ĐỀ TÀI: Công tác xã hội với việc thực hiện dân số kế hoạch hoá gia đình của xã Lương Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình” - Pdf 22

Công tác xã hội với việc thực hiện dân số - kế hoạch hoá gia đình của xã Lương
Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình”
A. MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Công tác dân số - kế hoạch hoá gia đình luôn được xác định là một bộ
phận quan trọng của Chiến lược phát triển đất nước, một trong những vấn đề
kinh tế xã hội hàng đầu của quốc gia. Thực hiện tốt công tác dân số - kế hoạch
hoá gia đình là giải pháp cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của từng
người, từng gia đình và của toàn xã hội. Trong những năm qua, Đảng và Nhà
nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách, luật pháp, chiến lược nhằm
quan tâm toàn diện đến công tác dân số - kế hoạch hoá gia đình. Tổng cục
Dân số - Kế hoạch hoá gia đình và các Bộ, ngành liên quan đã ban hành nhiều
thông tư liên tịch, văn bản hướng dẫn để thực hiện có hiệu quả các chủ
trương, chính sách của Đảng và luật pháp của Nhà nước về công tác này.
Ngày 14/01/1993 tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá VII
Đảng ta đã ban hành Nghị quyết số 04 về chính sách dân số và kế hoạch hoá
gia đình (gọi tắt là Nghị quyết TW 4 khoá VII), đây là văn bản có tính chất
quan trọng, làm tiền đề cho những quyết sách về công tác dân số - kế hoạch
hoá gia đình sau này của Đảng và Nhà nước. Quán triệt và thực hiện các chủ
trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước, qua hơn 10 năm
thực hiện Nghị quyết TW 04 khoá VII, với sự chỉ đạo sâu sát của các cấp uỷ
đảng, chính quyền, sự tham gia tích cực của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể
và sự hưởng ứng mạnh mẽ của nhân dân, chính sách dân số - kế hoạch hoá gia
đình đã thực sự đi vào cuộc sống và đạt được những kết quả quan trọng: nhận
thức của toàn xã hội đã có bước chuyển rõ rệt, quy mô gia đình có một hoặc
hai con được chấp hành ngày càng rộng rãi; tốc độ gia tăng dân số đã được
khống chế, số con trung bình của một phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ giảm từ
3,5 con năm 1992 xuống 2,28 con năm 2002, tỷ lệ tăng dân số giảm tương
ứng từ hơn 2% còn 1,32%. Kết quả công tác dân số - kế hoạch hoá gia đình
SVTH:Nguyễn Duy Vương GVHD: Thạc sỹ Nguyễn Thị Nha Trang
1

2
Công tác xã hội với việc thực hiện dân số - kế hoạch hoá gia đình của xã Lương
Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình”
Xuất phát từ mục đích ý nghĩa to lớn ấy, chính sách dân số - kế hoạch gia
đình cần phải được quan tâm, củng cố và nâng cao chất lượng hoạt động.
Nhằm góp phần nhận thức đúng đắn hơn về vấn đề này tôi chọn đề tài “Công
tác xã hội với việc thực hiện dân số - kế hoạch hoá gia đình của xã Lương
Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình” để làm đề tài nghiên cứu. Với
những khẳng định nêu trên để xây dựng đất nước.
2.Mục tiêu nghiên cứu:
Đánh giá tình hình công tác thực hiện dân số - kế hoạch hoá gia đình
tại địa bàn xã Lương Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình
Tìm hiểu các nguyên nhân và những yếu tố dẫn đến việc gia tăng dân số
hiện nay trên địa bàn xã.
Tìm hiểu thái độ, suy nghĩ của người dânvề giáo dục tư vấn kế hoạch
hoá gia đình
Đưa ra một số đề xuất góp phần tăng cường hiệu quả của công tác thực
hiện dân số - kế hoạch hoá gia đình tại địa bàn xã Lương Ninh, huyện Quảng
Ninh, tỉnh Quảng Bình
3. Phương pháp nghiên cứu:
3.1. Phương pháp thu thập thông tin:
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tôi đã sử dụng một số phương pháp
thu thập thông tin như: quan sát, phỏng vấn, đọc và phân tích tài liệu.
3.1.1 Phương pháp quan sát:
Sử dụng phương pháp quan sát để nhìn nhận cuộc sống gia đình quan
sát từ đó rút ra các điều kiện ảnh hưởng trực tiếp hay gián tiếp đến địa
phương, việc quan sát này rất có ý nghĩa trong việc thu thập thông tin để đưa
ra các giải pháp nhằm giải quyết các vấn đề đang tồn tại của địa phương.
3.1.2 Phương pháp phỏng vấn:
Đề tài đã tiến hành phỏng vấn, trao đổi ý kiến với lãnh đạo xã và người

