mới
so với sách giáo khoa chỉnh lí trước đây. Cụm bài này có vò trí rất quan trọng
trong chương trình, không phải chỉ vì nó được giành một lượng thời gian lớn
(8 tiết ) mà bởi nó có nhiệm vụ tổng kết toàn bộ kiến thức từ vựng và ngữ
pháp trong toàn cấp học từ lớp 6 đến lớp 9. Như vậy, cái khó khăn lớn nhất
trong việc giảng dạy các tiết tổng kết này chính là nhiệm vụ của mỗi tiết
học khá “lớn lao” – tổng kết nhiều đơn vò kiến thức, trong đó có những nội
dung học sinh đã học từ hơn ba năm trước; mỗi tiết học các em vừa phải ôn
cả lí thuyết và thực hành luyện tập.
Một khó khăn cơ bản ảnh hưởng đến chất lượng dạy – học thể hiện ở
thực tế tình hình học văn của học sinh . Nhiều người đều thừa nhận học sinh
Trịnh Thị Hạnh – THCS Bùi Thị Xn 3
không yêu thích môn văn. Tuy nhiên vẫn có một bộ phận học sinh học văn
tốt. Điều đáng nói ở đây là, trong quá trình học tập, học sinh không có thói
quen hệ thống kiến thức ( dù đã được thầy cô hướng dẫn ), ít có thói quen
“ôn cố tri tân”. Chính vì vậy, khi ôn tập, tổng kết, phần lớn học sinh rơi vào
thế bò động, thụ động, quên hết cả. (Cũng có thể thông cảm phần nào vì có
nhiều bài các em học đã khá lâu). Với những trường vùng ven, vùng khó
khăn, khả năng tiếp thu của học sinh chậm, sự nhạy bén, năng động trong
đơn vò kiến thức mới mà còn phải biết hệ thống kiến thức theo từng phân
môn, từng cụm bài, nắm chắc kiến thức toàn cấp .
Trịnh Thị Hạnh – THCS Bùi Thị Xn 4
Phần Tổng kết về từ vựng, Tổng kết về ngữ pháp được giành thời
gian 8 tiết ( 5 tiết tổng kết về từ vựng và 3 tiết tổng kết về ngữ pháp ). Thực
ra khoảng thời gian 8 tiết không phải là ít, song một lượng kiến thức cần tổng
kết rất lớn vì vậy đòi hỏi cả giáo viên và học sinh phải hết sức tích cực (tích
cực trong việc chuẩn bò bài ở nhà, tích cực trên lớp, tích cực trong việc đổi
mới phương pháp dạy và học ) – hết sức tích cực mới có thể thực hiện thành
công mục tiêu của từng tiết học.
Trong những kiến thức về từ vựng, ngữ pháp từ lớp 6 đến lớp 9 được
tổng kết, mỗi vấn đề ôn tập được tách thành một mục riêng, mỗi mục có hai
phần : một phần ôn lại kiến thức ( chủ yếu là về các khái niệm ) ; một phần
là bài tập để nhận diện và vận dụng khái niệm, hiện tượng đã học.
- Phần Tổng kết về từ vựng được bố trí trong 5 tiết ở Học kì I :
+ Tiết 44 tổng kết 4 nội dung : Từ đơn và từ phức, Thành ngữ, Nghóa
của từ, Từ nhiều nghóa và hiện tượng chuyển nghóa của từ ;
+ Tiết 45 tổng kết 5 nội dung : Từ đồng âm, Từ đồng nghóa, Từ trái
nghóa, Cấp độ khái quát của nghóa từ ngữ, Trường từ vựng
+ Tiết 49 tổng kết 5 nội dung : Sự phát triển của từ vựng, Từ mượn, Từ
Hán Việt, Thuật ngữ và biệt ngữ xã hội, Trau dồi vốn từ
+ Tiết 53 tổng kết 2 nội dung : Từ tượng hình và từ tượng thanh, Một số
phép tu từ từ vựng ( gồm 8 phép tu từ ).
