phân tích chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh ninh bình - Pdf 22


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

NGUYỄN THỊ MẾN

PHÂN TÍCH CHẤT LƢỢNG CUỘC SỐNG
DÂN CƢ TỈNH NINH BÌNH

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
SƠN LA, NĂM 2014

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC
tỉnh, Sở y tế, Sở giáo dục, Cục thống kê tỉnh Ninh Bình.
Đặc biệt để hoàn thành khóa luận này, em đã nhận được sự giúp đỡ động
viên của gia đình và bạn bè.
Từ lòng biết ơn sâu sắc của bản thân cho phép em gửi tới các thầy cô
giáo, gia đình, bạn bè và những người đã giúp đỡ em hoàn thành khóa luận tốt
nghiệp này lời cảm ơn chân thành nhất.
Em xin chân thành cảm ơn!

Sơn La, tháng 5 năm 2014
Sinh viên Nguyễn Thị Mến

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

ADB : Ngân hàng phát triển Châu Á
BHYT : Bảo hiểm y tế
CLCS : Chất lượng cuộc sống
CĐ : Cao đẳng
ĐH : Đại học
FDI : Vốn đầu tư nước ngoài
GDP : Tổng sản phẩm quốc nội
GTSX : Giá trị sản xuất
HDI : Chỉ số phát triển con người
KT – XH : Kinh tế - xã hội
ODA : Hỗ trợ phát triển chính thức

Bảng 3.3: Sản lượng lương thực có hạt, lương thực bình quân đầu người của tỉnh
Ninh Bình 40
Bảng 3.4: Giá trị sản xuất nông nghiệp tỉnh Ninh Bình (giá thực tế) 40
Bảng 3.5 : Lương thực bình quân đầu người chia theo huyện, thị tỉnh Ninh Bình
năm 2012 41
Bảng 3.6: Cơ sở khám, chữa bệnh của Ninh Bình 43
Bảng 3.7: Cơ cấu trình độ cán bộ y tế tỉnh Ninh Bình 43
Bảng 3.8 : Ngân sách tỉnh Ninh Bình chi cho y tế giai đoạn 2005 - 2012 44
Bảng 3.9: Chỉ số năm đi học trung bình và số năm đi học kỳ vọng 46
và phân theo huyện, thị tỉnh Ninh Bình năm 2012 46
Bảng 3.10: Số trường, số lớp, số giáo viên và số học sinh mẫu giáo 47
tỉnh Ninh Bình qua các năm 47
Bảng 3.11: Số học sinh, số giáo viên và số học sinh các cấp tỉnh Ninh Bình qua
các năm 48
Bảng 3.12: Giáo dục phổ thông phân theo huyện, thị năm học 2012 - 2013 49
Bảng 3.13: Số sinh viên tốt nghiệp qua các năm 50
Bảng 3.14: Tỷ lệ ngân sách địa phương chi cho Giáo dục và Đào tạo 50
Bảng 3.15: Tỉ lệ hộ sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh 51
Bảng 3.16: Các chỉ số phát triển con người phân theo huyện, thị của tỉnh Ninh
Bình năm 2012 52

