TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÀ RỊA-VŨNG TÀU
KHOA : HÓA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ THỰC PHẨM
BÁO CÁO THỰC TẬP CHUYÊN NGÀNH
ĐỀ TÀI
TÌM HIỂU QUY TRÌNH CHẾ BIẾN MỦ CAO SU TẠI
XÍ NGHIỆP CAO SU XÀ BANG Trình độ đào tạo: Đại Học
Hệ đào tạo: Chính Quy
Ngành: Công Nghệ Hóa Học
Chuyên ngành: Hóa Dầu
Khoá học: 2011 - 2015
Đơn vị thực tập: Xí nghiệp cao su Xà Bang
Giảng viên hƣớng dẫn: Lê Thị Bích Ngọc
Sinh viên: Nguyễn Văn Anh
Lê Quang Sơn
Bà Rịa-Vũng Tàu, tháng 9 năm 2014
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU: 1
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ NHÀ MÁY. 2
2.3.2.4. Máy bơm cốm (Granule Transfer Pump): 26
2.3.2.5. Băng tải (Belt conveyor): 28
2.3.2.6. Sàn rung –Phễu phân phối (Vibrating Screen): 28
2.3.3. Giới thiệu các thiết bị quá trình cân, ép bành và đóng gói: 29
2.3.3.1. Cân điện tử: 29
2.3.3.2. Máy ép bành: 30
2.3.3.3. Thiết bị đóng gói: 32
Kết luận và kiến nghị 33
Tài liệu tham khảo 34
DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Sơ đồ tổ chức và bố trí nhân sự của nhà máy. 3
Hình 2.1: Sơ đồ chế biến mủ tinh 6
Hình 2.2: Cách xếp bành cao su vào kiện. 19
Hình 2.3: Hồ hỗn hợp. 20
Hình 2.4: Cân điện tử 300 Kg. 21
Hình 2.5: Máng chứa mủ trung gian. 21
Hình 2.6: Bơm nước kiểu piston. 22
Hình 2.7: Máy cán kéo. 23
Hình 2.8: Máy cán 1,2,3. 25
Hình 2.9: Máy băm tinh 25
Vũng Tàu, ngày tháng năm 2014
Xác nhận của đơn vị ĐÁNH GIÁ CỦA GIẢNG VIÊN HƢỚNG DẪN
1. Thái độ tác phong khi tham gia thực tập: 2. Kiến thức chuyên môn:
3. Nhận thức thực tế:
4. Đánh giá khác:
BÁO CÁO THỰC TẬP GVHD: Th.s Lê Thị Bích Ngọc
Trang 1
MỞ ĐẦU
Cao su (phiên âm từ chữ tiếng Pháp: caoutchouc) là một loại vật
liệu polyme vừa có độ bền cơ học cao và khả năng biến dạng đàn hồi lớn.
Cao su có thể là cao su tự nhiên (sản xuất từ mủ cây cao su) hoặc cao su tổng
hợp. Cao su ít bị biến đổi khi gặp nóng hoặc lạnh, cách nhiệt, cách điện, không
tan trong nước nhưng tan trong một số chất lỏng khác. Cao su có thể dùng để
làm lốp xe, bóng, bao cao su,
Cao su là một loại nhựa có tính đàn hồi, được làm bằng mủ lấy từ một vài
loại cây gốc Châu Mỹ hoặc Châu Phi.
Năm 1876 Henry Wickham người Anh chọn lựa khoảng 70.000 hột cao su
từ Brasil đem nhập lậu vào nước Anh. Từ số hạt giống này, chỉ trồng được 2600
cây song cũng đủ để trồng cây cao su ở các thuộc địa của Anh quốc về sau.
Cao su tự nhiên thường được chế biến từ nhựa cây cao su. Còn cao su nhân
tạo thường được chế biến từ than đá, dầu mỏ.
Việt Nam là nước đứng thứ năm về sản lượng cao su thiên nhiên và thứ tư
về xuất khẩu cao su thiên nhiên, sau Thái Lan, Indonesia, Malaysia.
Năm 2012, diện tích cây cao su của Việt Nam có khả năng đạt 850.000 ha,
chiếm khoảng 7% tổng diện tích cao su thế giới, xuất khẩu dự kiến đạt xấp xỉ 1
triệu tấn và trở thành nước thứ tư thế giới về xuất khẩu cao su thiên nhiên.
