B GIO DC V ĐO TO B NÔNG NGHIP V PTNT
TRƯNG ĐI HC THY LI ĐON MINH NGHĨA
NGHIÊN CỨU, ĐNH GI KHẢ NĂNG
MẤT ỔN ĐỊNH THẤM CA THÂN VÀ NỀN ĐÊ
LUN VĂN THC SĨ Ngưi hưng dn khoa hc: PGS.TS. Nguyn Cnh Thi
Hà Nội 8/2013
Đoàn Minh Nghĩa LUẬN VĂN THẠC SỸ
Lời cảm ơn
sĩ “Nghiên cứu, đánh giá khả năng mất ổn định thấm của thân và nền đê’’
là công trình nghiên cứu của riêng tôi, tôi không sao chép và kết quả của luận
văn này chưa công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu khoa học nào. Hc viên
Đoàn Minh Nghĩa
Đoàn Minh Nghĩa LUẬN VĂN THẠC SỸ MC LC
25TMỞ ĐẦU25T 1
25T1. Đặt vấn đề25T 1
25T1.1 Thiệt hại do lũ, lụt gây ra25T 4
25T1.2. Ngập lụt do vỡ đê ở Bắc Bộ25T 5
25T1.3. Hệ thống các biện php công trình phòng, trnh lũ lụt ở Việt Nam25T 7
25T1.4 Gii pháp công trình25T 10
25T2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu25T 11
25T3. Phương php nghiên cứu.25T 11
25T4. Phạm vi nghiên cứu25T 11
25TChương 1. TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, PHÂN TÍCH CÁC
YẾU TỐ DÒNG THẤM ĐỐI VỚI THÂN VÀ NỀN ĐÊ
25T 12
25T1.1 Tổng quan hệ thống đê điều và sự cố đê điều25T 12
25T1.2 Sự cố đê và nguyên nhân25T 12
25T2.3.1.1 Bài toán thấm25T 40
25T2.3.1.2 Mô hình hóa đất bão hòa và không bão hòa25T 41
25T2.3.1.3 Định luật Darcy cho đất không bão hòa25T 43
25T3.1.4 Phương trình vi phân cơ bn của bài toán thấm bài toán phẳng25T 45
25T3.1.5 Gii bài toán thấm bằng phương php phần tử hữu hạn , Seep/w25T . 45
25T2.3.2 Cc điều kiện ổn định thấm đối vi nền đê.25T 48
25T2.3.2.1 Điều kiện không xy ra đùn đất.25T 48
25T2.3.2.2 Điều kiện không xy ra xói ngầm25T 48
25TChương 3. PHÂN TÍCH ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP XỬ LÝ BIẾN DNG
THẤM ĐÊ TÂN CƯƠNG
25T 50
25T3.1 Gii thiệu tổng quan về tuyến đê Tân cương – Vĩnh tưng – Vĩnh
phúc và tài liệu địa hình địa chất, địa chất thủy văn tuyến đê.