Chương 3. Công tác xã hội với việc thực hiện dân số kế hoạch hoá gia
đình tại xã Lương Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình
B. NỘI DUNG
SVTH:Nguyễn Duy Vương GVHD: Thạc sỹ Nguyễn Thị Nha Trang
4
Công tác xã hội với việc thực hiện dân số - kế hoạch hoá gia đình của xã Lương
Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình”
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU VÀ
CÁC KHÁI NIỆM LIÊN QUAN
1.1.Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Không chỉ gần đây mà đã từ lâu công tác dân số luôn được Đảng và Nhà
nước ta quan tâm và coi đó là nhiệm vụ quan trọng của chiến lược phát triển
đất nước. Nhất là những năm gần đây công tác dân số được chú trọng quan
tâm, được xem là nhiệm vụ vô cùng quan trọng trong sự phát triển kinh tế xã
hội của đất nước. Chính vì thế mà vấn đề DS-KHHGĐ ở xã Lương Ninh đã
đạt được nhiều thành công đáng khích lệ song bên cạnh đó vẫn còn một số
hạn chế và khó khăn đang cần được tháo gỡ và giải quyết.
Do vậy mà báo cáo tốt nghiệp đề tài nghiên cứu “CTXH với việc thực
hiện dân số kế hoạch hóa gia đinh của xã Lương Ninh, huyện Quảng Ninh,
tỉnh Quảng Bình” không hoàn toàn mang ý chủ quan, hay là một “phát kiến”
và cũng không phải là một chủ đề gì mới mẽ trong khoa học nghiên cứu thậm
chí là đã được nói đến rất nhiều. Thế nhưng đây là vấn đề luôn nóng bỏng ở
xã Lương Ninh nói riêng và cả nước nói chung cũng như trên toàn thế giới
bởi tốc độ gia tăng dân số đang diễn ra ngày càng cao và cùng với nó là nhiều
vấn đề khó khăn phức tạp như nghèo đói, ô nhiễm môi trường và nhiều vấn đề
khác. Nhưng cái mới trong nghiên cứu này đó là việc lột tả được những kiến
thức hiểu biết của người dân về DS-KHHGĐ, chất lượng dân số hiện nay ở xã
Lương Ninh, đồng thời nghiên cứu này góp phần đưa ra những nguyên nhân
lý giải được thực trạng hiện tại đó và tìm ra phương án giải quyết những tồn
tại về vấn đề DS-KHHGĐ trên địa bàn xã Lương Ninh.

1.2.1.2. Khí hậu
Là một xã nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa nên thời tiết trong năm
được chia thành 2 mùa rõ rệt: mùa khô và mùa mưa
SVTH:Nguyễn Duy Vương GVHD: Thạc sỹ Nguyễn Thị Nha Trang
6
Công tác xã hội với việc thực hiện dân số - kế hoạch hoá gia đình của xã Lương
Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình”
Nhiệt độ trung bình hằng năm là 25C được chia thành 2 mùa: mùa lạnh
và mùa nóng
Mùa lạnh từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau với nhiệt độ trung bình là
20,5độ C.
Mùa nắng từ tháng 5 đến tháng 10 với nhiệt độ trung bình là 30,5 độ C
Độ ẩm không khí trung bình hằng năm khoảng 80,50. Lương Ninh là xã
thịnh hành với hai hướng gió chính đó là:
Gió mùa đông bắc: hình thành từ tháng 8 đến tháng 2 năm sau, tốc độ
gió thường từ cấp 3 đến cấp 4 trung bình mỗi năm có 3-5 đợt gió. Gió mùa
Đông Bắc thường làm cho nhiệt độ không khí giảm kèm theo mưa kéo dài
ảnh hưởng đến sản xuất và đời sống người dân nhất là trẻ em, phụ nữ và
người già.
Gió Tây Nam: hình thành từ tháng 4 đến tháng 8, tốc độ gió đạt đến cấp 3,
cấp 4 mạnh nhất là tháng 6 và tháng 7, đây là thời gian nóng nhất trong năm.
Là một xã miền núi thuộc miền Trung Trung Bộ nên xã Lương Ninh
cũng phải đón nhận nhiều cơn bão hàng năm. Bão lụt thường xuất hiện vào
tháng 10, 11AL. Gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường và đời sống
sinh hoạt của nhân dân trong xã.
1.2.2. Điều kiện kinh tế-xã hội
1.2.2.1. Lĩnh vực kinh tế
Sản xuất nông nghiệp: Tổng diện tích geo trồng cây hang năm
429,9/420 ha, đạt 102,3%. Tổng sản lượng lương thực có hạt 1260,3/1213 tấn,
đạt 103,8% trong đó sản lượng lúa là: 1238,5/1192 tấn, năng suất lúa bình