DANH MỤC HÌNH VẼ, BIỂU ĐỒ

Hình 1.1: Sơ đồ cấu trúc của HDI 10
Biểu đồ 3.1: Tổng sản phẩm GDP của tỉnh Ninh Bình (theo giá so sánh)…… 36
Biểu đồ 3.2: Tuổi thọ trung bình dân cư phân theo huyện, thị tỉnh Ninh bình năm
2012…………………………………………………………………………….45
Biểu đồ 3.3: Chỉ số HDI phân theo huyện, thị tỉnh Ninh Bình năm 2012…… 53
1.1.1. Khái niệm 7
1.1.2. Các tiêu chí phản ánh chất lượng cuộc sống 8
1.1.2.1. Chỉ số phát con người (HDI) 8
1.1.2.2. Các tiêu chí phản ánh chất lượng cuộc sống dân cư trong nghiên cứu đề
tài 10
1.1.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống dân cư 16
1.2. Cơ sở thực tiễn về chất lượng cuộc sống 16
CHƢƠNG 2: CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƢỞNG ĐẾN CHẤT LƢỢNG CUỘC
SỐNG DÂN CƢ TỈNH NINH BÌNH 20
2.1. Vị trí – lãnh thổ 20
2.2. Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 21
2.2.1. Địa hình 21
2.2.2. Khí hậu 22
2.2.3. Thủy văn 23
2.2.4. Đất đai 24
2.2.5. Tài nguyên sinh vật 24
2.2.6. Tài nguyên khoáng sản 24
2.3. Các nhân tố dân cư, kinh tế - xã hội 25
2.3.1. Số dân 25
2.3.2. Sự gia tăng dân số 26
2.3.3. Kết cấu dân số 27
2.3.4. Sự phân bố dân cư 28
2.4. Kinh tế 29
2.4.1. Khái quát chung 29
2.4.2. Hiện trạng kinh tế tỉnh Ninh Bình 30
2.4.3. Những nhân tố khác 33
2.4.3.1. Đường lối, chính sách 33
2.4.3.2. Cơ sở hạ tầng 33
CHƢƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO CHẤT
LƢỢNG CUỘC SỐNG DÂN CƢ TỈNH NINH BÌNH 35

lược phát triển kinh tế - xã hội của mọi quốc gia.
Trên hành tinh của chúng ta, sự phát triển con người ở các quốc gia rất khác
nhau và có sự phân hóa rõ rệt theo từng nhóm nước. Trong khi một số nước phát
triển phải lo đối phó với một số bệnh do thừa dinh dưỡng thì 1/3 nhân loại đang
phải sống rất nghèo khổ.
Nhiệm vụ của chúng ta là làm sao rút ngắn được khoảng cách giàu,nghèo,
tạo sự công bằng xã hội. Biện pháp hữu hiệu nhất chính là nâng cao chất lượng
cuộc sống cho mỗi người dân.Vậy chất lượng cược sống dân cư là gì? Đánh giá
chất lượng cuộc sống theo những tiêu chí nào? Cần phải làm gì để nâng cao chất
lượng cuộc sống dân cư? Đó là vấn đề cấp bách hiện nay đòi hỏi phải giải quyết
tất cả về mặt lí luận và thực tiễn cho mỗi quốc gia. Vì tính cấp thiết của nó mà
nhiều nhà khoa học của thế giới cũng như của Việt Nam đang quan tâm nghiên
cứu vấn đề này.
Ninh Bình là một tỉnh nhỏ thuộc đồng bằng sông Hồng, là nơi sinh sống
của 914234 người dân với nhiều dân tộc anh em. Trong những năm qua, Đảng
và Nhà nước, các cấp lãnh đạo tỉnh đã rất chú trọng đến việc nâng cao chất
lượng cuộc sống cho mỗi người dân. Nhưng do xuất phát điểm kinh tế của tỉnh
thấp, phát triển chậm lại gặp nhiều khó khăn nên nhu cầu mọi mặt của nhân dân
chưa được đảm bảo. Đặc biệt là ở xã, thôn, bản vùng sâu vùng xa cuộc sống của
dân cư rất nghèo nàn lạc hậu.

2
Xuất phát từ mục đích khoa học là nhằm nghiên cứu các nhân tố ảnh
hưởng, thực trạng của chất lượng cuộc sống dân cư tỉnh Ninh Bình từ đó đề xuất
các giải pháp nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân nơi đây nên
tôi chọn đề tài “Phân tích chất lƣợng cuộc sống dân cƣ tỉnh Ninh Bình” làm
khóa luận tốt nghiệp.
2. Mục đích, nhiệm vụ và giới hạn của đề tài
2.1. Mục đích
Trên cơ sở hệ thống hóa những vấn đề lí luận và thực tiễn về dân số và chất

