DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
TV : Tiếng Việt
GV : Giáo viên
HS : Học sinh
NXB : Nhà xuất bản
SGK : Sách giáo khoa
SGV : Sách giáo viên
TH-MN : Tiểu học – Mầm non
CNTT : Công nghệ thông tin
TS : Tiến sĩ
Th.s : Thạc sĩ
PGS : Phó giáo sƣ
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử vấn đề 2
2.2.2. Kết hợp vừa đọc vừa viết chữ. 26
2.2.3. Kết hợp phụ huynh cho tăng cƣờng phát âm tiếng Việt ở nhà 27
2.2.4. Sử dụng công nghệ thông tin và bảng chữ khoa học 28
2.2.5. Một số điểm cần lƣu ý đối với giáo viên khi hƣớng dẫn học sinh phát âm 32
TIỂU KẾT CHƢƠNG 2 33
CHƢƠNG 3: THIẾT KẾ GIÁO ÁN THỂ NGHIỆM 34
3.1. Mục đích thể nghiệm 34
3.2. Đối tƣợng, thời gian và địa bàn thể nghiệm 34
3.2.1. Đối tƣợng thể nghiệm 34
3.2.2. Thời gian và địa bàn thể nghiệm 34
3.3. Nội dung, phƣơng pháp thể nghiệm 34
3.3.1. Nội dung thể nghiệm 34
3.3.2. Phƣơng pháp thể nghiệm 35
3.4. Kết quả thể nghiệm 36
PHẦN KẾT LUẬN 38
TÀI LIỆU THAM KHẢO 40
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Phát triển Giáo dục là một trong những điều kiện hàng đầu để xây dựng và
phát triển một đất nƣớc. Xuất phát từ yêu cầu thực tế đó, Đảng và nhà nƣớc ta đặc
biệt quan tâm tới các cấp học, bậc học trong đó có Tiểu học. “ Tiểu học là cấp học
đặt cơ sở ban đầu cho sự hình thành và phát triển toàn diện nhân cách con người,
đặt nền tảng vững chắc cho giáo dục phổ thông và toàn bộ giáo dục quốc dân”
Ở bậc học tiểu học, nội dung môn học phong phú, mỗi môn học đảm nhận
một vai trò khác nhau. Môn Tiếng Việt với bảy phân môn là : Học vần, tập viết,
chính tả, tập đọc, kể chuyện, luyện từ và câu, tập làm văn sẽ càng trở nên có ý
nghĩa hơn bao giờ hết. Môn học này cung cấp cho các em những kiến thức cơ
bản về ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp…qua đó bồi dƣỡng tình yêu tiếng Việt, giữ
mà học sinh thƣờng mắc phải.
“Ngữ âm học Tiếng Việt hiện đại” của tác giả Cù Đình Tú – Hoàng Văn
Thung – Nguyễn Nguyên Trứ ( NXB Giáo dục, 1978) đã đề cập đến một số vấn đề
liên quan đến ngữ âm học trong nhà trƣờng. Mặc dù đã nêu lên một số biện pháp cụ
thể có liên quan đến luyện phát âm song chƣa hƣớng tới đối tƣợng cụ thể.
“Phƣơng pháp dạy học Tiếng Việt 1” của các tác giả Lê Phƣơng Nga – Lê A
– Lê Hữu Tỉnh – Đỗ Xuân Thảo – Đặng Kim Nga (NXB Đại học Sƣ phạm Hà
Nội, 2003) cũng đề cập đến phân môn Học vần về: mục tiêu, cơ sở tâm lí học,
ngôn ngữ học của việc dạy Học vần ở lớp 1.
“ Vui học Tiếng Việt” của tác giả Trần Mạnh Hƣởng ( NXB Giáo dục,
2000) là những trò chơi, những bài tập nhẹ nhàng về TV theo yêu cầu kiến thức
và kĩ năng sử dụng Tiếng Việt ở bậc Tiểu học giúp học sinh có thể vừa học vừa
chơi cùng bạn bè.
