- 1 -
MỞ ĐẦU
I. Lí do nghiên cứu
Hóa học là môn khoa học của lí thuyết và thực nghiệm, trong đó các lí thuyết
của hóa học đều dựa trên thực nghiệm, kĩ năng thực tế được đòi hỏi cao trong hóa
học, do đó tư liệu dạy học có ý nghĩa rất to lớn trong dạy học hóa học ở trường PT.
Tư liệu góp phần làm tăng thông tin của bài giảng, nhờ thế học sinh hiểu sâu
nắm vững kiến thức hơn. Nếu giáo viên chỉ giảng trong nội dung sách giáo khoa thì
bài giảng sẽ nghèo nàn khô khan. Bài giảng có nhiều tư liệu sẽ sinh động hấp dẫn
hơn, nâng cao hứng thú học tập của học sinh do vậy sẽ làm cho học sinh thấy rõ lợi
ích của việc học, thêm yêu thích môn hóa.Tư liệu dạy học giúp giáo viên cập nhật
những kiến thức mới, thành tựu mới của khoa học, nhờ thế học sinh có vốn kiến
thức thực tế tốt hơn. Giáo viên sử dụng thường xuyên tư liệu dạy học sẽ tập cho học
sinh khả năng liên hệ những điều đã học vào thực tế cuộc sống, sản xuất và công
nghiệp.
Lênin đã đưa ra con đường biện chứng của nhận thức: “Từ trực quan sinh
động đến tư duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn. Đó là con đường
biện chứng của sự nhận thức chân lý, nhận thức thực tại khách quan”. Và sự nhận
thức trong hoá học cũng không nằm ngoài qui luật ấy. Đối với hoá học - một bộ
môn khoa học thực nghiệm kết hợp với tư duy lý thuyết mang tính trừu tượng khái
quát cao thì việc sử dụng sơ đồ, mô hình, thí nghiệm trong giảng dạy lại càng cần
thiết hơn. Hơn nữa, với khuynh hướng đổi mới giáo dục, đổi mới phương pháp dạy
học; nhất là với những yêu cầu của việc dạy chương trình mới thì việc dùng hình
ảnh, phim lại càng thuận lợi trong cách dạy và học môn hóa học. Hiện nay, phương
tiện dạy học ở trường phổ thông dù được trang bị ngày càng đầy đủ và hiện đại vẫn
còn nhiều hạn chế, không phải thí nghiệm hóa học nào giáo viên cũng có thể thực
hiện được trên lớp; nhất là các thí nghiệm độc hại, các thí nghiệm đòi hỏi những
hóa chất quí hiếm, các thí nghiệm khó thực hiện trong điều kiện bình thường, hoặc
thời gian phản ứng lâu…, hoặc một giáo viên phải dạy nhiều lớp nên rất khó khăn
- 2 -
trong khâu chuẩn bị, biểu diễn thí nghiệm…. Do đó, việc truyền thụ kiến thức khô
Các tư liệu dạy học hóa học bao gồm: ứng dụng kiến thức hóa học trong thực
tiễn; lịch sử và các câu chuyện kể hóa học; tư liệu giúp trí nhớ hóa học; các hình vẽ,
sơ đồ, bảng biểu, tranh ảnh; thí nghiệm mô phỏng, đoạn phim thí nghiệm.
IV. Phạm vi nghiên cứu
Chương trình hóa học lớp 10 trung học phổ thông.
- 4 -
TỔNG QUAN
I. Tình hình nghiên cứu
Đối với chương trình sách giáo khoa cũ trước đây, đã có một số khóa luận tốt
nghiệp, luận văn tốt nghiệp nghiên cứu về đề tài xây dựng hệ thống tư liệu dạy học
phục vụ cho việc giảng dạy và học tập môn hóa ở trường phổ thông. Tuy nhiên,
trong những năm gần đây Bộ Giáo Dục đã ban hành bộ sách giáo khoa mới. Theo
đó, những tư liệu dạy học trước đây đã không còn phù hợp với chương trình mới nữa.