phẩm “Dân số, tài nguyên, môi trường và chất lượng cuộc sống” (Population,
resources, environment and quality of life), ông nghiên cứu mối tương tác giữa
chất lượng cuộc sống dân cư với quá trình phát triển dân cư, phát triển kinh tế -
xã hội của mỗi quốc gia. Theo ông năm 1990, UNDP đã đưa ra hệ thống các chỉ
tiêu đánh giá về phát triển con người - HDI (Human Development Index). Hệ
thống các chỉ tiêu này đã phản ánh cách tiếp cận mới, có tính hệ thống về phát
triển con người, coi phát triển con người là sự mở rộng phạm vi lựa chọn của
con người để đạt đến một cuộc sống trường thọ, khỏe mạnh, có ý nghĩa và xứng
đáng với con người.
- Ở Việt Nam: Đã có nhiều công trình nghiên cứu đến vấn đề này, có thể kể
đến các cuộc tổng điều tra về mức sống dân cư năm 1992-1993; 1997-1998;
2001-2004; 2007-2008… do Tổng cục thống kê, Bộ kế hoạch và đầu tư, Ngân
hàng thế giới cùng với sự trợ giúp về tài chính của UNDP tiến hành khảo sát. Mỗi
cuộc tổng điều tra đều cho thấy rõ sự thay đổi mức sống dân cư Việt Nam theo thời
gian và tiến bộ vượt bậc của nước ta trong việc giảm nghèo, nâng cao mức sống
cho nhân dân. Tuy nhiên những cuộc điều tra chỉ dừng lại ở việc khảo sát mức sống
dân cư Việt Nam bằng những số liệu cụ thể mà chưa đi sâu phân tích đánh giá cụ
thể chất lượng cuộc sống của một địa phương nào đó trên cả nước.
Ngoài ra phải nói tới các công trình liên quan đến chất lượng cuộc sống
được công bố như:
Tác giả Đỗ Thiên Kính với: “Phân hóa giàu nghèo và tác động của yếu tố
học vấn đến nâng cao mức sống cho người dân Việt Nam” (2003). Tác giả đã
đánh giá thực trạng về sự phân hóa giàu nghèo ở Việt Nam, cụ thể là giai đoạn

4
1993-1998 và tìm hiểu tác động của yếu tố học vấn đến mức sống của người dân
Việt Nam.
PGS.TS. Đặng Quốc Bảo, TS. Trương Thị Thúy Hằng với 2 công trình:
“Chỉ số phát triển kinh tế trong HDI, cách tiếp cận và một số kết quả nghiên
cứu” và “Chỉ số tuổi thọ trong HDI, một số vấn đề thực tiễn Việt Nam” (2005).

nghiên cứu đề tài này.
4.1.2. Quan điểm tổng hợp lãnh thổ
Các yếu tố về tự nhiên, dân số, hoạt động sản xuất… của từng khu vực,
từng quận, huyện có bản sắc riêng.Vì vậy, khi nghiên cứu chất lượng cuộc sống
dân cư tỉnh Ninh Bình phải tìm hiểu trên quan điểm tổng hợp lãnh thổ, qua đó
làm rõ nguyên nhân của sự khác biệt để phân tích và đánh giá thực trạng đời
sống người dân tỉnh Ninh Bình đúng đắn hơn.Mặt khác, cũng cần phải thấy
được khả năng phát triển kinh tế của từng huyện, thị mà đề xuất những giải pháp
nhằm phát triển kinh tế - xã hội một cách có hiệu quả trong thời kì tới vì nó gắn
với chất lượng cuộc sống dân cư.
4.1.3. Quan điểm lịch sử - viễn cảnh
Nếu quan điểm tổng hợp lãnh thổ nói lên tính không gian thì quan điểm lịch sử
nói lên tính thời gian. Gắn với thời gian của đối tượng nghiên cứu,quan điểm này
giúp chúng ta biết được sự biến đổi chất lượng cuộc sống dân cư. Trên cơ sở đó thấy
được những nguyên nhân và dự đoán được xu hướng biến đổi để mà có những điều
chỉnh và tác động tích cực nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống dân cư.
4.1.4. Quan điểm sinh thái
Các yếu tố tự nhiên, môi trường có tác động mạnh mẽ đến chất lượng cuộc
sống. Vì vậy, khi nghiên cứu cần xem xét môi trường là một bộ phận của chất
lượng cuộc sống. Chất lượng cuộc sống cao thì môi trường được cải thiện và
ngược lại. Tài nguyên môi trường phản ánh chất lượng cuộc sống dân cư giữa
các vùng.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
4.2.1. Phương pháp thu thập tài liệu
Các tài liệu bao gồm sách, báo cáo, tạp chí viết về hoặc liên quan tới chất lượng
cuộc sống dân cư. Đặc biệt là các số liệu thống kê được từ các cơ quan của tỉnh và
Trung ương.