“Phƣơng pháp dạy tiếng Việt cho học sinh dân tộc cấp Tiểu học” (tài liệu bồi
dƣỡng giáo viên) của dự án phát triển giáo viên Tiểu học (NXB GD – 2006) đã
đề cập đến một số phƣơng pháp dạy học sinh dân tộc phát âm đúng tiếng Việt và
sửa lỗi phát âm thông qua đó dạy phát triển lời nói cho các em trong những bài
học âm vần.
3
Các công trình nghiên cứu trên là những định hƣớng quan trọng, quý báu cho
việc thực hiện khóa luận “Nâng cao hiệu quả luyện phát âm cho học sinh lớp 1
Trƣờng Tiểu học Chấn Thịnh – Văn Chấn – Yên Bái” mà chúng tôi đã lựa chọn.
3. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lí luận và khảo sát thực tế việc dạy và học phân môn Học vần ở
lớp 1, tìm hiểu ƣu điểm và hạn chế trong việc luyện phát âm cho học sinh nhằm
đề xuất một số biện pháp góp phần nâng cao chất lƣợng dạy và học phát âm cho
học sinh lớp 1 Trƣờng Tiểu học Chấn Thịnh – Văn Chấn – Yên Bái.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc dạy và học phát âm cho
học sinh lớp 1 ở Trƣờng Tiểu học Chấn Thịnh – Văn Chấn – Yên Bái.
9. Cấu trúc khóa luận
Ngoài các phần mở đầu, phần kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, phần
nội dung cơ bản của khóa luận gồm 3 chƣơng:
Chƣơng 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn.
Chƣơng 2: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả luyện phát âm cho học sinh
lớp 1 Trƣờng Tiểu học Chấn Thịnh – Văn Chấn – Yên Bái.
Chƣơng 3: Thiết kế giáo án thể nghiệm.
5
PHẦN NỘI DUNG
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Cơ sở tâm - sinh lí học của học sinh lớp 1 với việc luyện phát âm
Con ngƣời trong xã hội sẽ và phải trải qua những giai đoạn phát triển khác
nhau về tâm lý, nhận thức cũng nhƣ thể chất. Với nhiều giai đoạn khác nhau các
nhà nghiên cứu tâm lý đã chỉ ra rằng: từ 0 đến 6 tuổi là giai đoạn nền tảng, tiền
đề; từ 6 đến 11 tuổi là giai đoạn cơ sở mang tính quyết định trực tiếp tới sự hình
thành và phát triển nhân cách ở mỗi con ngƣời. Mỗi giai đoạn có các hoạt động
chủ đạo mang tính chuyên biệt riêng do đó bƣớc chuyển đổi này thƣờng có tác
động lớn đến tâm, sinh lý của trẻ.
Nếu ở trƣờng Mầm non vui chơi là hoạt động chủ đạo thì bƣớc sang giai
đoạn sau học tập sẽ là chủ yếu. Các em đƣợc tiếp xúc với những điều hoàn toàn
mới lạ, khác với những gì đƣợc chứng kiến trong 6 năm đầu của cuộc đời đứa
thiết để các em có thể viết, một hoạt động đòi hỏi sự chủ động trong hoạt động
của cánh tay, ngón tay, bàn tay với sự phối hợp của mắt nhìn, tai nghe, tay viết.
Ở thời kì này, ý thức về cấu trúc không gian của trẻ cũng hình thành. Sự
phân biệt bên phải, bên trái, bên trên, bên dƣới… không còn khó khăn đối với
các em. Dựa vào những đặc điểm này, GV có thể hƣớng dẫn các em tập viết,
luyện phát âm tốt hơn.
Từ những đặc điểm tâm – sinh lý trên đây GV cần tạo ra mục đích, động cơ
học tập sao cho nhẹ nhàng, sinh động, thu hút hứng thú học tập của các em. Tuy
nhiên, mỗi HS là một thực thể chủ động, một cá thể không lặp lại và khả năng
nhận thức của các em cũng khác nhau. Do vậy GV cần nắm bắt những đặc điểm
cũng nhƣ diễn biến tâm lý của HS từ đó có những biện pháp điều chỉnh, đặc biệt
là sự đổi mới về nội dung, hình thức sao cho phù hợp.