Mặt khác, các giáo viên và sinh viên chuyên ngành đã xây dựng hệ thống tư
liệu dạy học cho chương trình sách giáo khoa mới tuy nhiên còn rất hạn chế, sơ sài
và mang tính cá nhân.
II. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu về khái niệm, tác dụng, các nguyên tắc cơ bản khi sử dụng tư
liệu dạy học cũng như phương tiện dạy học.
- Nghiên cứu về hướng đổi mới phương pháp dạy học hóa học ở trường PT.
- Phân tích nội dung chương trình sách giáo khoa hóa học lớp 10 cơ bản.
- Xây dựng hệ thống tư liệu dạy học dùng cho chương trình hóa học lớp 10
trung học phổ thông.
- Thực nghiệm sư phạm, tiến hành điều tra ý kiến các giáo viên, học sinh,
sinh viên về việc sưu tầm và sử dụng tư liệu dạy học trong giảng dạy và học tập
môn hóa chương trình lớp 10 trung học phổ thông.
- 5 -
Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN
1.1. TƯ LIỆU DẠY HỌC [1]
1.1.1. Khái niệm tư liệu dạy học
Các thành tựu mới về hóa học.
Các ứng dụng của hóa học trong thực tiễn:
Ứng dụng trong y, dược.
Ứng dụng trong thực phẩm.
Ứng dụng trong sản xuất công nghiệp.
Ứng dụng trong sinh hoạt đời sống.
Lịch sử và các chuyện kể hóa học:
Các giai đoạn phát triển của hóa học.
Lịch sử tìm ra các nguyên tố hóa học.
Lịch sử các khám phá, phát minh.
Chuyện kể các nhà hóa học.
Các mẩu chuyện vui
Giúp trí nhớ về hóa học:
Các bài thơ ca về hóa học.
Các chữ thần.
Câu đố hóa học, ô chữ hóa học
1.1.4. Các nguồn tư liệu.
Có thể tìm kiếm ở các hiệu sách, thư viện, internet, các phương tiện thông tin
đại chúng hoặc mượn cá nhân:
Sách giáo khoa, tài liệu tham khảo trong và ngoài nước.
Các báo, tạp chí, tập san chuyên đề.
Sách phổ biến kiến thức hóa học.
Các trang web về hóa học.
- 7 -
1.1.5. Lập hồ sơ tư liệu
Ghi sổ:
Có thể ghi trong một hay nhiều cuốn. Chia sổ thành nhiều phần, ghi theo chủ
đề hay theo nội dung chương trình hóa học phổ thông mà tài liệu phục vụ.
Làm túi hồ sơ:
Ghi tài liệu vào các phiếu cùng kích cỡ, cho vào các túi riêng (phân theo chủ
1.2.3. Vai trò của phương tiện dạy học trong dạy học hóa học
Các phương tiện trực quan và các phương tiện kĩ thuật dạy học có vai trò to
lớn trong dạy học hóa học.
Cung cấp cho học sinh những kiến thức đầy đủ, rõ ràng, chính xác, sâu sắc, bền vững.
Làm sinh động nội dung học tập, nâng cao hứng thú học tập hóa học, nâng
cao lòng tin của học sinh vào khoa học.
Phát triển năng lực nhận thức, đặc biệt là năng lực quan sát, năng lực tư duy
của học sinh. Làm thay đổi phong cách tư duy và hành động của học sinh.
Tăng năng suất lao động của giáo viên và học sinh.
1.2.4. Các lưu ý khi sử dụng phương tiện dạy học
Cần biết lựa chọn đúng, sưu tầm tích lũy và chế tạo các mẫu vật, mô hình, sơ
đồ, hình vẽ, tranh ảnh có liên quan đến nội dung nghiên cứu của bộ môn.
Sử dụng phối hợp các phương tiện dạy học với nhau.
Khi sử dụng hình vẽ, sơ đồ, tranh ảnh trong bài giảng, giáo viên phải cân
nhắc xem làm thế nào để học sinh quan sát chúng được sâu sắc, đầy đủ, tích cực và
tiến hành được những quan sát cần thiết.