Theo quy hoạch phát triển ngành cao su của chính phủ, dự kiến đến năm
2015 tầm nhìn đến năm 2020, Việt Nam sẽ duy trì ổn định 800.000 ha và 1,2
triệu tấn cao su thiên nhiên hàng năm. Trong đó sẽ dành 30% cho ngành công
nghiệp chế biến trong nước và 70% còn lại dành cho xuất khẩu .
Ngành xuất khẩu cao su việt nam đang hướng đến các thị trường quốc tế,
- Diện tích xí nghiệp 7.2 ha, trong đó:
- Xưởng sản xuất mủ tinh với 2 dây chuyền chế biến mủ tinh, công suất
13.000 tấn mủ/ năm, diện tích 6.000 m
2
.
BÁO CÁO THỰC TẬP GVHD: Th.s Lê Thị Bích Ngọc
Trang 3
- Xưởng sản xuất mủ tạp có 1 dây chuyền chế biến mủ tạp, công suất 3.000
tấn/ năm, diện tích 4.000m
2
.
- Khu xử lý nước thải với diện tích 25.000 m
2
.
- Phần còn lại là văn phòng hành chính, căn tin, kho bãi, vườn cây.
1.3. Cơ cấu tổ chức và bố trí nhân sự của Xí nghiệp.
Xí nghiệp có 170 công nhân với 20 cán bộ quản lý. Với cán bộ quản lý đã
được đào tạo qua trường lớp chuyên môn nghiệp vụ và đội ngủ công nhân có
trình độ kỹ thuật cao. Các công nhân sản xuất được phân công luân phiên nhau
thay đổi theo 2 ca sản xuất.
Hình 1.1: Sơ đồ tổ chức và bố trí nhân sự của nhà máy.
BÁO CÁO THỰC TẬP GVHD: Th.s Lê Thị Bích Ngọc
Trang 4
Mủ cao su được chuyển từ các nông trường về xí nghiệp bao gồm mủ tinh và
mủ tạp. Do nhu cầu tiêu thụ của thị trường trên thế giới ngày càng lớn và đáp
ứng yêu cầu của khách hàng về mẩu mã, chủng loại. Vì vậy, Xí nghiệp chủ yếu
sản xuất các loại sản phẩm SVRCV60, SVRCV50, SVR3L, SVR5, SVR10,
SVR20. Với công suất 16.000 tấn sản phẩm/ năm.
1.5. Tình hình hoạt động của xí nghiệp trong những năm vừa qua.
- Đầu năm 2000, Công ty và nhà máy đã được cấp chứng chỉ “ hệ thống
quản lý chất lượng” đạt tiêu chuẩn ISO 9001: 2000 sau đó nâng lên phiên bản
2008. Cơ cấu sản phẩm chế biến theo yêu cầu của khách hàng: loại mủ có giá trị
cao như SVRCV chiếm tỷ trọng cao.
- Năm 2003, theo quyết định số 64/2003/QĐ- TT ngày 22/04/2003 của Thủ
tướng chính phủ đã xác nhận Xí nghiệp hoàn thành xử lý triệt để về công tác
môi trường.
- Năm 2007, UBND tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu khen tặng bằng khen về việc
thực hiện tốt công tác bảo vệ môi trường tại quyết định số 2046/QĐ-UBND
ngày 08/06/2007.
- Hàng năm xí nghiệp tổ chức thực hiện báo cáo giám sát môi trường 2
lần/năm. Kết quả chất lượng môi trường tại xí nghiệp đều đạt tiêu chuẩn Việt
Nam về chất lượng môi trường.
- Nhà máy Xà Bang sử dụng hệ thống xử lý nước thải, khí thải theo công
nghệ vi sinh của hãng DAMIFA ( Pháp),
- Năm 2008, Công ty đã được tặng Cúp vàng Thương hiệu xanh thân thiện
với môi trường.
- Sản phẩm của Công ty đã đạt được giải thưởng: Cúp vàng thương hiệu và
nhãn hiệu 2005: cúp vàng ISO 2007; cúp vàng chất lượng năm 2006, 2007, cúp
thương hiệu xanh thân thiện với môi trường. Công ty cũng đạt danh hiệu doanh
nghiệp xuất khẩu uy tín năm 2004, 2005, 2006.
2.2.1. Quá trình tiếp nhận và xử lí:
2.2.1.1. Quá trình tiếp nhận mủ tiểu điền (Số lƣợng ít):
- Mủ nước thường nhập về từ 11h ~ 18h hàng ngày. Mủ tiểu điền thường
được giao đến bằng xe máy, chứa trong thùng nhựa hoặc túi PE từ 30 ~ 60 Kg.