1.1.2. Cơ sở ngôn ngữ với việc luyện phát âm
Môn TV lớp 1 là một hệ thống khái niệm ngữ âm, đƣợc định nghĩa bằng cấu
trúc ngữ âm của tiếng. Ở điểm xuất phát cấu trúc ngữ âm của tiếng là một khối
liền, một thể thống nhất (Triết học gọi là thể thống nhất trừu tƣợng). Rời khỏi
7
điểm xuất phát, tƣ duy đi sâu vào bên trong nhƣng mới đạt mức độ thô, phân
giải cấu trúc ngữ âm ra làm 3 bộ phận cấu thành: thanh – phần đầu – phần vần.
Trong 3 bộ phận ấy thanh thì đã rõ ràng gồm 6 thanh là: thanh sắc, thanh huyền,
thanh nặng, thanh hỏi, thanh ngã, thanh ngang (trên chữ không ghi dấu khi viết).
Ngoài ra còn hệ thống các dấu phụ ^, v, ‟ trong âm â, ă, ƣ,…Với hai bộ phận âm
đầu vần, âm phải tiếp tục phân giải khi nào đến đơn vị ngữ âm nhỏ nhất (các âm
vị) thì mới dừng lại.
Bảng 1: Hệ thống ngữ âm TV đƣợc sắp xếp theo sơ đồ sau
Âm đầu
Âm
chính
Âm
cuối
8
Ngôn ngữ học đã chỉ rõ những nội dung cụ thể về các vấn đề của ngôn ngữ
nhƣ chữ viết, chính âm, chính tả, nghĩa của từ, câu, đoạn văn bản, ngữ điệu,nhịp
điệu, … Đó là vấn đề gắn bó trong việc dạy và học Tập đọc của thầy và trò bậc
tiểu học. Ngoài ra khi phát âm TV cũng phải chú trọng đến khẩu hình. Nguyên
âm TV có nhiều dạng khẩu hình rộng, hẹp khác nhau, có nhiều nguyên âm đòi
hỏi khẩu hình tròn nhiều, tròn ít hoăc tròn to, tròn nhỏ, chẳng hạn:
Nguyên âm a : Khẩu hình mở rộng hơi tròn, răng cửa hơi bị lộ ra, mặt lƣỡi
bằng, đầu lƣỡi tiếp giáp nhẹ với răng hàm dƣới. Tính chất âm không sắc nhọn
nhƣ i, e cũng không tối nhƣ o, u .
Nguyên âm e: Khẩu hình mở rộng, răng trên hơi lộ, phần lƣng lƣỡi hơi nhô
lên. Tính chất âm sáng sủa.
Nguyên âm o: Khẩu hình tròn, nhƣng không rộng bằng a, phần giữa của
môi trên nhô ra phía trƣớc một chút. Tính chất âm âm u.
Trong phát âm TV cũng cần lƣu ý đến phƣơng pháp nhả chữ. Chữ TV là
hình thức đơn âm đa thanh, mỗi chữ phát ra một âm, nếu âm thanh khác ta hiểu
sang một nghĩa khác.
Về chữ viết, chữ viết tiếng Việt là chữ ghi âm. Nguyên tắc cơ bản của kiểu
chữ này là nguyên tắc ngữ âm học, mỗi con chữ ghi một âm. Đặc điểm này tạo
điều kiện thuận lợi cho các em khi học vần.Tuy nhiên, chữ viết tiếng Việt còn
tồn tại một số bất hợp lí: trƣờng hợp một âm ghi bằng nhiều con chữ ( âm /k/ ghi
bằng ba con chữ: c, k, q)….Hoặc hiện tƣợng một con chữ ghi bằng nhiều âm
(chữ g trong tiếng gì và tiếng gà). Điều này dễ làm cho các em nhầm lẫn trong
cả khi đọc và viết.