Khi sử dụng các phương tiện kĩ thuật dạy học phải thực hiện các thao tác
đúng theo quy tắc và quy trình sử dụng.
Có biện pháp bảo quản các phương tiện dạy học một cách hợp lí.
- 9 -
1.2.5. Lựa chọn phương tiện dạy học
Để lựa chọn phương tiện dạy học có chất lượng cần dựa vào các chỉ tiêu
chính sau: tính khoa học sư phạm, tính nhân trắc học, tính thẩm mỹ, tính khoa học
kỹ thuật và tính kinh tế.
a. Tính khoa học sư phạm
- Phương tiện dạy học phải bảo đảm cho học sinh tiếp thu một cách chủ
động kiến thức, kỹ năng kỹ xảo nghề nghiệp tương ứng với yêu cầu của chương
trình học, giúp cho giáo viên truyền đạt một cách thuận lợi các kiến thức phức tạp,
kỹ xảo tay nghề làm cho họ phát triển khả năng nhận thức và tư duy logic.
- Các phương tiện dạy học hợp thành một bộ phải có mối liên hệ chặt chẽ
Tăng dần việc sử dụng phương pháp nghiên cứu trong dạy học Hóa học nói
chung và trong khi tiến hành thí nghiệm nói riêng.
1.3. Đổi mới phương pháp dạy học hóa học ở trường phổ thông
Hoạt động hóa người học nhằm nâng cao vai trò chủ thể hoạt động nhận
thức và tư duy tích cực, sáng tạo của học sinh.
Trang bị cho học sinh những kiến thức khoa học kĩ thuật hiện đại, tinh túy
nhất của nhân loại để họ có thể sử dụng được vào lao động sản xuất. Người giáo
viên cần chú ý dạy việc học, dạy cách học thông qua toàn bộ quá trình dạy học.
Phải chuẩn bị, rèn luyện một cách có hệ thống cho học sinh. Từ khi còn bé
mỗi cá nhân phải tìm được con đường riêng, sáng tạo ra được một phương pháp mới
phù hợp với hoàn cảnh riêng của mình.
Học tập và sáng tạo, vai trò mới của người giáo viên
Vai trò mới của người giáo viên với tư cách người thiết kế, ủy thác, điều
khiển và thể chế hóa. Người giáo viên phải tạo ra những điều kiện tốt nhất cho học
sinh hoạt động sáng tạo có hiệu quả. Học sinh phải tự lực hoạt động để tái tạo ra
những kiến thức và năng lực mà loài người đã tích lũy được để biến chúng thành
của mình. Tuy nhiên học sinh không có thời gian và không có khả năng hoàn toàn
tự lực thực hiện điều đó như một nhà khoa học. Cần có sự giúp đỡ, hướng dẫn của
giáo viên để học sinh có thể thực hiện được nhiệm vụ học tập một cách tốt nhất
- 11 -
trong một thời gian ngắn nhất. Vai trò của người giáo viên lại càng nặng nề, quan
trọng và phức tạp hơn. Trước kia người giáo viên chỉ cần nắm vững nội dung môn
học để giảng dạy, minh họa rõ ràng mạch lạc là đủ. Vì vậy hễ có kiến thức là dạy
học được. Còn bây giờ, theo phương pháp dạy học mới, người giáo viên không
những phải nắm vững nội dung môn học, mà còn phải am hiểu sâu sắc học sinh;
giáo viên không trình bày những điều mình đã biết, đã chuẩn bị mà là tổ chức
hướng dẫn cho học sinh hoạt động sáng tạo để họ đạt được những điều mà giáo viên
định đem lại cho họ hoặc là họ tự phát hiện thấy là cần thiết và tin tưởng có thể đạt
được.
Tổ chức quá trình học tập của học sinh tương tự với quá trình nghiên cứu của
hướng hoạt động hóa người học.