đạt 6.942.841.804 đồng, đạt 125% dự toán huyện giao, tăng 20% so với năm 2011.
Tổng chi ngân sách là: 6.564.006.644 đồng, đạt 110%KH, nguyên nhân
do tăng lương, chế độ bảo trợ xã hội, các khoản chi phát sinh tăng.
1.2.2.2. Lĩnh vực văn hóa xã hội
Giáo dục
Công tác giảng dạy của các trường được nâng lên. Chất lượng ngày càng
cao, học sinh giỏi, khá các cấp học đạt tỉ lệ cao, học sinh tốt nghiệp THCS đạt
100%. Cán bộ, giáo viên, CNVC của 3 trường ổn định, luôn gương mẫu thực
hiện tốt cuộc vận động học tập làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.
Hoạt động của trung tâm học tập cộng đồng xã được củng cố.
SVTH:Nguyễn Duy Vương GVHD: Thạc sỹ Nguyễn Thị Nha Trang
8
Công tác xã hội với việc thực hiện dân số - kế hoạch hoá gia đình của xã Lương
Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình”
Hoạt động Văn hóa – Thể thao, Truyền thanh: Công tác thông tin tuyên
truyền chào mừng các sự kiện lễ lớn, phục vụ nhiệm vụ chính trị tại địa
phương, giáo dục pháp luật, xây dựng đời sống văn hóa, phòng chống tệ nạn
ma túy, phòng chống bạo lực gia đình… được tổ chức rộng khắp. Duy trì và
phát huy tốt các cụm truyền thanh trên địa bàn xã nhằm nâng cao chất lượng
hoạt động trên kênh thông tin đại chúng, góp phần phổ biến kịp thời các chủ
trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước.
Công tác Lao động – Thương binh và Xã hội: Triển khai thực hiện đạt
kết quả chương trình giảm nghèo, việc làm, bảo vệ chăm sóc, giáo dục trẻ em.
Tổ chức triển khai thực hiện hỗ trợ nhà ở theo Nghị định 67/CP là 37 nhà,
nâng tổng số nhà ở người nghèo được hỗ trợ xây dựng từ năm 2009 đến nay
là 173 nhà. Đã cấp phát 2.438 thẻ BHYT cho người nghèo, người cận nghèo
và đối tượng xã hội. Kết quả điều tra hộ nghèo năm 2012, hộ nghèo là 207 hộ,
tỷ lệ 18,09 % giảm 7,02 % hộ cận nghèo 198 hộ, tỷ lệ 17,31% giảm 6,4%.
Công tác Y tế - Dân số - Gia đình và trẻ em: Thực hiện tốt công tác
khám, chữa bệnh cho nhân dân. Công tác tiêm chủng mở rộng đạt 100%, tỷ lệ