25T 50
25T3.1.1.Tài liệu địa hình.25T 50
25T3.1.2. Tài liệu địa chất công trình25T 51
Đoàn Minh Nghĩa LUẬN VĂN THẠC SỸ
25T3.1.3. Điều kiện địa chất thuỷ văn.25T 54
25T3.1.4 Điều kiện khí hậu, thuỷ văn.25T 54
25T3.2 Một số đnh gi về tình trạng và nguyên nhân mất an toàn tuyến đê25T
55
25T3.2.1 Cấu trúc nền25T 55
25T3.2.2. Cơ sở phân chia25T 55
25T3.2.3. Cc kiểu cấu trúc nền đê và đặc điểm của chúng25T 56
25T3.3 Các gii pháp xử lý biến dạng thấm ở nền đê25T 58
25T3.3.1 Đắp sân phủ chống thấm ở ngoài đê25T 58
25T3.3.2.Đắp cơ phn p tiêu nưc ở trong đê25T 59
25T3.3.3. Xây dựng hệ thống giếng gim áp25T 60
25T3.3.4. Làm tầng lc ngược tại vị trí đùn sủi25T 64
Đoàn Minh Nghĩa LUẬN VĂN THẠC SỸ
DANH MC HÌNH VẼ
25TUHình 1.1 Sự cố đê ở vùng sông cổU25T 13
25TUHình 1.2a Sự đâm xuyên thủy lực qua tầng đất cứngU25T 14
25TUHình 1.2b - Công trình đê ở Pháp xy ra sự cố nàyU25T 14
25TUHình 1.3 Sự nứt gy nền đê và mặt cắt ngang thân đêU25T 15
25TUHình 1.4 Sự cố thấm ở chân mái hạ lưuU25T 15
25TUHình 1.5 Khuyết tật trong thân đêU25T 16
25TUHình 2.10 Phần tử tam giác của phương php phần tử hữu hạnU25T 39
25TUHình 2.11 Mô t dòng thấm bên trong thân đê, đậpU25T 41
25TUHình 2.12 Mô hình đất bão hòa và không bão hòaU25T 42
25TUHình 2.13 Đưng cong đặc trưng đất nưcU25T 43
25TUHình 2.14 Biểu din mối quan hệ giữa hệ số thấm và độ hút dínhU25T 44
25TUHình 2.15 Dạng phẩn tử tam giácU25T 46
25TUHình 2.16 Dạng phẩn tử chữ nhậtU25T 46
25TUHình 3.1 Bn đồ khu vực xây dựng công trìnhU25T 51
Hình 3.1a Mặt cắt dc địa chất đoạn đê Tân cương từ K4 – K10 53
25TUHình3.2 Kiểu cấu trúc nền I tại mặt cắt K8U25T 57
25TUHình 3.3 Kiểu cấu trúc nền II tại mặt cắt K6+800U25T 58
25TUHình 3.4 Gii php đắp sân phủ chống thấm ở ngoài đêU25T 59
25TUHình 3.5 Gii php đắp cơ phn áp ở trong đêU25T 60
25TUHình 3.6 Giếng đào gim ápU25T 61
25TUHình 3.7 Cấu tạo giếng đào gim ápU25T 61
25TUHình 3.8 Giếng khoan gim ápU25T 62
25TUHình 3.9 : Cấu tạo của giếng khoan gim ápU25T 63
25TUHình 3.10 : Giếng khoan gim áp và kết qu tính toán hạ thấp cột nưc
khi có giếng
U25T 64
25TUHình 3.11 Tầng lc ngược kết hợp vi vòng vây cc vánU25T 64
25TUHình 3.12 Khoan phụt tạo màn chống thấmU25T 65
25TUHình 3.13 Xây tưng chống thấmU25T 66
Đoàn Minh Nghĩa LUẬN VĂN THẠC SỸ
25TUHình 3.14 Sơ đồ chia phần tử thấm và điều kiện biên tại mặt cắt K4+550
(chưa xử lý)
U25T 69
25TUHình 3.15 Đưng đẳng Gradien tại mặt cắt K4+550 (chưa xử lý)U25T 70
25TUHình 3.16 Phân bố cột nưc tổng trong thân và nền tại mặt cắt K4+550
K6+390 (đã xử lý)
U25T 88
Đoàn Minh Nghĩa LUẬN VĂN THẠC SỸ