Phối hợp các phương pháp dạy học tích cực nâng cao hiệu quả dạy học
hóa học. Những phương pháp dạy học tích cực cần được phát triển ở trường phổ
thông là dạy học giải quyết vấn đề (hay dạy học nêu vấn đề, dạy học đặt và giải
quyết vấn đề), đám thoại phát hiện (hay vấn đáp tìm tòi), dạy học hợp tác trong
nhóm nhỏ (hay phương pháp thảo luận nhóm).
Áp dụng dạy học đặt và giải quyết vấn đề trong dạy học hóa học. Đây là
một trong những hướng đổi mới và phối hợp các phương pháp dạy học. Bản chất
của dạy học đặt và giải quyết vấn đề là giáo viên đặt ra trước học sinh các vấn đề
của khoa học (các bài toán nhận thức) và mở ra cho các em những con đường giải
quyết các vấn đề đó; việc điều khiển quá trình tiếp thu kiến thức của học sinh ở đây
được thực hiện theo phương hướng tạo ra một hệ thống những tình huống có vấn
đề, những điều kiện đảm bảo việc giải quyết các tình huống đó và những chỉ dẫn cụ
thể cho học sinh trong quá trình giải quyết các vấn đề.
Áp dụng dạy học chương trình hóa trong dạy học hóa học. Dạy học
chương trình hóa là một kiểu dạy mà nội dung dạy học được sắp xếp theo một
chương trình trên cơ sở của nguyên tắc điều khiển hoạt động nhận thức, có tính toán
đến đầy đủ khả năng tiếp thu tốt nhất của học sinh.
- 13 -
Sử dụng các phương tiện kĩ thuật dạy học, đặc biệt là công nghệ thông tin
và truyền thông trong dạy học hóa học. Các phương tiện kĩ thuật dạy học bao gồm
các phương tiện nghe nhìn và các máy dạy học, trong đó các phương tiện nghe nhìn
chiếm vị trí quan trọng nhất. Cần mở rộng việc sử dụng các phương tiện kĩ thuật
dạy học, trước hết là máy chiếu và bản trong, đầu video và băng đĩa âm – hình, máy
vi tính.
- 14 -
Chương 2. PHÂN TÍCH NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH
SÁCH GIÁO KHOA HÓA HỌC LỚP 10
CHƯƠNG TRÌNH CƠ BẢN
Giáo viên cần khai thác các khía cạnh thực tiễn giúp học sinh có kiến thức
thực tiễn, nhất là thực tiễn Việt Nam
2.2. PHÂN TÍCH NỘI DUNG VÀ CẤU TRÚC CHƯƠNG TRÌNH HOÁ
HỌC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG [7]
Với yêu cầu phân hoá học sinh theo năng lực nhận thức và phát triển thiên
hướng, nguyện vọng, chương trình hoá học trung học phổ thông được xây dựng
thành hai ban cơ bản (ban chuẩn) và nâng cao. Chương trình được áp dụng đại trà từ
năm học 2006 - 2007 và được xây dựng trên cơ sở các nguyên tắc xây dựng chương
trình và một số quan điểm định hướng, phát triển chương trình.
2.2.1. Những quan điểm, định hướng xây dựng và phát triển chương
trình chuẩn môn hóa học trung học phổ thông [7, tr 28]
Môn hóa học ban cơ bản trường trung học phổ thông cung cấp cho học sinh hệ
thống kiến thức, kĩ năng phổ thông, cơ bản, hiện đại thiết thực về hoá học, gắn với
đời sống. Nội dung chủ yếu bao gồm cấu tạo chất, sự biến đổi của các chất, những
ứng dụng và những tác hại của các chất trong đời sống, sản xuất và môi trường.
Những nội dung trên giúp học sinh có học vấn trung học phổ thông tương đối toàn
diện để có thể giải quyết một số vấn đề có liên quan đến hoá học trong đời sống lao
động thường ngày và góp phần hình thành năng lực nhận thức và năng lực hành
động, hình thành nhân cách người lao động mới.