chủ động tự ra quyết định số con, thời gian sinh con và khoảng cách các lần
sinh nhằm bảo vệ sức khỏe, nuôi dạy con có trách nhiệm, phù hợp với chuẩn
mực xã hội và điều kiện gia đình.
1.3.7 Sức khỏe sinh sản
Sức khỏe sinh sản là sự thể hiện trạng thái thể chất, tinh thần và xã hội
liên quan đến hoạt động chức năng sinh sản của mỗi con người.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC DÂN SỐ - KẾ
HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH TẠI XÃ LƯƠNG NINH HUYỆN
QUẢNG NINH TỈNH QUẢNG BÌNH
2.1. Thực trạng công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình
2.1.1. Thực trạng tình hình chung
SVTH:Nguyễn Duy Vương GVHD: Thạc sỹ Nguyễn Thị Nha Trang
10
Công tác xã hội với việc thực hiện dân số - kế hoạch hoá gia đình của xã Lương
Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình”
Trên cơ sở bài giảng, số liệu thu thập qua một số tài liệu cho thấy dân số
thế giới nói chung, dân số Việt Nam, và dân số địa phương nói riêng hằng
năm luôn luôn có sự gia tăng.
2.1.2. Thực hiện tình hình dân số và hoạt động công tác DS-KHHGĐ
Lương Ninh là xã đông dân, tính đến năm 2013 có 1069 hộ, 4077 khẩu.
Phân bố dân cư không đồng đều. Kinh tế-xã hội có phần tương đối phát triển
hơn những xã khác nhưng cũng là địa bàn tập trung dân cư đông đúc, trình độ
dân trí có phát triển nhưng tính chất của các hoạt động cứng khá đa dạng phức
tạp. Bởi lẽ đó nên các phong trào 1 trong những xã mạnh, nhưng mạnh nhất là
công tác y tế phục vụ cho việc chăm sóc bảo vệ sức khỏe nhân dân. Công tác
y tế ở xã nhiều năm đều được huyện, Sở y tế công nhận là đơn vị có nhiều
thành thích xuất sắc. Do đó Lương Ninh những năm trước đây là xã luôn chọn
làm xã điểm thực hiện các chưng trình y tế quốc gia. Vào những năm cuối
thập kỷ 80 công tác DS-KHHGĐ là công tác mới mẽ trên địa bàn huyện, trình
độ nhận thức của nhân dân lúc này hầu hết chưa nắm bắt được thông tin gì về

Từ năm 1991- nay theo tinh thần của trên tại xã đã thành lập Ban Dân số
và đội ngũ cộng tác viên, trong những năm gần đây Lương Ninh đã thực hiện
tốt chỉ tiêu nhiệm vụ công tác DS-KHHGĐ. Trong những năm gần đây tỷ lệ
phát triển dân số, tỷ suất sinh thô có giảm xuống. Đội ban ngành dân số, cộng
tác viên và các cán bộ chuyên trách dân số đồng thời được trang bị kiến thức,
ngũ cán bộ làm công tác dân số đã được tập huấn, năng lực được nâng cao,
hoạt động công tác tuyền truyền đi vào chiều sâu. Tạo được sự được phong
trào chấp hành sinh đẻ có kế hoach trong nhân dân.
2.1.3. Đặc điểm tình hình, các chỉ báo DS-KHHGĐ
2.1.3.1. Đặc điểm tình hình
Thực hiện chủ trương và kế hoạch của Trung tâm DS-KHHGĐ huyện
Tiên Phước, trên cơ sở chỉ tiêu về lĩnh vực DS-KHHGĐ mà Nghị quyết của
Đảng uỷ-HĐND-UBND đề ra. Ban DS-KHHGĐ xã triển khai nhiệm vụ
chương trình công tác cụ thể hoá phương thức hoạt động, thành những mục
tiêu nội dung hoạt động để sớm đi vào thực hiện.
SVTH:Nguyễn Duy Vương GVHD: Thạc sỹ Nguyễn Thị Nha Trang
12
Công tác xã hội với việc thực hiện dân số - kế hoạch hoá gia đình của xã Lương
Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình”
Qua một năm nỗ lực phấn đấu thực hiện với nhiều khó khăn nhất định về
nguồn lực. Nhưng dưới sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của cấp uỷ Đảng sự
phối hợp của các ngành đoàn thể. Đồng thời có sự quan tâm nhiệt tình của đội
ngũ CTV. Công tác DS-KHHGĐ đã đạt được những kết quả sau:
• Khó khăn
Tiên châu là vùng quê nghèo, trình độ dân trí còn thấp nhiều phong tục
tập quán, những quan niệm cổ hủ vẫn còn đè nặng nên việc sinh đẻ không có
kế hoạch còn nhiều làm cho đời sống kinh tế gặp nhiều khó khăn, thu nhập
binh quân đầu người còn thấp vì vậy việc mua sắm những phương tiện phục
vụ sinh hoạt còn hạn chế.
Công tác tuyên truyền vận động người dân thực hiện KHHGĐ chưa