6
4.2.2. Phương pháp thống kê toán học

7
PHẦN NỘI DUNG
Chƣơng 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHẤT LƢỢNG
CUỘC SỐNG DÂN CƢ
1.1. Cơ sở lý luận
1.1.1. Khái niệm
Chất lượng cuộc sống (Quality of life) là một khái niệm rộng, đã từng được
hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau và được đo bằng nhiều tiêu chí khác nhau. Chất
lượng cuộc sống thường được lưu ý phân biệt với mức sống. Mức sống là thước
đo về phúc lợi vật chất còn chất lượng cuộc sống là thước đo cả về phúc lợi vật
chất và giá trị tinh thần.
Theo R.C.Sharma, chất lượng cuộc sống thể hiện những đòi hỏi thỏa mãn
nhu cầu vật chất và tình cảm của cá nhân, tập thể hay cộng đồng xã hội cũng
như khả năng đáp ứng một cách bền vững và ổn định các nhu cầu cuộc sống của
bản thân xã hội.
Chất lượng cuộc sống là khái niệm thuộc phạm trù kinh tế - xã hội, nó phản
ánh mối quan hệ giữa tự nhiên, môi trường và sự phát triển kinh tế với đời sống
con người. Tuy vậy khái niệm chất lượng cuộc sống không phải là bất biến. Nó
thay đổi theo thời gian, phụ thuộc vào quan điểm và tình hình cụ thể của mỗi
nước, tùy thuộc vào chế độ xã hội, đẳng cấp và tôn giáo… Bởi vì nhu cầu và khả
năng đáp ứng những nhu cầu cuộc sống không giống nhau ở mỗi quốc gia,dân
tộc tôn giáo… Ngay trong cùng một nước thì theo thời gian quan điểm về chất
lượng cuộc sống cũng có thể là khác nhau.
Theo nhóm chuyên gia Liên hợp quốc, khi nghiên cứu và đánh giá chất
lượng cuộc sống con người thì ngoài thu nhập và chi tiêu, chất lượng cuộc sống
“còn phải kể đến tuổi thọ bình quân, giáo dục và sự tăng lên của tài nguyên”.
Theo đó, có thể hiểu chất lượng cuộc sống bao gồm lối sống, mức sống và nếp
sống. Trong đó mức sống là chỉ tiêu quan trọng hàng đầu mang tính định lượng
rõ rệt và là “tổng giá trị hàng hóa và dịch vụ sinh hoạt có khả năng thỏa mãn nhu
cầu vật chất văn hóa của người dân tại một thời điểm phát triển kinh tế - xã hội

83,2
20
Số năm đi học trung bình (năm)
13,2
0
Số năm đi học kỳ vọng (năm)
20,6
0
Chỉ số giáo dục chung
0,951
0
GNI/người (USD PPP)
108.211
163 9
- Chỉ số giáo dục:
1 2 (min)
e
(max) (min)
e e - I
I=
I - I


+ Số năm đi học trung bình: e
1
=
1A 1min

= (tính theo sức mua tương đương)
Ln (max) – ln (min)
* Tổng hợp 3 chỉ số thành phần trên sẽ được chỉ số HDI theo công thức
tính:
HDI =
l e i
3
I I I