Chương trình chuẩn môn hoá học giúp học sinh đạt được:
Kiến thức: Phát triển và hoàn chỉnh những kiến thức hoá học ở cấp trung học cơ
sở, cung cấp một hệ thống kiến thức hoá học phổ thông cơ bản hiện đại, thiết thực ở
mức độ thích hợp bao gồm:
+ Hoá đại cương: Bao gồm hệ thống lý thuyết chủ đạo, làm cơ sở để tìm hiểu các
chất cụ thể. Ví dụ như cấu tạo nguyên tử, liên kết hoá học, hệ thống tuần hoàn và
- 16 -
định luật tuần hoàn các nguyên tố hoá học, phản ứng oxi hoá - khử, tốc độ phản
ứng, cân bằng hóa học, lý thuyết sự điện li, thuyết cấu tạo hoá học…
Mức độ lý thuyết đề cập chủ yếu ở mức định tính, giúp học sinh vận dụng để
xem xét các chất hoá học cụ thể.
- Hoá học và vấn đề kinh tế: Vai trò của sản xuất hóa học trong việc tạo ra
- 17 -
chất lượng mới của cuộc sống như: các vật liệu mới, các chất mới, các sản phẩm
mới…
- Hoá học và vấn đề xã hội: vai trò của hoá học đối với sự phát triển của xã
hội loài nguời.
- Hoá học và vấn đề môi truờng: vấn đề sản xuất hoá học và tác hại đối với
môi truờng sống, xử lí chất thải của sản xuất hoá học.
Những vấn đề trên vừa được lồng ghép trong khi học về chất cụ thể đồng thời
đuợc tách thành chương riêng nhằm góp phần tăng tính thiết thực của chương trình.
Kĩ năng: Phát triển kĩ năng bộ môn hoá học, kĩ năng giải quyết vấn đề đã có ở
tiểu học và trung học cơ sở để phát triển năng lực nhận thức và năng lực hành động
cho học sinh như:
- Biết quan sát thí nghiệm, phân tích, dự đoán, kết luận và kiểm tra kết quả.
- Biết làm việc với các tài liệu giáo khoa và tài liệu tham khảo hoá học như
tóm tắt nội dung chính, phân tích và kết luận.
- Biết thực hiện một số thí nghiệm hoá học đơn giản theo nhóm.
- Biết cách làm việc với các học sinh khác trong nhóm nhỏ để hoàn thành
một nhiệm vụ tìm tòi nghiên cứu.
- Biết vận dụng kiến thức để giải quyết một số vấn đề đơn giản của cuộc
sống hàng ngày có liên quan đến hoá học.
Thái độ: Tiếp tục hình thành ở học sinh những thái độ tích cực như:
- Sự say mê, hứng thú học tập bộ môn hoá học.
- Có ý thức trách nhiệm với bản thân, tập thể, cộng đồng có liên quan đến
hoá học.
- Nhìn nhận và giải quyết một cách khách quan, trung thực trên cơ sở phân
tích khoa học.
- Có ý thức vận dụng những điều đã biết về hoá học vào cuộc sống và vận
động người khác cùng thực hiện.
- 18 -
- Tăng cường nội dung gắn liền kiến thức hoá học với thực tiễn đời sống
hàng ngày để làm cho việc học hoá học trở nên có ý nghĩa đối với học sinh.
d. Đảm bảo một cách cơ bản định hướng đổi mới phương pháp dạy học hoá
học theo hướng dạy học tích cực
Hệ thống nội dung hoá học cơ bản được tổ chức, sắp xếp sao cho giáo viên
có thể thiết kế, tổ chức các hoạt động học tập để học sinh tích cực học tập tìm tòi,
nghiên cứu thu nhận kiến thức và hình thành kĩ năng mới, vận dụng kiến thức để
giải quyết một số vấn đề thực tiễn được mô phỏng dưới dạng các bài tập hoá học.