Công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình những năm trở lại đây luôn
được các chính quyền địa phương quan tâm, đặt lên hàng đầu, song song với
mục tiêu phát triển kinh tế xã hội, tăng trưởng kinh tế, thì giảm sinh và sinh
con 3
+
cũng được tăng cường chỉ đạo thực hiện tại xã nhà. Công tác dân số
trong thời gian này đã tăng cường vận động thực hiện sinh đẻ có kế hoạch:
Mỗi cặp vợ chồng nên dừng lại ở hai con để nuôi dạy cho tốt.
Khoảng cách giữa hai lần sinh từ 2 dến 5 năm.
Không sinh con sớm trước 25 tuổi và không sinh con muộn sau 35 tuổi.
Nếu thực hiện được như vậy thì mới ổn định kinh tế, nâng cao đời sống
vật chất, tinh thần cho người dân, đảm bảo hạnh phúc cho mỗi gia đình, tạo
mọi điều kiện cho cha mẹ nuôi dạy con cái, bảo vệ sức khỏe bà mẹ và trẻ em.
Phụ nữ mới thực sự được giải phóng tham gia công tác xã hội.
* Kết quả thực hiện công tác dân số - kế hoạch hóa gia đình năm
2012
Nhờ được sự quan tâm của cấp lãnh đạo, sự chỉ đạo trực tiếp của ngành
cấp trên, cùng với sự phối hợp chặt chẽ của các ban ngành, đoàn thể, ban
nhân dân thôn và sự nhiệt tình tích cực của các chị em CTV nên công tác DS-
KHHGĐ trong năm 2013 đạt được kết quả sau:
*. Về dân số:
Tổng số hộ : 1069 hộ
Tổng số nhân khẩu toàn xã đến cuối quý là: 4959 người
Trong đó tổng số nữ là: 2437 người
Số trẻ em sinh ra trong năm là: 51 trẻ
Số trẻ em sinh 3+ trở lên: 13 trẻ
Số người chết trong năm : 22 người
SVTH:Nguyễn Duy Vương GVHD: Thạc sỹ Nguyễn Thị Nha Trang
14
Công tác xã hội với việc thực hiện dân số - kế hoạch hoá gia đình của xã Lương

tuổi sinh đẻ chấp nhận gia đình ít con để có điều kiện chăm lo cho các con và
phát triển kinh tếQuyết toán PTTT theo từng quý
Nhận và cấp phát phương tiện tránh thai phi lâm sàng cho CTV; nhận
thuốc tiêm, vòng tránh thai cung cấp cho trạm y tế phục vụ cho đối tượng.
Tăng cường vận động duy trì thôn không sinh 3.
SVTH:Nguyễn Duy Vương GVHD: Thạc sỹ Nguyễn Thị Nha Trang
15
Công tác xã hội với việc thực hiện dân số - kế hoạch hoá gia đình của xã Lương
Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình”
Mẫu báo cáo trẻ sinh ra trong tháng của DS-KHHGĐ Biểu 1-X
• ĐƠN VỊ: UBND XÃ LƯƠNG NINH
• BÁO CÁO DANH SÁCH TRẺ MỚI SINH TẠI XÃ LƯƠNG NINH
• (Từ ngày 28 tháng 11 đến ngày 31 tháng 12 năm 2013)
ttt
H
số
hộ
HỌ VÀ
TÊN
TRẺ EM
Ngày tháng
năm sinh
Giới
tính
Dân
tộc
Họ và tên
mẹ
sinh
năm

Nguyễn Tấn
Hãng
20/11/2012 Nam Kinh
Nguyễn Thị
Ngữ
1971 Phú cát 02
44 774
Hồ Quốc
Nam
29/11/2011 Nam Kinh
Phạm
T.T.Yên
1990 Văn La 01
55
116
4
Huỳnh Ngọc
Ngà
10/12/2012 Nữ Kinh Trần T.T.Ba 1979 Văn La 03
66 227
Nguyễn Bảo
Nhi
28/11/2012 Nữ Kinh
Nguyễn.T.H.
Bảo
1989 Phú cát 01
77 002
Nguyễn Thị
Chúc
25/11/2012 Nữ Kinh Lê.T.M.Liên 1990 Văn La 01