Về mặt trị số: 0

HDI

1
Các chỉ số tuổi thọ, giáo dục, GDP và HDI đều nhận giá trị từ 0 đến 1. Giá
trị của các chỉ số này càng gần tới 1 có nghĩa là trình độ phát triển và xếp hạng
càng cao (với 1 là thứ hạng cao nhất), trái lại, các chỉ số càng gần 0 có nghĩa là
trình độ phát triển và xếp hạng càng thấp. Trên cơ sở giá trị này, cơ quan báo
cáo con người của Liên hợp quốc đã phân chia thành 4 nhóm như sau:
+ Nhóm HDI thấp, có giá trị từ 0,000 đến 0,487
+ Nhóm HDI trung bình, có giá trị từ 0,488 đến 0,676
+ Nhóm HDI cao, có giá trị từ 0,677 đến 0,788
+ Nhóm HDI rất cao, có giá trị từ 0,788 đến 1,000


quá nghiên cứu theo các chỉ tiêu đó sẽ là chỉ số phát triển nhân bản.
Như vậy, chỉ tiêu đánh giá chất lượng cuộc sống không chỉ là thu nhập và
chỉ tiêu bình quân trong gia đình, mà còn bao hàm cả phần phúc lợi xã hội như y
tế, giáo dục và những lợi ích công cộng khác. Theo đây, nếu mức gia đình có thu

11
nhập giống nhau thì gia đình nào được sử dụng hoặc hưởng các phúc lợi xã hội
nhiều hơn thì có chất lượng cuộc sống cao hơn. Trên phạm vi lớn hơn, có nước
có mức thu nhập cao nhưng lại có chất lượng cuộc sống không cao, ngược lại có
những nước có thu nhập thấp nhưng chỉ số HDI lại cao hơn (Việt Nam là một ví
dụ điển hình).
* Chỉ số GDP
- GDP và GDP bình quân đầu người
Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) là tổng sản lượng hàng hóa và dịch vụ tiêu
dùng cuối cùng mà một nền kinh tế tạo ra bởi cả dân sự và phi dân sự, không
phân biệt do người trong nước hay người nước ngoài tạo ra. GDP không bao
gồm phần khấu hao vốn vật chất hay sự suy giảm và xuống cấp của tài nguyên
thiên nhiên.
GDP bình quân đầu người được tính bằng USD/người, ở Việt Nam được
tính bằng USD/người hoặc bằng Việt Nam đồng/người. Thông qua tiêu chí này
chúng ta có thể đánh giá được trình độ kinh tế, mức sống của mỗi người dân
trong từng nước hoặc so sánh giữa các địa phương.
Thu nhập bình quân đầu người là một tiêu chuẩn quan trọng để đánh giá
mức sống của dân cư cụ thể là để xác định tỉ lệ đói nghèo.Vì thế, sự chênh lệch
về thu nhập là nguyên nhân dẫn đến sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội. Đói
và nghèo là những khái niệm có thể lượng hóa được.
Ở Việt Nam, Bộ Lao Động thương binh xã hội đưa ra mức chuẩn nghèo
như sau:
Bảng 1.2: Chuẩn nghèo Việt Nam thời kì 2001 - 2005 và thời kì 2006 - 2010
(Đơn vị:VNĐ)

cư. Trình độ học vấn cao là điều kiện để con người phát triển toàn diện đức - trí
- thể - mĩ… Từ đó, dễ dàng đáp ứng được xu thế phát triển của đất nước, của
thời đại .
Thường người ta đánh giá sự phát triển của giáo dục qua tỉ lệ ngân sách chỉ
cho giáo dục, trình độ học vấn của dân cư; số năm đến trường; cơ sở trường, lớp
và phương tiện dạy học; số lượng, chất lượng giáo viên, số học sinh trên vạn
dân, tỉ lệ học sinh đến trường so với tổng trẻ em ở độ tuổi đến trường; số học
sinh trung bình của một lớp học… Trên thế giới, tình hình giáo dục cũng rất
khác nhau giữa các nhóm nước có thu nhập khác nhau.
Chỉ số về giáo dục được dùng làm thước đo trình độ dân trí làm nên chất
lượng cuộc sống của dân cư bao gồm các chỉ tiêu về tỷ lệ người lớn biết chữ,
trình độ văn hóa và tay nghề, số năm đến trường, tỷ lệ người mù chữ… 13
- Tỷ lệ người lớn biết chữ
Tỷ lệ người lớn biết chữ là những người từ 15 tuổi trở lên biết đọc, biết viết
thông thạo một đoạn văn đơn giản bằng tiếng quốc ngữ.
Tỷ lệ người lớn biết chữ có liên quan nhiều đến các chỉ số thu nhập và mức
sống của từng cộng đồng và từng quốc gia.
- Trình độ văn hóa và tay nghề
Trình độ văn hóa hay trình độ học vấn nói lên khả năng tích lũy kiến thức
của khối dân cư và được thể hiện qua các chỉ tiêu như tỷ lệ người lớn biết
chữ, số người tốt nghiệp các cấp học từ thấp đến cao. Trình độ tay nghề là
trình độ chuyên môn kỹ thuật của lực lượng lao động chính trong khối dân cư
được thể hiện qua các chỉ tiêu như tỷ lệ lực lượng lao động có trình độ
chuyên môn (sơ cấp, công nhân kỹ thuật, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng,
cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ) trong tổng số lao động đang hoạt động trong các
ngành kinh tế của đất nước.
Trình độ văn hóa và trình độ tay nghề luôn có mối quan hệ khăng khít với