+ Tiết 59 : Luyện tập tổng hợp
- Ba tiết Tổng kết về ngữ pháp ở Học kì II ( tiết 146, 147, 154 ) bao
gồm bốn nội dung : Từ loại (12 từ loại ); Cụm từ ( 3 loại cụm từ ); Thành
phần câu ( 2 thành phần chính, 2 thành phần phụ, 4 thành phần biệt lập );
chủ động của học sinh trong tiết học mới được phát huy. Khách quan mà nói,
nếu không có sự chuẩn bò, không xem lại bài, ôn lại bài một cách nghiêm túc
thì lên lớp học sinh sẽ rất lúng túng, thụ động. Và như vậy dù bản thân giáo
viên có chuẩn bò kó thế nào thì tiết học cũng rất khó thành công, tiết học ấy
không thể đạt được yêu cầu tích cực.
Hiểu rõ điều đó, ngay từ đầu năm học, tôi đã giành thời gian hướng
dẫn hocï sinh học tập bộ môn. Một trong những yêu cầu đặt ra là phải hệ
thống kiến thức theo phân môn ( trong một cuốn vở riêng hoặc ngay cuối vở
ghi trên lớp, vở soạn )- vấn đề này cũng được trao đổi và thống nhất chung
trong tổ chuyên môn .
Đối với các tiết thuộc cụm bài tổng kết trên, tôi hướng dẫn học sinh
chuẩn bò bài như sau ( hướng dẫn chuẩn bò phần lí thuyết ):
* Phần Tổng kết về từ vựng (tiết 44, 45, 49, 53, 59), tôi cho HS hệ
thống 16 đơn vò kiến thức theo hai bảng :
Bảng 1. Hệ thống kiến thức từ vựng ( Gồm 15 nội dung )
Bảng 2. Hệ thống kiến thức về các phép tu từ từ vựng
Đối với các tiết Tổng kết về ngữ pháp (tiết 146, 147, 154), mặc dù có
tiết sách giáo khoa không trực tiếp đưa ra những câu hỏi về lí thuyết, nhưng
không có nghóa là trên lớp giáo viên không cần cho học sinh ôn lại lí thuyết.
Muốn thực hành luyện tập phải hiểu lí thuyết, phải dựa trên hiểu biết lí
thuyết . Bởi vậy, cũng như khi tiến hành các tiết Tổng kết về từ vựng, tôi
hướng dẫn các em hệ thống kiến thức ngữ pháp theo 4 bảng :
Bảng 1. Hệ thống kiến thức về từ loại
Bảng 2. Hệ thống kiến thức về cụm từ
Bảng 3. Hệ thống kiến thức về thành phần câu
Bảng 4. Hệ thống kiến thức về các kiểu câu
hướng dẫn của giáo viên để ôn lại, tổng kết lại những kiến thức đã học, giờ
học đạt hiệu quả cao hơn. Điều quan trọng là kiến thức các em hệ thống trên
trang vở phần lớn đã được ghi nhớ trong đầu.
Dưới đây là một số bảng hệ thống kiến thức minh họa :
Hệ thống kiến thức từ vựng ( trừ các phép tu từ )
TT Đơn vò kiến thức Nội dung
Ví dụ
1 Từ đơn và từ
phức
- Từ đơn : từ chỉ có một tiếng
- Từ phức : từ gồm hai hoặc nhiều
tiếng
- sách, vở,
- hoa hồng
2 Thành ngữ Là cụm từ có cấu tạo cố đònh, biểu
thò một ý nghóa hoàn chỉnh
Đánh trống
bỏ dùi
Trịnh Thị Hạnh – THCS Bùi Thị Xn 7
3 Nghóa của từ Là nội dung ( sự vật, tính chất, hoạt
động, quan hệ, ) mà từ biểu thò.
- Môït từ ngữ được coi là có nghóa
rộng khi phạm vi nghóa của từ ngữ đó
bao hàm phạm vi nghóa của một số
từ ngữ khác
- Môït từ ngữ được coi là có nghóa
hẹp khi phạm vi nghóa của từ ngữ đó
được bao hàm trong phạm vi nghóa
của một từ ngữ khác
- Một từ ngữ có nghóa rộng đối với
những từ ngữ này đồng thời có thể có
nghóa hẹp đối với một từ ngữ khác.
Sách – sách
giáo khoa –
sách giáo
khoa Ngữ văn
9 Trường từ vựng Là tập hợp của những từ có ít nhất
một nét chung về nghóa.