điều kiện thuận lợi cho việc kiểm soát tình hình dân số cũng như sự gia tăng
dân số trên địa phương.
Khi được hỏi về lợi ích KHHGĐ thì đa số người dân đều nhận thấy được
những lợi ích từ việc KHHGĐ mang lại. Tuy nhiên vẫn còn bộ phận nhỏ
người dân còn thiếu nhận thức cũng như việc thực hiện KHHGĐ và chăm sóc
phụ nữ khi mang thai và chế độ dinh dưỡng cho trẻ em nên công tác
DSKHGĐ chưa cao, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng vẫn còn.
Điển hình như chị Nguyễn Thị Mai năm nay 37 tuổi nhưng chị có tới 5
người con và khoảng cách các lần sinh khá gần nhau trong khi đó cách các lần
sinh là từ 3-5 năm và mỗi cặp vợ chồng chỉ nên dừng lại từ 1 - 2 con. Tôi có
thể nêu tên và các năm sinh của các cháu như sau:
1. Trần Thị Nga sinh năm 2000
2. Trần Thị Ngọc sinh năm 2002
3. TrầnThị Quỳnh sinh năm 2004
4. Trần Thị Tú sinh năm 2005
5. Trần Thảo sinh năm 2010
Như vậy ý thức chủ động của người dân về KHHGĐ là chưa, mà còn
mang tính bị động, một chiều. Theo công tác điều tra thì một phần lớn người
chồng đều đồng ý cho vợ mình sử dụng BPTT để KHHGĐ, tuy nhiên còn một
SVTH:Nguyễn Duy Vương GVHD: Thạc sỹ Nguyễn Thị Nha Trang
17
Công tác xã hội với việc thực hiện dân số - kế hoạch hoá gia đình của xã Lương
Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình”
bộ phận người chồng lại không đồng ý cho vợ mình sử dụng BPTT để
KHHGĐ cho đến khi 4, 5 người con hoặc khi có con trai mới đồng ý. Tuy
vậy, nhờ sự cố gắng của đội ngũ làm công tác dân số mà công tác DSKHHGĐ
và CSSKSS địa phương đã có nhiều kết quả khả quan:
Giảm trẻ em sinh dưới 2,5kg xuống dưới còn 0,5%, số cặp vợ chồng
trong độ tuổi sinh đẻ thực hiện KHHGĐ là 80%.
80%-90% phụ nữ được tư vấn CSSKSS KHHGĐ.

quả tránh thai, cũng như tác dụng phụ và khoảng cách giữa các lần sinh con
đó là những kiến thức rất quan trọng đối với họ
H: Anh chị hiểu như thế nào là tránh thai?
TL: Theo tôi tránh thai là khi quan hệ tình dục nhưng sử dụng các BPTT
như bao cao su, thuốc uống tránh thai, DCTC……
PV sâu
“ Tôi tập trung chủ yếu vào các cặp vợ chồng, những kiến thức thông tin
cần thiết về phòng tránh thai tập trung vào các đối tượng các cặp vợ chồng,
mặt khác tôi còn chú ý tới những đối tượng là thanh niên, đặc biệt là nam
thanh niên nhằm đấu tranh tự nâng cao chất lượng dân số.
PV sâu
Qua nghên cứu của Ban DS-KHHGĐ xã Lương Ninh đã giúp ngườidân
nâng cao tầm quan trọng trong việc nhận thức những thông tin về KHHGĐ và
CSSKSS hiểu biết của người dân được củng cố. Những nơi thông tin cung
cấp dịch vụ KHHGĐ cũng được phổ biến rộng rãi.
Có thể nói rằng:
Kỹ năng sống mà quan trọng là những nội dung, kiến thức khácnhau.
Đối với nữ thường có nhu cầu hiểu biết và sâu hơn nam về cơ chế nguyên
nhân hậu quả của sinh đẻ không có kế hoạch, nữ thường muốn hiểu nhiều hơn
về vệ sinh thân thể, cách phát hiện sớm các bệnh của phụ nữ và cách chăm
SVTH:Nguyễn Duy Vương GVHD: Thạc sỹ Nguyễn Thị Nha Trang
19
Công tác xã hội với việc thực hiện dân số - kế hoạch hoá gia đình của xã Lương
Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình”
sóc con cái. Tuy nhiên nam cũng có nhận thức tốt KHHGĐ và CSSKSS cho
riêng mình và gia đình mình.
2.2.1. Nhu cầu của người dân về việc tìm hiểu các thông tin về
KHHGĐ
Vấn đề tôi muốn nhắc nhở tới ở đây chính là tư vấn tại trạm y tế xã có
một phòng ban riêng tư vấn về hạnh phúc gia đình. Đây chính là địa chỉ tin