Tổ trưởng tiếp nhận sẽ quyết định cho xả vào hồ hỗn hợp nào dựa vào chất
lượng mủ và sản phẩm cần sản xuất.
Mủ nước
Tiếp nhận và xử lý
Đánh đông
Gia công cơ học
Sấy khô
Cân và ép bành
Bao bì và nhán dãn
Lưu kho
BÁO CÁO THỰC TẬP GVHD: Th.s Lê Thị Bích Ngọc
Trang 7
- Nhân viên tiếp nhận cho mủ vào máng chứa mủ trung gian thông qua lưới
lọc thô để tách rác.
- Thực hiện cân trọng lượng và in phiếu.
- Mở Valve xả mủ vào mương tiếp nhận, khi xả được khoảng phân nửa số
lượng mủ thì thực hiện lấy mẫu để kiểm tra DRC, pH và tạp chất. Mủ được chảy
qua rây lọc 40 mesh để lọc tinh trước khi chảy vào mương tiếp nhận.
- Các số liệu về trọng lượng mủ, tên khách hàng giao mủ…sẽ được ghi vào
sổ để theo dõi và làm căn cứ thanh toán tiền cho khách hàng.
- Nhân viên tiếp nhận bật cánh khuấy hồ hỗn hợp khoảng 5 phút để trộn
đều lượng mủ vừa tiếp nhận.
- Dùng vòi nước xịt rửa ngay rây lọc và máng chứa mủ trung gian.
2.2.1.2. Quá trình tiếp nhận mủ từ xe bồn (Số lƣợng lớn):
- Đầu tiên xe bồn phải chạy qua trạm cân để cân tổng trọng lượng của xe và
chống quá trình oxy hóa làm mủ bị sẩm màu, có thể dùng Sodiumdisulfit (Meta-
Bisulfit Natri) Na
2
S
2
O
5
để pha vào với hàm lượng 0.3 Kg / 1 tấn mủ quy khô.
- Cách pha Sodiumdisulfit:
Dựa vào lượng cao su quy khô trong hồ, tính ra được lượng hóa chất cần
dùng.
Dùng cân đồng hồ cân đúng lượng hóa chất cần dùng, cho vào thùng nhựa
có Valve xả đáy, cho nước vào pha loãng theo tỷ lệ 10% và dùng máy khuấy đều
trong 5 phút để hòa tan hoàn toàn. Sau đó mở Valve để xả vào hồ.
- Dựa vào DRC% và khối lượng mủ trong hồ đã biết, thêm nước vào để pha
loãng Latex trong khoảng 25 ≤ DRC% ≤ 28.
Chú ý:
Trong khi xả dung dịch Sodiumdisulfit vào hồ thì phải mở cánh khuấy hồ
để trộn đều trong 20 ~ 30 phút.
BÁO CÁO THỰC TẬP GVHD: Th.s Lê Thị Bích Ngọc
Trang 9
Công thức tính lượng nước pha loãng để có DRC% mong muốn: V
N
= V
M
(DRC
1
/ DRC
để đánh đông. Công thức tính lượng nước pha loãng acid tương tự như công
thức tính lượng nước khi hạ DRC%.
- Sau khi tính ra lượng nước cần pha, xả nước vào bồn acid, sau đó cho acid
vào bồn và mở cánh khuấy để khuấy đều. Chú ý phải cho nước vào trước, acid
vào sau. Thực hiện ngược lại có thể làm Acid văng lên gây nguy hiểm cho người
thao tác.
- Phương pháp xác định hàm lượng acid đánh đông:
Dụng cụ:
- Burette.
BÁO CÁO THỰC TẬP GVHD: Th.s Lê Thị Bích Ngọc
Trang 10
- Lọ thủy tinh 300 ml.
- Máy đo pH.
- Đũa thủy tinh.
- Ống lường.
Tiến hành thử:
Dùng ống lường đong 100 ml mủ Latex cho vào lọ thủy tinh. Mủ ở đây là
mủ chuẩn bị đánh đông, đã thực hiện qua xử lý hóa chất và được lấy từ hồ hỗn
hợp.
Dùng Burette nhỏ từ từ dung dịch acid Formic 1,5% vào lọ mủ và khuấy
đều, dùng máy đo pH để đo cho đến khi pH đạt trị số yêu cầu (Ví dụ pH = 5,2).
Ghi lại thể tích acid đã dùng.