Về chức năng, ngôn ngữ vừa là công cụ giao tiếp vừa là công cụ tƣ duy. Khi
hoạt động giao tiếp diễn ra cũng có nghĩa là những nhận thức, tƣ tƣởng, tình
Phân môn Học vần ở bậc Tiểu học rèn cho học sinh các kĩ năng: nghe, nói,
đọc, viết trong đó đọc và viết đƣợc đặc biệt ƣu tiên. Học vần có nhiệm vụ giúp HS:
Nắm đƣợc một cách có hệ thống các âm vị trong tiếng Việt: nguyên âm, phụ
âm, thanh điệu; nắm đƣợc các dạng chữ ghi âm: a, b, c …,các dấu ghi thanh:
thanh huyền, thanh ngã, thanh sắc, …, thuộc bảng chữ cái TV và phát âm một
cách chính xác.
10
Biết ghép âm, thanh điệu, vần, nắm đƣợc vị trí các âm trong vần, biết ghép
phụ âm đầu với vần tạo thành tiếng và phát âm đúng, đọc đúng, viết bảng đúng
tiếng đó.
Biết phát âm đúng chính âm, viết đúng chính tả các câu, vần và biết đọc các
từ, câu, đoạn văn, thơ trong bài học.
Rèn các kĩ năng sử dụng tiếng Việt cho HS đặc biệt là kĩ năng đọc (phát âm
chuẩn) và kĩ năng viết. Ngoài ra, phân môn Học vần còn giúp phát triển vốn từ
cho HS, tập cho các em viết đúng các mẫu câu ngắn, bồi dƣỡng lòng ham thích
thơ văn, mở rộng vốn hiểu biết về tự nhiên xã hội và giáo dục tƣ tƣởng, tình
cảm, đạo đức cho HS. Vì thế, trong giờ học vần cần thay đổi linh hoạt hình thức
hoạt động trí tuệ (đọc, viết, nghe, nói, sử dụng bộ chữ thực hành, băng chữ )
hoặc xen kẽ khoảng giải lao vài ba phút giữa tiết học (hát, chơi trò chơi học
tập ) để đảm bảo yêu cầu “học mà chơi, chơi mà học”. Bài dạy phải quán triệt
tinh thần “từ trực quan sinh động đến tƣ duy trừu tƣợng” nhằm phát huy tính
tích cực cho trẻ.
1.2. Cơ sở thực tiễn
1.2.1. Khảo sát thực trạng dạy - học phát âm cho học sinh lớp 1 Trƣờng
Tiểu học Chấn Thịnh
1.2.1.1. Mục đích khảo sát
Trên cơ sở thực hiện mục tiêu của khóa luận, chúng tôi tiến hành khảo sát
thực trạng dạy phát âm, học phát âm của giáo viên và học sinh Trƣờng Tiểu học
Chấn Thịnh qua đó để tìm hiểu những thuận lợi, khó khăn gặp phải trong quá
trình luyện phát âm, đặc biệt là tìm hiểu những biện pháp GV sử dụng cũng nhƣ
Tiếng Việt 1, tập 2
- Từ tuần 18 đến tuần 21 (chƣơng trình điều chỉnh đến tuần 24) tiếp tục học
xong phần vần.
- Từ tuần 22 trở đi (chƣơng trình điều chỉnh học từ tuần 25): luyện tập tổng
hợp, sách có cấu trúc mỗi tuần học 10 tiết gồm:
+ Tập đọc 3 văn bản (6 tiết).
+ Chính tả: 2 tiết.
+ Kể chuyện: 1 tiết.
+ Tập viết: 1 tiết.
12
Bảng 2: Chƣơng trình nội dung phân môn Học vần
Kiểu bài
Nội dung
Số bài
Làm quen
Chữ e, b và các dấu thanh
6 bài
Chữ cái và âm
Các con chữ đơn, kép thể hiện phụ âm,
nguyên âm, cách kết hợp con chữ thể
hiện vần thƣờng gặp.
25 bài
Vần thƣờng gặp
72 bài
Tổng
103
* Nhận xét:
Các bài làm quen với chữ cái đƣợc bố trí trên 2 trang sách với cấu trúc
dành nhiều thời gian luyện nói theo chủ đề cũng nhƣ rèn kĩ năng sử dụng nghi
thức lời nói.
1.2.2.2. Thực trạng luyện phát âm cho HS lớp 1 của GV Trường Tiểu học
Chấn Thịnh –Văn Chấn – Yên Bái
Trƣờng Tiểu học Chấn Thịnh đƣợc chia thành nhiều địa điểm học và phân
bố trên khắp địa bàn xã Chấn Thịnh với tổng số 20 lớp học. Trƣờng có 4 lớp 1
với tổng số là 105 em, 100% HS đi học đúng độ tuổi.