25TUHình 3.29 Sơ đồ chia phần tử thấm và điều kiện biên tại mặt cắt K8+500
(đã xử lý)
U25T 88
25TUHình 3.30 Đưng đẳng Gradien tại mặt cắt K8+500 (đã xử lý)U25T 89
25TUHình 3.31. Đưng đẳng cột nưc thấm và lưu lượng thấm tại mặt cắt
K8+500 (đã xử lý)
U25T 89
25TUHình PL1 Mặt cắt địa chất tại mặt cắt K4+550 (Chưa xử lý)U25T 94
25TUHình PL2 Đưng đẳng áp lực trong thân và nền của đoạn đê K4+550
(Chưa xử lý)
U25T 94
95
25TUHình PL3 Véc tơ trong thân và nền thấm mặt cắt K4+550 (Chưa xử lý)U25T
95
25TUHình PL4 Biểu đồ gradien thấm phía đồng tại mặt cắt K4+550 (Chưa xử
lý)
U25T 95
25TUHình PL5 Đưng đẳng dòng tại mặt cắt K4+550 (Chưa xử lý)U25T 95
96
25TUHình PL6 Đưng đẳng thế và đưng dòng tại mặt cắt K4+550 (Chưa xử
lý)
U25T 96
25TUHình PL7 Mặt cắt địa chất tại mặt cắt K6+390 (Chưa xử lý)U25T 96
25TUHình PL8 Đưng đẳng áp lực trong thân và nền của mặt cắt K6+390
(Chưa xử lý)
U25T 96
(Sau khi xử lý)
U25T 101
25TUHình PL21 Vec tơ thấm trong thân và nền mặt cắt K4+550 (Sau khi xử
lý)
U25T 101
25TUHình PL22 Biểu đồ gradien thấm phía đồng tại mặt cắt K4+550
(Sau khi xử lý)
U25T 101
25TUHình PL23 Đưng dòng tại mặt cắt K4+550 (Sau khi xử lý)U25T 102
25TUHình PL24 Đưng đẳng thê và đưng dòng tại mặt cắt K4+550
(Sau khi xử lý)
U25T 102
25TUHình PL25 Mặt cắt địa chất tại mặt cắt K6+390 (Sau khi xử lý)U25T 102
25TUHình PL26 Đưng đẳng áp lực trong thân và nền của mặt cắt K6+390
(Sau khi xử lý)
U25T 103
25TUHình PL27 Vec tơ thấm trong thân và nền đê của mặt cắt K6+390 (Sau
khi xử lý)
U25T 103
103
Đoàn Minh Nghĩa LUẬN VĂN THẠC SỸ
25TUHình PL28 Biểu đồ gradien thấm phía đồng tại mặt cắt K6+390
(Sau khi xử lý)
U25T 103
104
25TUHình PL29 Đưng dòng mặt cắt K6+390 (Sau khi xử lý)U25T 104
25TUHình PL30 Đưng đẳng thế và đưng dòng mặt cắt K6+390 (Sau khi xử
lý)
U25T 104
Việt Nam có diện tích tự nhiên gần 331.000km
P
2
P, kéo dài từ vĩ tuyến
8
P
o
P30’ đến 23P
o
P22’ vĩ độ Bắc và từ kinh tuyến 102P
o
P10’ đến 109P
o
P21’ kinh độ
Đông, trong khu vực nhiệt đới ẩm gió mùa, vừa chịu ảnh hưởng của khí hậu
đại dương vừa chịu ảnh hưởng của khí hậu lục địa nên chịu tác động rất mạnh
của các loại thiên tai, trước hết là lũ lụt. Việt Nam phần lớn là đồi, núi cao
hiểm trở, chia cắt mạnh, dốc nên mạng lưới sông suối dày. Việt Nam có 2360
sông suối có chiều dài mỗi sông trên 10 km, phân bố đều ở các vùng. Mật độ
lưới sông thường 0.5 – 1.0 km/km
P
2
P , ở vùng núi Hoàng liên sơn, thượng
nguồn sông Thu Bồn lên tới 1.5-2.0 km/km
P
2
P, nhưng vùng núi đá vôi, chỉ dưới
0.5 km/km
P
2
vào Phú Yên; lũ lịch sử làm vỡ đê gây ngập lụt lớn trên sông Cả, La năm 1978.