Lượng acid V (lít) dùng để đánh đông được tính theo công thức sau:
thiết, để điều chỉnh bước đi đều từ đầu đến cuối mương và quay về điểm xuất
phát đúng trong 2 phút. Tuy nhiên cách này khó chính xác vì phụ thuộc vào kinh
nghiệm và kỹ năng của công nhân. Chú ý không xả acid trên bề mặt mủ mà phải
thọc vòi xả sâu dưới mặt mủ.
- Sau khi xả mủ vào mương, dùng vòi nước phun hạ bọt, đồng thời xịt rửa
lượng mủ bám trên thành mương. Nếu để mủ này đông lại sẽ bị hao hụt mủ và
mất nhiều công để vệ sinh. Chú ý hạ bọt kỹ sẽ làm bề mặt khối mủ đông láng
mịn. Tuy nhiên phun quá nhiều nước hạ bọt có thể làm hạ DRC đánh đông.
- Sau khi xả mủ vào mương, cần có 2 công nhân đẩy cào, mục đích là trộn
đều lượng mủ trong mương với dung dịch acid. Nếu dung dịch acid không được
trộn đều với mủ thì sẽ xảy ra hiện tượng đông cục bộ ảnh hưởng đến chất lượng
mủ đánh đông. Chú ý khoảng cách giữa 2 công nhân đẩy cào tối thiểu phải là
5m. Hai công nhân đẩy cào đi và về, như vậy tương đương với 4 lần cào cho 1
mương.
BÁO CÁO THỰC TẬP GVHD: Th.s Lê Thị Bích Ngọc
Trang 12
- Chú ý đối với mủ nước có pH cao (Từ 7.5 trở lên) cần phải đánh nhiều
acid và như vậy sẽ làm sậm màu cao su. Do đó mủ nước có pH cao không nên
dùng sản xuất SVR 3L do có thể không đạt chỉ tiêu màu sắc.
- Công nhân xịt nước hạ bọt vẫn liên tục hạ bọt cho mặt mủ đông được
láng, đẹp, đồng thời xịt rửa sạch những vệt mủ văng bám vào thành mương.
- Sau 30 phút ~ 1 giờ, mủ bắt đầu đông mặt. Để tránh cho bề mặt mủ bị oxy
hóa làm sẩm màu hoặc đốm đen thì lúc này cần xịt một lớp mỏng đều dung dịch
Natri Metabisulfit pha loãng 5% lên bề mặt mủ đông. Lượng hóa chất dùng
khoảng 0.3 Kg/1 tấn mủ quy khô.
- Cần để thuần thục khối mủ đông tối thiểu 6h và không quá 24h là phải
thực hiện quá trình xử lý cơ học. (Tốt nhất nên để 8h).
- Chú ý các số liệu như mủ xả từ hồ hỗn hợp nào, xả vào mương nào, để
sản xuất sản phẩm gì… cần ghi chép rõ ràng vào sổ lưu trử và bảng quản lý
để cán, không nên xả nước sớm quá sẽ dể bị oxy hóa làm xạm màu khối mủ.
- Tờ mủ sau khi cán được thả vào mương nước dưới máy và đẩy dần đến
băng tải của chuyền cán và băm cốm.
- Nhân viên vận hành máy cán kéo phải luôn chú ý quan sát trong quá trình
cán, nếu thấy tình trạng bất thường hoặc chuyền cán băm không cán kịp thì nhấn
nút tạm dừng máy cán kéo.
- Tờ mủ được băng tải chuyển qua các máy cán Creper 1, 2, 3 để cán ép tờ
mủ xuống còn bề dày khoảng 4 ~ 6mm trước khi đưa vào máy băm tinh. Khe hở
trục cán các máy Creper 1, 2, 3 được chỉnh như sau:
Máy Creper 1 có khe hở 5.0mm±1.0mm, trục cán cắt rảnh 5.0mm x
5.0mm.
Máy Creper 2 có khe hở 2.0mm±1.0mm, trục cán cắt rảnh 4.0mm x
4.0mm.
BÁO CÁO THỰC TẬP GVHD: Th.s Lê Thị Bích Ngọc
Trang 14
Máy Creper 3 có khe hở 0.5mm±0.1mm, trục cán cắt rảnh 2.5mm x
2.5mm.
- Chú ý trong quá trình cán phải liên tục tưới nước vào giữa 2 trục cán các
máy Creper để rửa serum.