Trong dạy học hoá học chú trọng khuyến khích giáo viên tích cực sử dụng
thiết bị dạy học, trong đó có ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông.
e. Đảm bảo một cách cơ bản định hướng về đổi mới cách đánh giá kết quả
học tập hoá học của học sinh
Hệ thống câu hỏi và bài tập hoá học dung để kiểm tra cần đảm bảo yêu cầu
đa dạng, có sự kết hợp trắc nghiệm khách quan và tự luận, kiểm tra lí thuyết và thực
nghiệm hoá học. Hệ thống bài tập này nhằm đánh giá kiến thức, kĩ năng của học
sinh ở ba mức độ biết, hiểu và vận dụng, phù hợp với yêu cầu về nội dung và
phương pháp của chương trình chuẩn.
f. Đảm bảo tính kế thừa thành tựu của giáo dục hoá học trong nước và thế giới
Chương trình chuẩn môn hoá học phổ thông đảm bảo tiếp cận ở mức độ nhất
định với chương trình hoá học của một số nước tiên tiến và trong khu vực về nội
dung, phương pháp, mức độ kiến thức, kĩ năng hoá học phổ thông. Đồng thời
chương trình cũng đảm bảo kế thừa và phát huy những ưu điểm của chương trình
hoá học cũ và chương trình THPT thí điểm, khắc phục một số hạn chế của các
chương trình hoá học trước đây của Việt Nam.
g. Đảm bảo tính phân hoá trong chương trình hoá học phổ thông
Chương trình chuẩn môn hoá học nhằm đáp ứng nguyện vọng và phù hợp
với năng lực của mọi học sinh. Ngoài chương trình hoá học phổ thông cơ bản, tối
thiểu từ lớp 8 đến lớp 12 còn có chương trình tự chọn về hoá học dành cho học sinh
có nhu cầu luyện tập thêm hoặc tìm hiểu về một lĩnh vực nhất định hoặc nâng cao
- 20 -
(lí thuyết sóng và hạt của các electron). Chương trình nâng cao còn đề cập đến khái
niệm lai hóa các obitan nguyên tử, sự xen phủ các obitan, hình thành liên kết đơn,
đôi, ba, liêm kết kim loại và sự xác định dạng liên kết hóa học dựa vào hiệu độ âm
điện của các nguyên tố tham gia liên kết. Khái niệm hóa trị, số oxi hóa được hình
thành để chuẩn bị cho việc tiếp thu kiến thức về phản ứng oxi hóa – khử. Các kiến
thức về liên kết hóa học, các dạng tinh thể giúp học sinh xác định và mô tả được cấu
trúc phân tử các chất nghiên cứu và từ đó mà dự đoán, lí giải tính chất vật lí, tính
chất hóa học của các chất.
Chương 4: Phản ứng hóa học
Trên cơ sở các kiến thức về cấu tạo nguyên tử, liên kết hóa học, khái niệm
hóa trị và số oxi hóa mà khái niệm phản ứng hóa học nói chung, phản ứng oxi hóa –
khử nói riêng được xem xét một cách khoa học và đi sâu vào bản chất của chúng.
Định nghĩa về phản ứng oxi hóa – khử, các khái niệm về sự oxi hóa, sự khử, chất
oxi hóa, chất khử, quá trình oxi hóa, quá trình khử cũng được thể hiện đầy đủ và sâu
sắc hơn so với khái niệm đã nghiên cứu ở THCS. Sự phân loại phản ứng hóa học
cũng được đề cập ở mức độ khái quát cao hơn khi dựa vào cơ sở sự thay đổi số oxi
hóa để phân chia phản ứng hóa học thành hai loại: phản ứng oxi hóa – khử và
không phải oxi hóa – khử. Khái niệm phản ứng tỏa nhiệt và phản ứng thu nhiệt
được đưa ra trong chương trình nâng cao nhằm giới thiệu phương trình nhiệt hóa
học, một dạng phương trình mô tả trạng thái của chất và nhiệt phản ứng, đồng thời
cũng giới thiệu một cách phân loại phản ứng hóa học nữa nếu căn vào dấu hiệu
năng lượng của quá trình. Như vậy, sự phân loại phản ứng hóa học trong hóa vô cơ
ở chương trình phổ thông đến đây cũng được xem là đầy đủ và trọn vẹn.