Gần đây, năm 1998, 1999, lũ lịch sử liên tiếp trên các sông thuộc các tỉnh từ
Quảng Bình đến Khánh Hòa gây thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản.
Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) hầu như cứ 3-4 năm lại lụt lớn; lụt
nghiêm trọng, gây thiệt hại lớn về người và của trong năm 1961, 1966, 1996.
Từ 1971 đến 1998, thiệt hại do thiên tai gây ra ở nước ta, trong đó lũ lụt chiếm
phần chủ yếu, lên tới hang tỷ đô la Mỹ, 12.000 ngườ
i chết và mất tích.
Trước thiên tai lũ lụt xảy ra thường xuyên và tàn khốc đó, người Việt từ
lâu đã biết sử dụng các biện pháp công trình và phi công trình để phòng chống,
giảm thiệt hại, dần dần hình thánh những sách lược, chiến lược khác nhau để
phòng tránh, giảm thiệt hại.
Đoàn Minh Nghĩa LUẬN VĂN THẠC SỸ 3
Hàng năm, tùy theo thời tiêt mà mùa lũ có thể đến sớm hoặc muộn hơn.
Lũ quá sớm hoặc quá muộn cũng như các trận lũ lớn chính vụ đều gây thiệt
hại nghiêm trọng.
Dòng chảy sông phân phối không đều trong mùa lũ. Thông thường,
dòng chảy các tháng lũ chính vụ thường lớn nhất, chiếm từ 20-30% dòng chảy
năm. Dòng chảy các tháng đầu mùa và cuối mùa thường chiếm khoảng 10-
15% dòng chảy năm. Dòng chảy lũ tập trung trong thời kỳ chính vụ. Trong thế
kỷ XX, lũ thời kỳ chính vụ ( tháng VII, VIII ) đã gây lụt lớn ở đồng bằng Bắc
Bộ trong các năm 1911, 1913, 1915, 1917,1924,1926, 1936, 1937, 1940, 1945,
1969, 1971. Cường suất lũ, biên độ lũ, đỉnh lũ trên các sông thường rất lớn, lũ
ác liệt, tập trung nhanh về đồng bằng nhỏ hẹp hạ lưu. Cường suất lũ trên các
sông ở vùng núi có thể lên đến 2-5 m/giờ; ở đồng bằng hạ lưu các sông, có
thể 5-20 m/giờ. Biên độ lũ các sông miển núi có thể 10-20m, có nơi trên 30m
(Lai Châu); ở vùng đồng bằng, thường từ 3-8, cao hơn các vùng trũng ven
tài sản khác. Thiệt hại vật chất phụ thuộc nhiều vào loại lũ, tính chất lũ, khu
vực và thời gian bị tác động,…
Thương vong và sức khỏe cộng đồng. Lũ lụt với dòng chảy mạnh, ngập
sâu thường gây chết người, động vật, gây bị thương, bị tác động tâm lý,…nhất
là đối với trẻ em và người già yếu, bệnh tật. Nhiều loại bệnh dịch có thể phát
sinh, ảnh hưởng tới sinh hoạt văn hóa, tinh thần, hoạt động kinh tế, xã hội
khác của dân cư vùng ngập.
Lũ lụt xảy ra thì các nguồn nước mặt, các giếng hở, giếng cấp nước
ngầm thường bị ô nhiễm. Việc cấp nước sạch cho sinh hoạt bị gián đoạn, có
thể trong một số ngày, nhưng cũng có khi kéo dài nhiều tháng như ở ĐBSCL.
Mùa màng và sản xuất, cung cấp thực phẩm có thể bị lũ lụt phá hủy hoặc thất
thu một phần, cây cỏ cho gia súc, thức ăn chăn nuôi có thể hoàn toàn mất đi,
dẫn tới thiếu lương thực, thực phẩm lâu dài, ảnh hưởng tới tình hình chính trị,
xã hội, an ninh lương thực trong vùng ngập cũng như cả quốc gia. Ngập lụt,
Đoàn Minh Nghĩa LUẬN VĂN THẠC SỸ 5
úng thường gây thiệt hại lớn cho thương nghiệp, nông nghiệp mà phải trong
thời gian dài sau đó mới có thể khôi phục được.