- Nhân viên vận hành phải chú ý quan sát tờ mủ để chỉnh khe hở trục cán
thích hợp. Nếu tờ mủ mềm (DRC thấp) thì chỉnh khe hở nhỏ lại để đảm bảo ép
serum ra hết. Tờ mủ sau khi cán phải đồng đều và không lẫn các đốm đen.
(Nguyên nhân bị lẫn đốm đen là có thể do không vệ sinh sạch sẽ trục cán trước
khi cán).
- Chú ý quan sát để chỉnh tốc độ các băng tải cấp mủ đồng bộ với tốc độ
các máy cán.
- Tờ mủ ra từ máy Creper 3 được băng tải chuyển vào máy băm tinh
Shredder. Cốm băm ra có kích thước khoảng 3 x 5mm rơi vào hồ rửa mủ. Hạt
cốm phải tơi, xốp.
- Kiểm tra nguồn điện cung cấp 3 pha và bảo đảm có dây nối đất tốt.
- Bật CB chính và kiểm tra tất cả các đèn báo 3 pha đều sáng, nếu bất kỳ
đèn nào không sáng cần kiểm tra lại nguồn điện cung cấp và thay ngay nếu đèn
bị hư hỏng.
- Khởi động quạt thải (Exhaust Fan).
- Khởi động quạt chính khu vực đầu ướt (Burner 1) trước và đợi khoảng
30s để đạt tốc độ định mức và dòng điện ổn định.
- Tiếp tục khởi động quạt chính đầu khô (Tương tự như trên).
- Mở Valve ống cấp dầu cho các đầu đốt.
- Bật công tắc khởi động đầu đốt Burner 1. Béc phun 1 sẽ hoạt động trước
trong khoảng 15s. Trong thời gian đó đèn báo bộ điều khiển của Burner sẽ nhấp
nháy màu vàng. Sau 15s đèn chuyển sang xanh, béc phun 2 hoạt động và đầu đốt
bắt đầu gia nhiệt cho lò. Chú ý nếu đèn báo sau khi nhấp nháy thì chuyển sang
BÁO CÁO THỰC TẬP GVHD: Th.s Lê Thị Bích Ngọc
Trang 16
màu đỏ, hoặc nhấp nháy giữa xanh và đỏ là có sự cố xảy ra, cần báo nhân viên
kỹ thuật kiểm tra lại ngay.
- Khi nhiệt độ Burner 1 đạt khoảng 90
o
C thì khởi động Burner 2 (Tương tự
khởi động Burner 1).
- Khởi động máy lọc không khí
- Khi nhiệt độ Burner 1 tăng đến điểm nhiệt độ cài đặt dưới 10
o
C thì bật
máy xích để đưa Trolley vào lò ở chế độ Manual. Sau đó chuyển qua vị trí Auto.
- Các xe được phân phối cùng một trọng lượng cao su và đầy đều nhau.
- Lấy sạch những mảnh vụn bên trong và bên ngoài của xe trước khi cho
cao su mới vào
do thao tác không đúng khi phân phối cốm) nên không chin đều. Cần kiểm tra
lại để có biện pháp xử lý thích hợp.
- Hiện tượng cánh gián (Mủ bị cháy cạnh): nguyên nhân do nhiệt độ cài đặt
hơi cao, cần giảm nhiệt độ xuống để khắc phục.
- Hiện tượng mủ bị chảy nhão: nguyên nhân có thể do đánh đông thiếu
acid, mủ đông không đạt. Cần kiểm tra lại quy trình đánh đông.
Chú ý trường hợp nguyên thùng sấy đều bị sống hạt do thiếu nhiệt độ thì
cho thùng quay lại đầu lò, xịt nước lên thùng mủ và cho vào sấy lại lần nữa. Mủ
sau sấy sẽ bị rớt hạng thành SVR 5.
Nguyên tắc quan trọng ở công đoạn sấy là không chấp nhận hiện tượng
mủ sấy còn sống.
2.2.6. Quá trình cân, ép bành và đóng gói:
- Xe mủ sau khi ra khỏi lò sấy sẽ được công nhân thao tác gỡ mủ ra khỏi
thùng và xếp trên bàn thao tác. Mủ chỉ được ép bành khi nhiệt độ ≤ 40
o
C. Nếu
quạt nguội trong lò làm nguội chưa đạt thì phải để mủ nguội thêm ngoài không
khí.
- Trước mỗi ca làm việc phải kiểm tra lại độ chính xác của cân bằng quả
cân chuẩn (33.33 Kg).