Kiến thức trong các chương 1, 2, 3 được coi là lí thuyết chủ đạo của chương
trình hóa học THPT nói riêng và hóa học phổ thông nói chung. Từ đây các nhóm
nguyên tố hóa học và các chất hóa học trong chương trình được nghiên cứu trên cơ
- 22 -
sở lí thuyết này. Trong chương trình cũng có nội dung lí thuyết khác nhưng chúng
đều được hình thành trên cơ sở của thuyết electron về cấu tạo chất.
Chương 5: Nhóm halogen và chương 6: Nhóm oxi
Đồng vị.
Nguyên tử khối và nguyên tử khối trung bình.
Cấu tạo vỏ nguyên tử:
Sự chuyển động của electron trong nguyên tử.
Lớp electron và phân lớp electron.
Số electron tối đa của lớp và phân lớp.
Năng lượng của các electron trong nguyên tử.
Cấu hình electron nguyên tử của 20 nguyên tố đầu.
Luyện tập (3 tiết)
Chương 2. BẢNG TUẦN HOÀN VÀ ĐỊNH LUẬT TUẦN HOÀN CÁC
NGUYÊN TỐ HÓA HỌC
9 tiết (7 lí thuyết + 2 luyện tập)
Bảng tuần hoàn các nguyên tó hóa học:
Nguyên tắc sắp xếp các nguyên tố trong bảng tuần hoàn.
Cấu tạo của bảng tuần hoàn (ô nguyên tố, chu kì, nhóm nguyên tố).
Sự biến đổi tuần hoàn tính chất các nguyên tố (nhóm A)
Cấu hình electron nguyên tử của các nguyên tố.
Bán kính nguyên tử.
Độ âm điện.
Tính kim loại và phi kim.
Hóa trị.
Tính axit – bazo của oxit và hidroxit.
Ý nghĩa của bảng tuần hoàn các nguyên tố hóa học:
Mối quan hệ giữa vị trí, cấu tạo và tính chất.
So sánh tính chất hóa học của một nguyên tố với các nguyên tố lân cận.
Chương 3. LIÊN KẾT HÓA HỌC
- 24 -
8 tiết (6 lí thuyết + 2 luyện tập)
Liên kết ion:
Sự hình thành ion, cation, anion.
Clo và hợp chất của Clo:
Tính chất vật lí và tính chất hóa học của Clo, trạng thái tự nhiên, ứng dụng, điều chế.
Hidro Clorua (cấu tạo phân tử, tính chất vật lí, tính chất hóa học), axit
Clohidric (tính chất vật lí, tính chất hóa học, điều chế), muối Clorua (một số muối
clorua, nhận biết ion clorua).
Sơ lược về hợp chất có oxi của Clo (nước giaven, Clorua vôi), tính chất, ứng
dụng, điều chế.
Sơ lược về các Halogen khác:
Flo và hợp chất của flo (tính chất, ứng dụng và điều chế).
Brom và hợp chất của Brom (tính chất, ứng dụng và điều chế).
Iot và hợp chất của iot (tính chất, ứng dụng và điều chế).
Chương 6: OXI – LƯU HUỲNH
10 tiết (6 lí thuyết + 2 luyện tập + 2 thực hành)
Oxi, Ozon:
Vị trí của oxi trong bảng tuần hoàn, cấu tạo phân tử, cấu hình electron
nguyên tử.
Tính chất vật lí, tính chất hóa học, trạng thái tự nhiên, ứng dụng điều chế
trong phòng thí nghiệm và trong công nghiệp.
Ozon: tính chất vật lí, tính chất hóa học, ozon trong tự nhiên, ứng dụng.
Lưu huỳnh:
Vị trí, cấu hình electron nguyên tử, cấu tạo phân tử, dạng thù hình.
Tính chất vật lí, tính chất hóa học.
Ứng dụng, trạng thái tự nhiên, sản xuất lưu huỳnh.
Hợp chất của lưu huỳnh:
Hidro sunfua: tính chất vật lí, tính chất hóa học, ứng dụng, điều chế trong
phòng thí nghiệm và trong công nghiệp.