không sinh con thứ 3.
Có thể lúc đầu nhắc đến một số người còn e ngại hay ngập ngừng.
Nhưng khi được tư vấn thì mọi người mới nhận ra và trở nên thân thiện, cởi
mở hơn.
Lúc này họ mới bày tỏ những khó khăn của mình như lo lắng khi sử
dụng BPTT, hay là gặp khó khăn khi sử dụng BPTT, như thuốc uống, bao cao
su, hoặc là vợ chồng chưa thống nhất việc sử dụng BPTT.
Qua những buổi gặp gỡ như vậy thì người dân tự tin hơn và hiểu ra
nhiều vấn đề hơn về KHHGĐ.
Bên cạnh đó người dân cũng được cung cấp BPTT và cung cấp thông tin
những phương pháp về dịch vụ phá thai an toàn.
2.2.3. Thực trạng về những người cung cấp thông tin dịch vụ và công
tác DS-KHHGĐ cho người dân
Có thể nhận thấy rõ ràng chất lượng của người cung cấp thông tin dịch
vụ và công tác DS-KHHGĐ phụ thuộc rất lớn vào nhận thức, trình độ, kiến
thức và kỹ năng của họ trong lĩnh vực này.
Hằng năm cán bộ dân số xã được đi tập huấn nâng cao trình độ chuyên
môn của mình. Từ đó, về trao đổi, truyền đạt lại cho cộng tác viên từng thôn
nhờ vậy mà đội ngũ làm công tác dân số xã đã phần nào được nâng cao cả về
trình độ và kỹ năng làm việc. Tuy nhiên lực lượng cộng tác viên còn thiếu kỹ
năng truyền thông, dẫn dắt. Đặc biệt ít có các cán bộ là nam giới (2 nam/22
cộng tác viên dân số tại xã) làm công tác này nếu có chắc chắn hiệu quả công
tác DS-KHHGĐ ở xã sẽ cao hơn nữa.
SVTH:Nguyễn Duy Vương GVHD: Thạc sỹ Nguyễn Thị Nha Trang
21
Công tác xã hội với việc thực hiện dân số - kế hoạch hoá gia đình của xã Lương
Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình”
CHƯƠNG 3: CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI VIỆC THỰC
HIỆN DÂN SỐ - KẾ HOẠCH HÓA GIA ĐÌNH
3.1.Ý nghĩa của việc thực hiện công tác xã hội đối với dân số _ kế

