LỜI CẢM ƠN
Luận văn thạc sĩ với đề tài “NGHIÊN CỨU GIẢI PHÁP BẢO VỆ MÔI
TRƯỜNG NƯỚC ĐẢO PHÚ QUÝ, TỈNH BÌNH THUẬN” được nghiên cứu và
hoàn thiện dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Thị Minh Hằng - Khoa Môi trường,
Trường Đại học Thủy Lợi.
Với sự giúp đỡ tận tình, chi tiết và cụ thể của TS. Nguyễn Thị Minh Hằng và
các thầy cô giáo trong Khoa Môi trường, Phòng Đào tạo đại học và Sau đại học, sự
giúp đỡ của bạn bè, sự quan tâm của Ban Giám hiệu nhà trường luận văn thạc sỹ
của tôi đã được hoàn thành.
Trong quá trình học tập và nghiên cứu, xây dựng luận văn, tôi luôn nhận
được sự quan tâm hướng dẫn của cô giáo Nguyễn Thị Minh Hằng. Bên cạnh đó tôi
còn nhận được sự giúp đỡ của gia đình và bạn bè đồng nghiệp để hoàn thành bản
luận văn này. Qua đây tôi xin trân trọng cảm ơn tất cả sự giúp đỡ nhiệt tình và quý
báu đó.
Luận văn không tránh khỏi những thiếu sót, tôi mong muốn nhận được
những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo và các chuyên gia, các bạn đọc để tôi
hoàn thiện hơn nữa.
Một lần nữa tôi xin trân thành cảm ơn
Hà Nội, tháng 09 năm 2013
Tác giả Nguyễn Ngọc Quốc LỜI CAM ĐOAN
Tên tôi là: Nguyễn Ngọc Quốc Mã số học viên: 118608502010
Lớp: Cao học 19 MT
Chuyên ngành: Khoa học môi trường Mã số: 60-85-02
1.2.1 Điều kiện tự nhiên 15
1.2.2 Điều kiện Kinh tế - Xã hội: 18
1.2.3 Đặc điểm môi trường sinh thái 27
Chương 2.
ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG NƯỚC 28
TRÊN ĐẢO PHÚ QUÝ 28
2.1 Đánh giá hiện trạng, xu thế biến động của nguồn nước trên đảo Phú Quý:
28
2.1.1. Nguồn nước mưa: 28
2.1.2 Nguồn nước mặt: 31
2.1.3 Nguồn nước ngầm: 33
2.2. Hiện trạng việc khai thác, sử dụng tài nguyên nước trên đảo Phú Quý 44
2.2.1. Tổng lượng nước khai thác, sử dụng: 44 2.2.2. Sử dụng nước cho tưới 44
2.2.4. Sử dụng nước cho sản xuất 47
2.3. Hiện trạng ô nhiễm, suy thoái nguồn nước 47
2.3.1. Hiện trạng môi trường nước mặt 47
2.4. Dự báo nhu cầu sử dụng nước và khả năng đáp ứng nhu cầu khai thác sử
dụng của nguồn nước 48
2.4.1. Nhu cầu khai thác sử dụng: 48
2.4.2 Đánh giá khả năng đáp ứng nhu cầu của nguồn nước 54
2.5 Kết luận chương 2 59
Chương 3.
ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG NƯỚC TRÊN
ĐẢO PHÚ QUÝ 60
3.1 Cơ sở đề xuất các giải pháp: 60
3.2 Nghiên cứu đề xuất các giải pháp bảo vệ môi trường nước trên đảo Phú
Quý. 61
Hình 2- 8a: Biểu đồ Piper tầng chứa nước Holocen Đảo Phú Quý 42
Hình 2-8b: Biểu đồ Piper tầng chứa nước khe nứt trong Bazan nứt nẻ, tầng
Pleistocen trung- thượng (βQ
1
) 43
Hình 2-9 Cơ cấu sử dụng nước của các nghành 44
Hình 3.1 Một mặt cắt ngang điển hình của xâm nhập từ nước biển vào một tầng
nước ngầm ven biển. (Bear, 1979, Hydraulics of Groundwater. McGraw-Hill,
NewYork) 70
Hình 3.2 Ranh giới giữa nước ngọt và nước mặn 71
Hình 3.3 Sự hình thành phễu khi có giếng khai thác nước ngầm 73
Hình 3.4 Khi chưa có giếng khai thác nước ngầm 73
Hình 3.5 Khi có giếng khai thác nước ngầm 74
Hình 3.6 Khi xây dựng tường và có chắn giếng khai thác nước ngầm 74
Hình 3.7 Sơ đồ hệ thống cấp nước tập trung bơm dẫn nước ngầm cho các khu vực
dân cư 85
Hình 3.8 Chất ô nhiễm đi từ bề mặt thấm xuống các tầng chứa nước 87
Hình 3. 9 Chất ô nhiễm đi từ các giếng không còn khai thác sử dụng thấm xuống
các tầng chứa nước 88 DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1-1: Lượng mưa trung bình tháng trong giai đoạn 1995-2011 tại trạm
quan trắc Phú Quý (đơn vị: mm) 17
Bảng 2-1: Lượng mưa ngày lớn nhất theo các tháng tại trạm quan trắc Phú Quý:29
Bảng 2-2: Tổng hợp số ngày mưa trung bình tháng 30
Bảng 2.3 Thống kê một số hộ khai thác nước dưới đất cho tưới bằng giếng khoan
45
KTXH : Kinh tế xã hội
SX : Sản xuất
GTSX : Giá trị sản xuất
QCXDVN : Quy chuẩn xây dựng Việt Nam
TCXDVN : Tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam
UBND : Ủy ban nhân dân
THPT : Trung học phổ thông
THCS : Trung học cơ sở
BTNMT : Bộ Tài nguyên Môi trường
UNICEF
: Tổ chức nhi đồng Liên Hợp Quốc
1
MỞ ĐẦU
Cùng với sự phát triển của các ngành kinh tế quốc dân, nhu cầu sử dụng
nước cũng tăng lên không ngừng. Sự bùng nổ gia tăng dân số, nạn phá rừng bừa bãi,
ô nhiễm nguồn nước làm cho mâu thuẫn giữa khả năng cung cấp nước và nhu cầu
nước dùng ngày càng gay gắt về cả số lượng và chất lượng. Theo dự đoán và cảnh
báo của nhiều nhà khoa học trên thế giới, trong những thập kỷ tới thế giới đang
đứng trước nguy cơ thiếu nguồn nước ngọt trầm trọng.
Tại Việt Nam cũng có những khu vực khai thác nước ngầm mạnh mẽ vượt
quá khả năng tái tạo của nước ngầm và d ẫn đến những tác động xấu đến môi
trường. Ở một số vùng như các hải đảo Việt Nam, nước mưa được coi là một nguồn
tài nguyên nước ngọt quý giá. Đặc biệt, trên các hải đảo, do đặc điểm địa hình tự
nhiên, nhiều nơi không cho phép việc xây dựng các hồ chứa nước ngọt trên mặt đất
vì các hồ này thường chiế m nhiều diện tích đất đai . Khi có mưa, nước mưa một
phần sẽ ngấm xuống đất bổ xung cho nước ngầm, một phần sẽ chảy nhanh ra biển
bước chuyển biến mạnh mẽ về cơ cấu kinh tế, chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng
ngành công nghiệp, dịch vụ và du lịch trong những năm tới.
Cùng với những mục tiêu phát triển kinh tế như phấn đấu tăng trưởng GDP
giai đoạn 2010 - 2020 trên 14%, thu nhập theo đầu người vào năm 2010 là 1.142
USD trở lên, ưu tiên tập trung đầu tư xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã
hội. [7]
Như vậy, với định hướng và mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội cho đảo Phú
Quý trong giai đoạn sắp tới, thì nhu cầu sử dụng nước sẽ tăng cao, đặc biệt đối với
một số ngành kinh tế như sản xuất chế biến hải sản. Nhu cầ
u sử dụng nước gia tăng,
nếu như không có giải pháp khai thác sử dụng một cách hợp lý sẽ gây ra những tác
động xấu ảnh hưởng đến nguồn nước như suy thoái, cạn kiệt nguồn nước mặt,
nước ngầm cũng như nguy cơ xâm nhập mặn nguồn nước ngầm là rất lớn.