Chân, tay,
mắt, mũi,
10 Sự phát triển của
từ vựng
Từ vựng của một ngôn ngữ không
ngừng phát triển. Có hai cách phát
triển từ vựng : phát triển nghóa của từ
và phát triển số lượng từ. 11 Từ mượn Từ vay mượn của tiếng nước ngoài
- Từ tượng hình : Là những từ ngữ
gợi tả hình ảnh, dáng vẻ, trạng thái
của sự vật
- Từ tượng thanh : Là những từ ngữ
gợi tả âm thanh của tự nhiên, của
con người.
- Lom khom,
rũ rượi
- Róc rách
Hệ thống kiến thức về các kiểu câu
Kiểu câu Đặc điểm - chức năng
Ví dụ
Câu đơn
Là câu do một cụm C – V tạo thành.
Tôi học bài.
Câu
ghép
Là câu do hai hoặc nhiều cụm C – V
không bao chứa nhau tạo thành . Mỗi
cụm C – V này được gọi là một vế câu.
Vì trời mưa
nên đường lầy
lội
- Là câu có những từ nghi vấn (ai, gì,
nào, ) hoặc có từ hay (nối các vế có
quan hệ lựa chọn);
- Có chức năng chính là dùng để hỏi (kết
thúc bằng dấu chấm hỏi), có thể dùng để
cầu khiến, khẳng đònh, bộc lộ cảm xúc,
(kết thúc bằng dấu chấm, dấu chấm
- Bạn làm gì
thế ?
Trịnh Thị Hạnh – THCS Bùi Thị Xn 9
than, dấu chấm lửng)
Câu cầu
khiến
- Là câu có những từ cầu khiến như :
hãy, đừng, chớ đi, thôi, nào, hay ngữ
điệu cầu khiến; dùng để ra lệnh, yêu
cầu, đề nghò, khuyên bảo.
- Khi viết thường kết thúc bằng dấu
chấm than, có thể bằng dấu chấm.
- Cậu đừng
nghỉ học!
Câu
cảm
1. Hướng dẫn ôn tập lí thuyết :
Không phải là tiết dạy bài mới nên phương pháp qui nạp ( từ phân tích
ngữ liệu đến khái quát hình thành khái niệm ) không còn phù hợp. Trong tiết
tổng kết, có khi GV cho học sinh ôn lại kiến thức bằng cách cho nhắc l nội
dung rồi nêu ví dụ minh họa. Cứ như vậy lần lượt hết nội dung này đến nội
dung khác. Phương pháp này thực sự thiếu sáng tạo, học sinh chủ yếu hoạt
động cá nhân, trả lời theo kiểu ghi nhớ máy móc. Để tránh việc nhắc lại kiến
thức một cách đơn điệu gây nhàm chán, tôi đã chọn nhiều hình thức, cách
thức khác nhau.
- Cách thứ nhất : Sử dụng sơ đồ grap.
Trịnh Thị Hạnh – THCS Bùi Thị Xn 10
Chẳng hạn, ôn tập nội dung Từ đơn và từ phức ( tiết 44 ), thay vì hỏi :
“Thế nào là từ đơn, từ phức, phân biệt các loại từ phức ?”, tôi dán lên bảng
sơ đồ sau ( trong sơ đồ giới thiệu cho học sinh, có 3 ô đã có nội dung ( từ, từ
phức, từ láy vần ) rồi lần lượt cho HS thực hiện yêu cầu :
Từ phức
Từ ghép
Từ láy
Từ ghép
chính phụ
Từ ghép
đẳng lập
Từ láy
toàn bộ
Từ láy
bộ phận
Từ láy
âm
Từ láy
vần
Phát triển nghóa
từ
Ph¸t triĨn sè lỵng tõ ng÷
Phương thức
Èn dơ
Phương thức
ho¸n dơ
T¹o tõ ng÷
míi
Mượn từ ngữ
nêu trong câu.
1 -
2. Vò ngữ b. Là thành phần chính của câu có khả năng
kết hợp với các phó từ chỉ quan hệ thời gian
và trả lời cho các câu hỏi Làm gì ? Làm sao?
Như thế nào ? hoặc Là gì ?
2 -
3. Khởi ngữ c. Là thành phần chính của câu nêu tên sự
vật, hiện tượng có hành động, đặc điểm,
trạng thái, được miêu tả ở vò ngữ .