Lũ lụt thường gây suy giảm nghiêm trọng môi trường sống, hủy hoại
cảnh quan, điều kiện sống vốn tồn tại bền vững trước đó, có thể gây ô nhiễm
không chỉ môi trường nước, không khí, đất mà nhiều khi tác động xấu tới cả
sinh quyển, phá hủy hệ sinh thái động thực vật vùng ngập,…mà phải mất hang
chục năm mới khôi phục lại được.
1.2. Ngập lụt do vỡ đê ở Bắc Bộ
Đây là loại thiên tai nguy hiểm nhất, gây hậu quả nặng nề nhất. Trận lụt
do vỡ đê tháng VIII/1913 ở ĐBBB khi lũ lớn gây vỡ đê. Lũ tại Hà Nội là
11,35m đã vỡ đê sông Hồng ở tỉnh Vĩnh Phúc tại Nhật Chiên, Cẩm Viên và
Hải Bối, Yên Hoa thuộc Phúc Yên, đe Phu Chu thuộc Thái Bình;sau ngày
mưa lớn dưới tổ hợp tác động của dải hội tụ nhiệt đới, rãnh thấp nóng phía tây
kết hợp với cao áp Thái BÌnh Dương. Mưa bình quân lưu vực sông Hồng là
255mm ( SÌn Hồ mưa 454mm, Sa Pa 381 mm, Lào Cai 386mm); Sông Thái
Bình là 247mm; ở ĐBBB mưa 200mm. Lũ lịch sử trên sông Hồng, Thái Bình
( lớn nhất từ 1902 đến 1999). Đỉnh lũ tại Hà Nội là 14,13m (5h/22), trên BĐ3
trong 8 ngày ( đỉnh lũ hoàn nguyên là 14,6m), tại Phả Lại là 7,21m (9h/22),
trên BDD3 trong 12 ngày ( không trùng kỳ triều cường). Tràn, vỡ đê nhiều nơi
ở hạ lưu sông Lô, Đà và tả hữu ngạn sông Hồng, Đáy, Đuống, Luộc, Thái
Bình,…; phải phân lũ vào sông Đáy; phá đê khu chậm lũ Tam Nông. Ngập lụt
rộng lớn ở các tỉnh thuộc ĐBBB. Tổng thiệt hại ( chỉ tính tài sản nhà nước)
theo thời giá năm 1971 là 44.225.000đ. Thiệt hại của nhân dân và các địa
phương do bị ảnh hưởng lũ lụt, dịch bệnh, ngừng trệ sản xuất không thể tính
hết được, mà đến nay còn lưu lại n
ỗi kinh hoàng trong nhân dân. Trận lụt do
vỡ đê tháng IX/1985 do mưa 100÷900mm trên lưu vực sông Hồng, Thái Bình
( Bắc Quang mưa 821mm), ĐBBB mưa 500mm gây lũ lớn ở hạ lưu sông
Hồng, Thái Bình; lũ cao trên sông Tích, Hoàng Long, sông Bưởi. Đỉnh lũ tại
Đoàn Minh Nghĩa LUẬN VĂN THẠC SỸ 7
Hà Nội là 11,96 ( 4h/13/IX), tại Phả Lại là 6,76m (1h/14), tại Bến Đế là 5,46m
(1h/13) là đợt lũ lớn nhất trong tháng IX trên các sông Bắc Bộ trong gần 100
năm qua lại cùng kỳ triều cường. Tràn, vỡ đê nhiều nơi làm ngập lụt, úng rên
diện rộng ơ ĐBBB và Thanh Hóa. Quốc lộ 1 ngập sâu 1,5m. Thiệt hại lớn
nhất ở 3 tỉnh Hà Nam Ninh ( cũ), Hà Sơn Bình(cũ) và Thanh Hóa: 34 người
chết; 32 xã bị ngập lụt; 225.000 ha lúa bị ngập. Các tỉnh Bắc Giang, Bắc Ninh,
Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Vĩnh Phúc và Hà Nội cũng bị thiệt hại lớn,
với 93.100 ha lúa bị ngập , nhiều đê kè bị sạt lở,…
1.3. Hệ thống các biện php công trình phòng, trnh lũ lụt ở Việt Nam
nghiêm trọng nên sau đó đập tràn đã bị hoành triệt. Liên tiếp lũ, lụt lớn, vỡ đê
trong các năm 1904, 1905, 1910, 1911, 1913, 1915 ở ĐBBB buộc thực dân
Pháp phải nghiên cứu một kế hoạch đắp đê ở BB tương đối quy mô, trong đó
có xây dựng công trình phân lũ sông Đáy ( hoàn thành ngày 21/3/1937).