nước là nguyên nhân quan trọng cản trở sự phát triển kinh tế xã hội gây khó
khăn về phát triển mọi mặt của gia đình và xã hội, ảnh hưởng đến việc nâng cao
chất lượng vật chất, tinh thần cho con người và sự phát triển của đất nước.
Thật vậy, Việt Nam ta là một nước nghèo, nền kinh tế chủ yếu dựa vào
sản xuất nông nghiệp, nhưng dân số tăng nhanh nên diện tích canh tác bình
quân đầu người giảm dần, việc khai hoang thêm đất mới để sản xuất cũng là
một biện pháp để giải quyết nhưng rất tốn kém, vả lại đất khai hoang rồi cũng
sẽ hết, nhà cửa ngày càng mọc lên, nhu cầu vui chơi giải trí, xây dựng cơ bản
phục vụ cho con người ngày càng tăng làm cho diện tích đất canh tác ngày
càng bị thu hẹp. Bình quân diện tích đất canh tác tính theo đầu người năm
1945 là 0,26 ha/người, đến năm 1980 là 0,13 ha/người đến nay chỉ còn 0,058
ha/người. Bởi lẽ tình trạng đất chật người đông, sự gia tăng dân số làm cho
của ít người nhiều, lương thực làm ra không đủ nuôi sống con người với chất
lượng tối thiểu thì làm sao con người có thể phát triển một cách toàn diện.
Theo các nhà nghiên cứu nếu dân số tăng 1% thì để đảm bảo đời sống thu
nhập bình quân đầu người phải tăng 4%. Điều đó cho ta thấy rằng việc giảm
sinh có tầm quan trọng rất lớn trong việc phát triển kinh tế của mỗi địa
phương và của mỗi quốc gia.
Trong thực tế hiện nay gia đình đông con tỷ lệ đói nghèo chiếm tỷ lệ cao
hơn nhiều so với các gia đình ít con. Cuộc sống gia đình khó khổ chế độ ăn
uống không đảm bảo thì làm sao đủ dinh dưỡng để trẻ khỏe mạnh nên chúng
thường ốm đau, bệnh tật, suy dinh dưỡng dẫn đến thể lực yếu, chất lượng
giống nòi giảm.
Tình trạng đất chật người đông chất thải ngày càng nhiều vệ sinh không
đảm bảo, rừng và cây cối bị chặt phá để phục vụ canh tác, lấy nguyên liệu
phục vụ đời sống, sinh hoạt như chất đốt, làm nhà nguyên liệu công nghiệp,
làm môi sinh bị phá hoại, môi trường bị ô nhiễm. Tình trạng hạn hán, lũ lụt
SVTH:Nguyễn Duy Vương GVHD: Thạc sỹ Nguyễn Thị Nha Trang
23
Công tác xã hội với việc thực hiện dân số - kế hoạch hoá gia đình của xã Lương

SVTH:Nguyễn Duy Vương GVHD: Thạc sỹ Nguyễn Thị Nha Trang
24
Công tác xã hội với việc thực hiện dân số - kế hoạch hoá gia đình của xã Lương
Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình”
ước mơ về một cuộc sống tốt lành sẽ khó thực hiện, vốn dĩ cái khó luôn bó cái
khôn, cái nghèo đeo cái khổ sẽ làm cho hạnh phúc gia đình khó bề mà trọn
vẹn mà sẽ rơi vào cái vòng lẩn quẩn của sự gia tăng dân số đó là: dân số tăng
nhanh dẫn đến thừa người thiếu việc, rồi thừa người thiếu việc dẫn đến hiện
tượng tiêu cực và thu nhập kém, thu nhập kém dẫn đến sức khỏe kém nên ra
năng suất lao động thấp, kinh tế nghèo làm cho văn hóa kém và cứ như vậy
lại dẫn đến dân số tăng nhanh. Cái vòng lẩn quẩn ấy nếu không có kế hoạch
nó sẽ ràng buộc con người lúc nào cũng khó khăn, cực khổ cùng quẩn và cũng
từ đó nó sẽ ảnh hưởng rất lớn đến tuổi thọ của một người cụ thể ở tỉnh ta theo
khảo sát thống kê cho thấy:
*Tuổi thọ trung bình:
Tuổi thọ bình quân của người có hai con là: 75 tuổi.
Tuổi thọ bình quân ở người có năm con là: 65 tuổi.
Ngoài ra trong tình hình đất nước ta còn nghèo, nguồn ngân sách còn
nhiều khó khăn, tình trạng dân số đông trong lúc kinh tế phát triển chậm, nhà
nước chỉ có thể đầu tư giải quyết một số vấn đề chính sách xã hội mà thôi.
Với tầm quan trọng của vấn đề dân số - kế hoạch hóa gia đình nên đòi
hỏi các cấp các ban ngành và toàn dân cần phải quan tâm và thực hiện tốt hơn
nữa, nhằm mục đích đảm bảo lợi ích thiết thực cho con người cho sự phát
triển chung của đất nước.
3.1.1.3. Các quan điểm và chủ trương lớn của Đảng ta trong công tác
dân số - kế hoạch hóa gia đình
Do nhận thức được tầm quan trọng của công tác dân số - kế hoạch hóa
gia đình với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước, ngay từ năm 1993 Đảng
và Nhà nước ta đã chủ trương thực hiện chương trình dân số - kế hoạch hóa
gia đình thông qua vận động sinh đẻ có kế hoạch. Tiếp đó trong nhiều văn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status