3 -
4. Trạng ngữ d. Là thành phần câu đứng trước chủ ngữ để
nêu lên đề tài được nói đến trong câu.
4 -
( Đáp án : 1 – c ; 2 – b ; 3 – d ; 4 – a )
Với những cách thức thực hiện như trên, tôi nhận thấy không khí lớp có
phần sôi động hơn, các em tỏ ra hào hứng hơn; hiệu quả hơn là chỉ mất ít thời
gian mà có thể nhiều em cùng được tham gia vào quá trình học tập.
Một thực tế cho thấy, giữa nhiều đơn vò kiến thức từ vựng và ngữ pháp
thường dễ có sự nhầm lẫn nếu không nắm vững. Vì vậy, khi ôn lại lí thuyết,
Trịnh Thị Hạnh – THCS Bùi Thị Xn 12
tôi luôn chú ý khắc sâu kiến thức cho học sinh bằng cách cho đối chiếu các
đơn vò kiến thức có mối quan hệ nào đó với nhau .
Chẳng hạn : Đối chiếu hiện tượng đồng âm với hiện tượng từ nhiều
nghóa ( Tiết 45 ). Học sinh cần hiểu đồng âm là hiện tượng nhiều từ có hình
2. Hướng dẫn làm bài tập:
Trong các tiết tổng kết, có tiết giành hẳn cho các bài tập vận dụng.
Điều đó cho thấy mục đích của việc tổng kết không chỉ là giúp học sinh ghi
nhớ kiến thức đã học mà còn giúp các em biết sử dụng những kiến thức đó
trong giao tiếp, đặc biệt trong việc tiếp nhận, phân tích văn bản, gắn việc dạy
Trịnh Thị Hạnh – THCS Bùi Thị Xn 13
học những vấn đề từ vựng, ngữ pháp với hoạt động thực tiễn. Như vậy, bên
cạnh việc hướng dẫn học sinh ôn lại kiến thức, cần chú trọng đúng mức việc
hướng dẫn luyện tập.
Tiến trình làm mỗi bài tập thường diễn ra theo thứ tự các bước sau:
- HS xác đònh yêu cầu của bài tập, đònh hướng cách làm (vận dụng kiến
thức nào, phương pháp làm ra sao)
- GV có những gợi ý hướng dẫn.
- Tổ chức cho HS giải đáp bài tập.
- Lớp nhận xét, sửa chữa, bổ sung.
- GV nhận xét, đánh giá.
Để hoạt động luyện tập có hiệu quả, tôi luôn chú ý tìm hiểu trước các
dạng bài tập, yêu cầu, tính chất của mỗi bài tập mà sách giáo khoa đưa ra;
Chọn hình thức hoạt động phù hợp ( Có thể cho hoạt động cá nhân, hoạt động
nhóm, có thể cho thi đua làm nhanh, đúng giữa các tổ, ); Chú ý các đối
tượng học sinh trong lớp, giao bài tập phù hợp cho từng đối tượng.
Trong tình hình hiện nay, việc học văn của học sinh có nhiều thuận lợi vì
sách tham khảo nhiều. Song, một số học sinh sử dụng không đúng. Làm bài
tập nhiều khi các em không đọc kó đề bài, cứ chép đáp án từ sách tham khảo
là xong. Hình thức đối phó ấy khá phổ biến, thật nguy hại. Cũng có trường
hợp khi hướng dẫn luyện tập, GV chỉ dừng lại ở việc học sinh xác đònh đáp
là mẹ thành công :
Trong câu Mẹ em rất hiền, mẹ có nghóa gốc ( như ở câu (a))
Trong câu Thất bại là mẹ thành công : mẹ - nghóa chuyển . Mẹ ở đây có
nghóa là cái gốc, cái chính, từ đó sinh ra những cái khác.
+ Nghóa của từ mẹ có phần chung với nghóa của từ bà ở phần nghóa
“người phụ nữ”.
Như vậy chỉ có ý (a) nêu cách hiểu đúng về nghóa của từ mẹ.
Từ bài tập trên, học sinh cần thấy rằng muốn làm được những bài tập
dạng này cần có kiến thức về nghóa của từ. Tra từ điển là một trong những
cách học tốt nhất để hiểu đúng nghóa của từ.