Trƣờng có 32 GV và đều đạt chuẩn GVTH, trong đó có: 3 GV trình độ đại
học, 14 GV trình độ cao đẳng và 15 GV trình độ trung cấp. Hầu hết GV trong
trƣờng đều đạt GV dạy giỏi các cấp trong đó có 1 GV dạy giỏi cấp tỉnh, 6 GV
dạy giỏi cấp huyện còn lại là GV dạy giỏi cấp trƣờng và GV các môn chuyên.
Qua khảo sát 13/31 GV trong trƣờng bao gồm các GV đã và đang dạy lớp 1,
chúng tôi thu đƣợc kết quả nhƣ sau:
Bảng 3 : Nhận thức của GV về việc luyện phát âm cho học sinh lớp 1
STT
Mức độ
Số lƣợng GVKS
Tỉ lệ
1
Quan trọng
11/13
84.6%
2
Bình thƣờng
2/13
15.4%
3
Không quan trọng
0
0%
84.6%
2
Phƣơng pháp giảng giải thuyết trình
13/13
100%
3
Phƣơng pháp luyện tập theo mẫu
13/13
100%
4
Phƣơng pháp trò chơi học tập
5/13
38.5%
5
Phƣơng pháp ứng dụng CNTT
2/13
15.4%
Bảng 6: Giáo viên luyện phát âm cho học sinh qua các hoạt động ngoài
giờ học vần
STT
Các hoạt động
Số lƣợng GV
Tỉ lệ
1
Dạy các môn học khác
10/13
76.9%
2
Truy bài đầu giờ
nhiều phƣơng pháp càng tốt mà vấn đề là: GV phải biết lựa chọn và sử dụng hợp
lí, linh hoạt các phƣơng pháp tạo sự hứng thú cho HS.
Hầu hết các GV cho rằng lớp 1 là giai đoạn đầu để trau đồi vốn ngôn ngữ,
việc sử dụng ngôn ngữ nói của HS tƣơng đối thành thạo nên GV dễ dàng uốn
nắn. Ở Trƣờng Tiểu học Chấn Thịnh, đội ngũ GV đƣợc phân công giảng dạy lớp
1 là ngƣời có kinh nghiệm giảng dạy, chuyên môn vững , số năm công tác tƣơng
đối cao, có lòng yêu nghề, mến trẻ. Đây là điều kiện thuận lợi bởi GV phát âm
chuẩn thì mới có thể giúp HS phát âm chuẩn cũng nhƣ sửa lỗi về phát âm. Để
việc luyện phát âm đạt kết quả cao GV còn phải chú ý rèn luyện khả năng phát
âm cho HS khi có điều kiện thuận lợi, bên cạnh đó cần có sự chuẩn bị chu đáo kĩ
lƣỡng, các hình thức tổ chức hấp dẫn, phong phú.
1.2.2.3. Thực trạng luyện phát âm của học sinh Trường Tiểu học Chấn Thịnh
– Văn Chấn – Yên Bái
Bƣớc vào lớp 1, nhìn chung các em đều hào hứng, phấn khởi vì những mới
lạ của môi trƣờng GD mà các em chƣa từng biết đến. Mọi thứ với các em nói
chung đều chứa đựng điều kì diệu. Việc phát âm cũng vậy. À, thì ra phải nói
16
như vậy” cùng với sự thích thú rất nhiều HS có khả năng phát âm chuẩn. Tuy
nhiên một số em rơi vào tình trạng „„ thu mình‟‟ với biểu hiện ít nói, không vui
chơi cùng các bạn…đây thƣờng là những em ít hứng thú với môn học nên việc
ghi nhớ và phát âm càng trở nên khó khăn. Khi nghiên cứu, điều tra tìm hiểu về
tâm lí của học sinh lớp 1 Trƣờng Tiểu học Chấn Thịnh – Văn Chấn – Yên Bái
tôi thu đƣợc kết quả nhƣ sau:
Bảng 7: Tâm lý của học sinh trong việc luyện phát âm
Số lƣợng học sinh
khảo sát
Hứng thú %
( Thích)
Không hứng thú %
(Không thích)
Bảng 9: Những lỗi phát âm sai phần vần học sinh thƣờng mắc phải
SLHSKS
Lớp
Phát âm sai phần vần
ân/uân
(%)
uynh/uych
(%)
en/eng
(%)
30
1A
12 (40%)
10 (33%)
8 (27%)
30
1B
13 (43%)
16 (53%)
7 (23%)
17
Bảng 10: Những lỗi phát âm sai về thanh điệu học sinh thƣờng mắc phải
SLHSKS
Lớp
Phát âm sai thanh điệu
(?)/(~)
(%)
(?)/(/)
nhận ra mình phát âm sai nên việc sửa lỗi phát âm tiếng Việt gặp khó khăn.