Từ những phân tích nêu trên cho thấy, việc “Nghiên cứu đề xuất giải pháp
bảo vệ môi trường nước trên đảo Phú Quý, tỉnh Bình Thuận” là rất cần thiết
trong giai đoạn hiện nay, nhằm định hướng cho việc quản lý, khai thác, sử dụng
hiệu quả nguồn nước, đáp ứng mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của đảo, đồng
3
thời giúp cho việc bảo vệ phát triển bền vững tài nguyên nước ở trên đảo Phú Quý,
tỉnh Bình Thuận.
2. Mục đích của đề tài:
Kết quả n ghiên cứu nhằm góp phần giúp cho các cơ quan quản lý , các hộ
dùng nước trong việc bảo vệ, khai thác và sử dụng tài nguyên nước mặt, nước ngầm
một cách khoa học, hợp lý và bền vững để phát triển bền vững môi trường , kinh tế,
xã hội đảo Phú Quý, tỉnh Bình Thuận trong tương lai.
3. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng các phương pháp sau:
công nghiệp, cho sinh hoạt dân dụng, phục vụ cho nông nghiệp. Nước ngầm có ảnh
hưởng rất lớn đến môi trường sống của con người. Trong nhiều trường hợp nước
ngầm sạch hơn nước mặt. Hơn nữa nước ngầm thường được bảo vệ chống lại ô
nhiễm từ bề mặt bởi đất và các tầng đá.
Vì nước ngầm là một tài nguyên rất quý giá nên việc đánh giá sự biến đổi
của nguồn nước và nghiên cứu các giải pháp bảo vệ nguồn nước cho các vùng biển
đảo, đặc biệt là các đảo vừa và nhỏ là nhiệm vụ hết sức quan trọng.
5
Trong thập niên 60 của thế kỷ trước, ô nhiễm nước ở các lục địa và đại dương
gia tăng với nhịp độ đáng lo ngại. Tốc độ ô nhiễm nước phản ánh trung thực tiến
trình phát triển của công nghiệp hóa. Có thể kể đến những ví dụ điển hình như:
Ở nước Anh vào đầu thế kỷ XIX, sông Tamise rất sạch. Nó như là một cống lộ
thiên vào giữa thế kỷ XX. Các sông khác cũng có tình trạng tương tự trước khi
người ta buộc phải đưa ra các biện pháp bảo vệ nghiêm ngặt.
Nước Pháp với diện tích rộng hơn, các cơ sở sản xuất công nghiệp phân tán và
nhiều sông lớn. Dân Paris còn uống nước sông Seine đến cuối thế kỷ XVIII. Nhưng
khi tốc độ phát triển kinh tế càng nhanh đặc biệt là ngày càng nhiều các cơ sở sản
xuất công nghiệp từ đó tình hình đã thay đổi: các sông lớn và nước ngầm nhiều nơi
không còn dùng làm nước sinh hoạt được nữa, 5.000 km sông của Pháp thường
xuyên bị ô nhiễm. Sông Rhine chảy qua vùng công nghiệp hóa mạnh, khu vực có
hơn 40 triệu người, là nạn nhân của nhiều tai nạn (như nạn cháy nhà máy thuốc
Sandoz ở Bale năm 1986 chẳng hạn) thêm vào các nguồn ô nhiễm thường xuyên.
Ở Hoa Kỳ tình trạng ô nhiễm nước cũng tồi tệ ở bờ phía đông cũng như nhiều
vùng khác. Vùng hồ lớn bị ô nhiễm nặng, trong đó hồ Erie, Ontario ô nhiễm đặc
biệt nghiêm trọng.
Những chỉ tiêu hiểm hoạ nhiễm mặn quan trọng hơn cả đã được xác định trong
nhiều công trình nghiên cứu, bao gồm: Độ mặn của đới thông khí, độ mặn của nước
xảy ra ở những vùng ven bờ biển của Israel, Syria.