* Tiết 44. Bài tập IV/ 2 trang 124 – Từ nhiều nghóa
Yêu cầu : Trong hai câu thơ sau, từ hoa trong thềm hoa, lệ hoa được
dùng theo nghóa gốc hay nghóa chuyển ? Có thể coi đây là hiện tượng chuyển
nghóa làm xuất hiện từ nhiều nghóa được không ? Vì sao ?
Nỗi mình thêm tức nỗi nhà
Thềm hoa một bước lệ hoa mấy hàng !
( Nguyễn Du, Truyện Kiều )
Đây là một bài tập tương đối khó, thường chỉ những học sinh khá, giỏi
mới có thể giải thích rõ ràng.
Để giúp HS làm và hiểu được bài tập này, tôi sử dụng một số câu hỏi
gợi ý như sau :
- Từ hoa vốn có nghóa gốc là gì ?(một bộ phận trên cây, có màu sắc, )
- Trong câu thơ trên, từ hoa chỉ ai, sự vật gì ? Giữa sự vật được gọi tên
và sự vật được nói tới có quan hệ gì ? ( chỉ Thúy Kiều, nước mắt Thúy Kiều
– có điểm giống nhau -> ẩn dụ )
Như vậy, từ hoa trong câu thơ được dùng theo nghóa chuyển ( chỉ Thúy
Kiều, nước mắt Thúy Kiều ). Tuy nhiên không thể coi đây là hiện tượng
a. Lónh vực kinh doanh béo bổ này đã thu hút sự đầu tư của nhiều công
ti lớn trên thế giới.
b. Ngày xưa Dương Lễ đối xử đạm bạc với Lưu Bình là để cho Lưu
Bình thấy xấu hổ mà quyết chí học hành, lập thân.
c. Báo chí đã tấp nập đưa tin về sự kiện SEA Games 22 được tổ chức
tại Việt Nam.
Làm bài tập trên, học sinh phát hiện lỗi và sửa lỗi như sau :
+ ở câu (a): thay từ béo bổ bằng từ béo bở
+ ở câu (b) : thay từ đạm bạc bằng từ tệ bạc
+ ở câu (c) : thay từ tấp nập bằng từ tới tấp
Đáp án hoàn toàn đúng, song khi hỏi tại sao xác đònh lỗi dùng từ thể
hiện ở các từ béo bổ, đạm bạc, tấp nập ; tại sao phải thay bằng những từ béo
bở, tệ bạc, tới tấp thì rất ít em giải thích được, giải thích không rõ.
Cần giải thích được ở từng trường hợp như sau :
- Ở câu (a), từ béo bổ là từ ghép chỉ những chất, món ăn có tác dụng
cung cấp nhiều dưỡng chất cho cơ thể. Nội dung của câu văn nói về lónh vực
kinh doanh thu hút sự đầu tư của nhiều công ti lớn trên thế giới – theo suy
Trịnh Thị Hạnh – THCS Bùi Thị Xn 16
luận, đó phải là lónh vực mà các nhà kinh doanh nhận thấy dễ mang lại lợi
nhuận lớn, vậy phải dùng từ béo bở ( dễ mang lại nhiều lợi )
- Câu (b) : Nói về việc đối xử của Dương Lễ với Lưu Bình, cách đối xử
không tốt, không thể dùng từ đạm bạc ( sự ăn uống, chỉ có mức tối thiểu
những thứ cần thiết, không có những thức ăn ngon, đắt tiền ) mà phải dùng từ
tệ bạc ( tỏ ra không ghi nhớ ơn nghóa, không giữ trọn tình nghóa trước sau
trong quan hệ đối xử )
- Câu (c) cũng giải thích tương tự.
Từ bài tập này giúp học sinh nhận ra rằng yêu cầu trau dồi vốn từ ( rèn
+ Lí tưởng là từ chỉ khái niệm – nó là danh từ.
Trịnh Thị Hạnh – THCS Bùi Thị Xn 17
- Trong văn cảnh, các từ tròn, lí tưởng, băn khoăn đều đã chuyển loại :
+ Từ tròn (a) chỉ trạng thái của sự vật (mắt )- được dùng như động từ .
Cơ sở kiểm chứng là có thể kết hợp với đang hoặc một số phó từ khác .