TIỂU KẾT CHƢƠNG 1 Ngôn ngữ là phƣơng tiện giao tiếp quan trọng bậc nhất của xã hội loài
ngƣời. Việc rèn luyện kĩ năng phát âm cho HS lớp 1 có những đặc thù mà ngƣời
GV trong quá trình giảng dạy phải nghiên cứu để tìm ra biện pháp rèn luyện
phát âm cho HS một cách hữu hiệu. Những hiểu biết về đặc điểm tâm lí của HS
18
lớp 1, khả năng sử dụng ngôn ngữ là cơ sở giúp GV lựa chọn các phƣơng pháp
nhƣ trực quan, phƣơng pháp trò chơi, phƣơng pháp luyện tập theo mẫu, … trong
rèn kĩ năng phát âm cho HS. Những hiểu biết về mục tiêu phân môn Học vần sẽ
giúp định hƣớng cho GV trong từng tiết học.
Qua kết quả khảo sát thực tế thu đƣợc của việc dạy – học phát âm tôi thấy
rằng đối với HS còn gặp rất nhiều khó khăn: về mặt tâm lí, về kĩ năng phát âm
dẫn đến mắc lỗi khi phát âm. Về phía GV cũng gặp phải không ít những vƣớng
mắc đối với việc áp dụng các phƣơng pháp mới vào giảng dạy. Thực trạng trên
là cơ sở quan trọng làm tiền đề để chúng tôi mạnh dạn đề xuất một số giải pháp
góp phần khắc phục hạn chế, nâng cao hiệu quả luyện phát âm cho HS lớp 1
Trƣờng Tiểu học Chấn Thịnh – Văn Chấn – Yên Bái.
khoa (SGK), hoặc tranh ảnh sƣu tầm nhƣng phải đẹp và rõ. Cần sử dụng phƣơng
pháp này đúng mức, không nên kéo dài.
2.1.2. Phƣơng pháp phân tích ngôn ngữ
Phân tích ngôn ngữ trong dạy vần thực chất là tách các hiện tƣợng ngôn ngữ
theo cấp độ : từ - tiếng- vần/ âm. Phƣơng pháp này giúp học sinh nắm chắc bài
học, tiếp thu kiến thức có hệ thống một cách chủ động, đặc biệt là phát triển ở
các em các kĩ năng tƣ duy nhƣ phân tích, tổng hợp, thay thế, so sánh…
- Phƣơng pháp phân tích ngôn ngữ đƣợc sử dụng khi giảng bài mới (tiết 1)
+ Giáo viên cho học sinh phân tích từ - tiếng- vần/âm .
+ Khi các em đã nắm đƣợc âm/vần mới thì tổng hợp trở lại và đọc trơn (có
thể làm theo quy trình ngƣợc lại : tổng hợp các âm thành vần, vần với âm đầu và
thanh thành tiếng, tiếng với tiếng thành từ).
20
+ Cũng có thể sử dụng phƣơng pháp phân tích ngôn ngữ trong các bài tập
ứng dụng trong đó HS tìm tiếng chứa âm, vần mới học hoặc âm, vần đang đƣợc
ôn tập.Ví dụ, tìm tiếng chứa vần iêu hoặc vần yêu trong các từ ngữ ứng dụng
: buổi chiều, hiểu bài, yêu cầu, già yếu.