Mới giành được chính quyền, mặc dù phải đối phó với thù trong, giặc
ngoài, Chính Phủ lâm thời do Chủ Tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo đã đặc biệt
quan tâm đến công việc hàn gắn đê điều. Ngày 22/5/1946 Hồ Chủ Tịch đã ký
văn bản kiện toàn tổ chức điều hành công tác chống lụt của Nhà nước- Sắc
lệnh số 70/SL Thành lập Ủy ban trung ương hộ đê – Cơ quan tiền thân của
Ban Chỉ Đạo Phòng Chống Lụt Bão Trung Ương ngày nay, để giúp Chính phủ
lãnh đạo, chỉ đạo công tác phòng, chống lũ lụt trên cả nước. Hòa bình lập lại
năm 1954, công việc củng cố và phát triển đê điều được coi trọng và đẩy
mạnh, tạo ra một bước phát triển đáng kể. Tại Hà nội đến năm 1961, khả năng
chống lũ của tuyến đê đã nâng lên mức +13m; tại Phả Lại trên triền sông Thái
Bình, đến năm 1961, khả năng chống lũ được nâng lên mức +6,3m. Trong
vòng 10 năm chiến tranh phá hoại ( 1965 – 1975), khối lượng đào đắp đê đạt
trên 93 triệu m3. Nhân dân các địa phương đã tăng cường củng cố đê vững
chắc, chống đỡ thắng lợi những trận lũ lịch sử liên tiếp xảy ra trong năm 1968,
1969, 1971. Sau vỡ đê năm 1971, Chính phủ đã đề ra 6 biện pháp tổng hợp cơ
Đoàn Minh Nghĩa LUẬN VĂN THẠC SỸ 9
bản nhằm tăng cường phòng, chống lũ là:
Trồng và bảo vệ rừng phòng hộ đầu nguồn để hạn chế tập trung nước
nhanh về hạ du;
Xây dựng công trình phân chậm lũ để chủ động phân lũ khi cần thiết;
Củng cố hệ thống đê ngăn lũ, bảo vệ các khu đông dân và các khu kinh
tế quan trọng;
Giải phóng lòng sông để thoát lũ nhanh ra biển Đông;
( tỉnh Hà Tây). Các vùng chậm lũ này chỉ được sử dụng khi đã phân lũ vào
sông Đáy mà mực nước sông Hồng tại Hà Nội ở mức +13,40m và dự báo mực
nước lũ còn tiếp tục lên nhanh. Căn cứ vào tình hình cụ thể diễn biến lũ để
quyết định việc chậm lũ vào từng vùng cho phù. Ban Chỉ đạo Phòng chống lụt
bão Trung ương quy định trình tự vận hành các công trình phòng chống lũ và
phân chậm lũ.