+ Từ lí tưởng (b) chỉ tính chất nơi ở (theo sự nhìn nhận với thái độ lạc
quan ) – được dùng như tính từ. Có thể kết hợp với các phó từ chỉ mức độ như
rất, quá,
+ Từ băn khoăn (c) kết hợp với những ( từ kiểm chứng về danh từ ), có
ý nghóa chỉ sự vật – được dùng như danh từ.
* Tiết 154. Bài tập D/ I / 1 trang 146 – Các kiểu câu / câu đơn
Nhiệm vụ của học sinh khi làm bài tập này là tìm chủ ngữ, vò ngữ trong
câu.
Thay bằng việc cho xác đònh rồi lí giải, tôi cho học sinh nêu đặc điểm,
dấu hiệu nhận biết chủ ngữ, vò ngữ sau đó mới tiến hành xác đònh chủ ngữ, vò
ngữ trong từng câu. Như vậy đáp án các em nêu ra hoàn toàn có cơ sở về lí
thuyết.
* Tiết 154. Bài tập D/ II / 1 trang 147 – Các kiểu câu / câu ghép.
Khi học sinh tìm ra các câu ghép, tôi yêu cầu xác đònh các cụm C- V ở
từng câu để minh họa cụ thể ( Bài tập được ghi trên bảng phụ để học sinh
phân tích cấu tạo câu theo sơ đồ ).
Việc giải thích cơ sở của đáp án, cách làm đối với từng bài tập như đã
chủ động, tích cực tham gia xây dựng bài. Nhiều HS yếu cũng mạnh dạn phát
biểu bởi câu hỏi là những điều các em đã biết, đã ôn lại, nhớ được, tiết học
vì vậy sôi nổi hẳn lên.
Thứ ba, với yêu cầu làm bài tập như tôi đã đặt ra, nhiều em cũng có
dòp hiểu rõ hơn những điều trước đây các em chưa kòp hiểu. Một số em lâu
nay do năng lực yếu, chỉ nói dựa ( dựa vào sách giải ) nay cũng tập được tính
tự lập. Việc củng cố, khắc sâu kiến thức và rèn kó năng vận dụng thực hành,
vận dụng kiến thức Tiếng Việt trong giao tiếp cũng đạt được những kết quả
nhất đònh. Ngoài ra tôi cũng đã rèn cho học sinh năng lực phân tích, tổng hợp,
hệ thống hóa kiến thức theo từng cụm bài, từng phân môn,
Thứ tư, điều đáng mừng là trong những tiết học này các em thật sự có
tâm lí hứng thú chứ không bò sức ép sợ cô hỏi bài cũ mà không nhớ . Các em
cảm thấy thoải mái hơn mỗi khi vào học tiết Ngữ văn.
Có thể thấy rõ kết quả trong các bài kiểm tra của học sinh lớp 9 liên
quan đến kiến thức Tiếng Việt lớp 6, 7, 8, 9 cơ bản các em đều làm được.
D/ BÀI HỌC KINH NGHIỆM:
Để có được những tiết dạy – học tốt không phải chỉ chú ý tới một vài
yêu cầu. Những điều tôi đề cập trên đây chỉ là một số biện pháp thông
thường trong rất nhiều biện pháp, phương pháp mà người giáo viên luôn chú
trọng và vận dụng sáng tạo. Tuy chưa hoàn toàn được như mong muốn, song
với những kết quả đạt được, tôi coi đó là nguồn động viên lớn cho sự nổ lực
của mình . Qua thực tiễn các giờ dạy ấy, bản thân tôi đã rút ra một số bài học
kinh nghiệm như sau :
1/ Là người trực tiếp giảng dạy, giáo viên phải thực sự nhiệt tình, tâm
huyết với nghề nghiệp, trăn trở với bài dạy, tìm hiểu nắm chắc kiến thức cơ
bản của bài học và những kiến thức liên quan ; linh hoạt, sáng tạo trong việc
vận dụng phương pháp dạy học. Bản thân thầy cô giáo cần có thái độ thân
thiện, gần gũi, tận tụy với học sinh. Chỉ bảo, hướng dẫn về phương pháp học
tiêu lấy học sinh làm trung tâm, phát huy vai trò chủ động, tích cực của học
sinh trong việc chiếm lónh tri thức để không ngừng nâng cao chất lượng dạy -
học môn Ngữ văn theo yêu cầu của tinh thần đổi mới.