Chú ý: Tuỳ thuộc mức độ và mục đích phân tích mà phƣơng pháp phân tích
ngôn ngữ có thể tiến hành theo các mức độ khác nhau nhƣ: quan sát ngôn ngữ
(là giai đoạn đầu trong quá trình phân tích ngôn ngữ nhằm tìm những điểm
giống và khác nhau và sắp xếp chúng theo một trật tự nhất định), phân tích ngữ
âm, phân tích chính tả, phân tích tập viết…
2.1.3. Phƣơng pháp giao tiếp (phƣơng pháp thực hành)
Phƣơng pháp giao tiếp là phƣơng pháp giáo viên hƣớng dẫn học sinh vận
dụng những tri thức sơ giản đã học vào việc thực hiện các nhiệm vụ giao tiếp cụ
thể bằng tiếng Việt. Giờ học vần không có tiết lí thuyết, vì vậy phƣơng pháp
giao tiếp cần đƣợc sử dụng thƣờng xuyên. Điều này cũng phù hợp với định
hƣớng giao tiếp của chƣơng trình môn Tiếng Việt.
- Thực hiện phƣơng pháp giao tiếp, giáo viên cần chuẩn bị trƣớc một hệ thống
câu hỏi, bài tập ngay từ khi soạn bài. Chẳng hạn:
bằng nhiều hình thức (cá nhân, nối tiếp, đồng thanh…).
+ GV lắng nghe, theo dõi học sinh phát âm, đây là việc làm quan trọng vì
khi giáo viên nghe học sinh đọc thì có thể dễ dàng nhận ra việc đọc của từng em
có đúng hay sai, khi phát hiện ra học sinh phát âm sai, giáo viên phải sửa ngay
cho các em. Lỗi phát âm của các em chủ yếu là lẫn lộn âm l/n. Đây là lỗi phát
âm phổ biến, nên khi hƣớng dẫn học sinh, giáo viên phải chỉ rõ cách phát âm.
Ví dụ:/ n/ là âm mũi, khi phát âm sờ tay vào mũi sẽ thấy mũi rung. Còn
khi phát âm / l / mũi không rung. Vì vậy muốn phát âm đúng âm /l/ chỉ cần bịt
mũi và tập.
Chú ý: Khi sử dụng phƣơng pháp luyện phát âm theo mẫu, chúng ta phải sử
dụng lƣợng thời gian, công sức cao vì đây là phƣơng pháp mô phỏng, học sinh
bắt chƣớc làm theo. Do đó GV cần chuẩn bi chu đáo tỉ mỉ mẫu phát âm.
22
2.2. Một số biện pháp luyện phát âm cho học sinh
2.2.1. Sử dụng trò chơi trong dạy học luyện phát âm
Trò chơi là biện pháp giúp con ngƣời thoải mái về tâm lí, giải trừ đƣợc
những căng thẳng, góp phần tạo hứng thú để làm việc, học tập. Sử dụng trò chơi
trong giảng dạy tức là đƣa trò chơi vào trong tiết học để trò chơi trở thành một
phần của tiết học, làm cho tiết học trở nên sôi nổi, HS hứng thú học tập.
Tác dụng của trò chơi trong dạy học luyện phát âm: Đối với học sinh
tiểu học, trò chơi là một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống của các em. Trò
chơi có sự cuốn hút mạnh mẽ với tất cả mọi ngƣời ở các lứa tuổi khác nhau. Đƣa
trò chơi vào lớp học tức là biến một hoạt động trên lớp thành trò chơi mà học
sinh vẫn có thể tiếp thu đƣợc kiến thức của bài học.
Việc biết cách sử dụng, tổ chức trò chơi trong tiết dạy của giáo viên sẽ là cơ
hội cho đông đảo học sinh tham gia. Không khí sôi nổi vui tƣơi của trò chơi sẽ
dúp các em thấy thỏa mái, hứng thú học tập.
Bên cạnh đó trò chơi còn rèn cho các em sự nhanh nhẹn, ý thức tự tổ chức,
sự đoàn kết, cũng nhƣ giúp các em làm quen với các tình huống giao tiếp, từ đó