đầu tư ngân sách cho y tế, chất lượng và số lượng bác sỹ, cơ sở vật chất kĩ thuật
phục vụ cho việc khám chữa bệnh, tuổi thọ bình quân, tỉ suất tử vong (nói
chung), tỉ suất tử trẻ em (nói riêng), tỉ lệ dân số mắc các loại bệnh…
Tình hình đảm bảo sức khỏe người dân ở mỗi quốc gia rất khác nhau, phụ
thuộc vào điều kiện (môi trường) sống, mức thu nhập và sự phát triển dân số.
Các nước đang phát triển, do thu nhập thấp nên số người được hưởng các dịch
vụ y tế còn hạn chế… Các nước thu nhập cao, số lượng bác sỹ nhiều, chất lượng
bác sỹ tốt, dịch vụ y tế đa dạng, trang thiết bị hiện đại, cơ sở hạ tầng y tế tốt…
nên việc chăm sóc sức khỏe cho bộ phận dân cư tốt.
Y tế và chăm sóc sức khỏe là những hoạt động có ảnh hưởng trực tiếp tới tỉ
lệ tử vong (có liên quan đến bệnh tật) của con người, từ đó ảnh hưởng đến tuổi
thọ trung bình của dân cư.
- Tuổi thọ bình quân: là một chỉ số quan trọng phản ánh trình độ phát triển
y tế của mỗi quốc gia. Chỉ số tuổi thọ liên quan chặt chẽ tới hệ số tử vong, đặc
biệt hệ số tử vong ở trẻ em. Nước nào có tuổi thọ bình quân càng cao thì hệ số tử
vong ở nước đó càng thấp và ngược lại. Tỷ suất tử vong trẻ em (hiểu là tỷ suất
trẻ em chết dưới 1 tuổi) phản ánh đầy đủ trình độ nuôi dưỡng và tình hình sức

15
khỏe chung ở trẻ em ở lãnh thổ. Số trẻ em dưới 1 tuổi càng nhiều, hệ số tử vong
thô càng cao thì tuổi thọ bình quân thấp.
Xu hướng chung hiện nay trên toàn thế giới là tỷ lệ trẻ em tử vong giảm
dần. Tuy vậy, tỷ suất này còn chênh lệch khá lớn giữa các nước. Trên thế giới
tuổi thọ bình quân của các nước phát triển (trung bình khoảng 80 tuổi) và các
nước đang phát triển dao động từ khoảng 50 - 70 tuổi, cá biệt có một số nước
Châu Phi tuổi thọ của dân cư thấp, trung bình chỉ 34 - 40 tuổi. Do các nước đang
phát triển dân số tăng nhanh, kinh tế chậm phát triển, thu nhập thấp và điều kiện
chăm sóc y tế không được đảm bảo, vì vậy tuổi thọ bình quân của người dân
thấp. Ngược lại, các nước phát triển mức gia tăng dân số thấp thậm chí là âm,
thu nhập cao và các điều kiện chăm sóc sức khỏe được đảm bảo… nên tuổi thọ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status