Hiện nay và mãi mãi về sau, đê vẫn là biện pháp chống lũ chủ yếu và
hiệu quả nhất. Các hệ thống đê thuộc Bắc Bộ và khu 4 cũ có thể đảm bảo
chống được các mức nước lũ theo tiêu chuẩn thiết kế đề ra. Nếu để sơ xuất và
không xử lý kịp thời các sự cố thì có thể gây vỡ đê, có khi dẫn đến thảm họa.
Việc tiếp tục nghiên cứu thực hiện chiến lược phòng chống lũ tổng thể, củng
cố độ tin cậy của hệ thống đê điều là công việc cần được tập trung đầu tư ổn
định.
Trong hệ thống đê điều thì hệ thống đê sông Hồng là cực kỳ quan trọng,
vì đây là sông lớn nhất miền bắc, và lũ trên hệ thống sông hồng rất lớn. Nên
vấn đề bảo đảm an toàn cho tuyến đê sông Hồ
ng là rất cần thiết.
1.4 Gii pháp công trình
Công trình đê điều : Để khắc phục các khâu yếu của hệ thống đê cần
phải kiểm tra và đánh giá: mặt cắt đê tiêu chuẩn đối với từng cấp đê để có kế
hoạch củng cố đê đảm bảo an toàn chống lũ theo tiêu chuẩn thiết kế của từng
cấp đê.
Đoàn Minh Nghĩa LUẬN VĂN THẠC SỸ 11
Công trình tràn sự số trên các tuyến đê các cấp để chủ động hạn chế khả
năng vỡ đê, chủ động điều tiết vào các vùng trũng đã dự kiến cho ngập, hạn
chế thiệt hại.
Tổng kiểm tra chất lượng cống dưới đê.
1.1 Tổng quan hệ thống đê điều và sự cố đê điều
Hệ thống đê sông ban đầu được hình thành từ các gờ đất ven sông.
Những năm nước sông lớn, gờ đất không đủ sức ngăn lũ, nước tràn qua gờ
ngập vào đồng bằng. Để giữ được nước nhân dân đã giữ những gờ đất làm cốt
và tôn cao dần thành đê và hoàn chỉnh dần bằng các cống qua đê ổn định cả
mùa khô lẫn mùa lũ. Gặp những năm lũ lớn, những chỗ xung yếu bị tràn hoặc
bị vỡ đã được quai lại hoặc nhô ra phía sông hoặc lùi vào phía đồng. Do diễn
biến dòng chảy và xu thê dòng sông và những con lũ lớn làm cho bờ xói lở,
nhân dân tìm cách bảo vệ đê không bị sạt lở. Hệ thống đề kè từng bước được
hinh thành. Do sự biến đổi khí hậu, nên bão lũ thường xuyên xảy ra gây lũ lụt
làm cho hệ thống đê thường xảy ra các sự cố do nước lũ dâng cao thấm qua
thân và nên gây ra hiện tượng mạch đùn mạch sủi, đẩy đất phía đồng gây hư
hỏng đê.
1.2 Sự cố đê và nguyên nhân
Xác định những nguyên nhân gây hư hỏng đê chống lũ là rất khó vì
rằng đê thường xuyên chịu tác dụng của nhiều nhân tố riêng biệt. Song xác
định những nguyên nhân chủ yếu gây ra sự cố đê là rất cần thiết để tạo cơ sở
cho việc thiết kế sửa chữa cho những đoạn đê hư hỏng và tránh những sai lầm
trong tương lai. Trong nhiều trường hợp quá trình hư hỏng xảy ra ở sâu trong
thân đê hoặc trong nền đê và không có một dấu hiệu nào biểu hiện ra bên
ngoài. Đó là điểm nổi bật của chúng, làm hạn chế sự nghiên cứu nguyên nhân
gây hư hỏng đê. Thường gặp các sự cố đê sau:
1.2.1 Sự cố đê ở vùng sông cổ
Đoàn Minh Nghĩa LUẬN VĂN THẠC SỸ