- Sự ô nhiễm nguồn nước: Khi khai thác nước ngầm sử dụng cho tưới tiêu, cho
sản xuất công nghiệp và cho sinh hoạt, lượng nước thải có thể rò rỉ theo các đường
ống dẫn làm ô nhiểm nguồn nước ngầm. Sự ô nhiễm nước ngầm đã và đang xảy ra
ở nhiều nước phát triển và kể cả Hoa Kỳ. Nguồn tài nguyên nước ngầm bị ô nhiễm
bởi hoạt động nông nghiệp và công nghiệp, nước ngầm bị ô nhiễm muốn phục hồi
lại phải mất hàng trăm thậm chí đến hàng ngàn năm
Hiện tượng nhiễm mặn trong nước ngầm ở vùng ven biển thường có nguyên
nhân do sự xâm nhập mặn từ biển, khi cột thuỷ áp của nước ngầm hạ thấp xuống
dưới mực nước biển. Hiện tượng này xảy ra khi có sự thay đổi về điều kiện cân
bằng nước ngầm tự nhiên hay do quá trình khai thác sử dụng nước ngầm quá mức
7
khiến cho mực nước ngầm hạ thấp, dẫn đến sự dịch chuyển của biên mặn về phía
đất liền. Những năm 70 - 80 của thế kỷ XX, các nhà khoa học đã nhận định rằng:
Nhiễm mặn chỉ trở thành vấn đề môi trường khi tồn tại những tác nhân sau: nguồn
mặn, nguồn nước mà trong đó muối có thể hoà tan, một cơ chế mà nhờ đó muối có
thể phân bố lại trong những địa điểm khác nhau của vùng cảnh quan – nơi có thể
chịu tổn hại. Sự tương tác của những nhân tố môi trường làm cho hiểm hoạ nhiễm
mặn thay đổi theo không gian và thời gian.
Nguồn gốc gây ra ô nhiễm và suy thoái nguồn nước ngầm có thể từ các nguyên
nhân khác nhau:
- Nhiễm mặn: Việc canh tác nông nghiệp, chăn nuôi quá tải không đúng cách là
nguyên nhân chính cho việc ô nhiễm nguồn nước ngầm, tạo điều kiện cho việc
nhiễm mặn ở nhiều nơi. Các mạch nước ngầm đã bị ô nhiễm mặn khó có khả năng
sử dụng lại được nữa.
- Các chất phóng xạ có trong đất và có thể thâm nhập vào nước ngầm sau rất
nhiều năm. Nguy cơ ô nhiễm asen trong nguồn nước ở phía Bắc Việt Nam với nồng
trong các khu vự đô thị. Một trong những lý do chính của ô nhiễm kim loại nặng
trong nước ngầm do chất thải công nghiệp. Khi tầng nước ngầm bị ảnh hưởng thì
việc làm sạch là rất khó khăn. Ô nhiễm kim loại nặng như crôm, chì, niken… trong
nước ngầm đã được tìm thấy ở một số nơi trên lãnh thổ Ấn Độ, nguyên nhân chủ
yếu là do không xử lý chất thải công nghiệp đúng quy định.
Sự xuất hiện của Asen trong nước ngầm lần đầu tiên được báo cáo trong năm
1980 ở Tây Bengal Ấn Độ. 79 khối nhà ở West Bengal thuộc 8 huyện đã được phát
hiện có chứa lượng Asen vượt quá giới hạn cho phép là 0,01 mg /L (so với tiêu
chuẩn Ấn Độ). Khoảng 16 triệu người sống trong vùng rủi ro. Hàm lượng sắt trong
nước ngầm cũng đã được quan sát trong hơn 1,1 vạn vị trí. Nồng độ sắt cao được
tìm thấy ở Assam, West Bengal, Orissa, Chhattisgarh, và Karnataka.
Sự mặn hóa các giếng nước ngầm Ấn Độ xảy ra chủ yếu ở các bang
Maharashtra, Punjab, Rajasthan, Haryana, Gujarat, Karnataka, Uttar Pradesh, Delhi,
Orissa và Bihar. Sự xuất hiện mặn trong đất có thể là do sự khai thác quá mức nước
ngầm, phụ thuộc vào việc sử dụng nước mặt và nước ngầm, đặc điểm của lớp nước
9
hoặc một số lý do khác. Ước tính khoảng 1,93 vạn km
2
bị ảnh hưởng bởi nước mặn
có độ dẫn điện EC > 4000mS/cm. Có một số nơi của Rajasthan và phía nam
Haryana, nơi giá trị EC của nước ngầm lớn hơn 10000mS/cm làm cho nước không
uống được. Ở một số vùng Rajasthan và Gujarat nước giếng được sử dụng trực tiếp
cho sản xuất muối bằng cách bay hơi do độ mặn nước ngầm quá cao.
Các vùng ven biển ở Ấn Độ bao gồm các bộ phận của Gujarat, Maharashtra,
Karnataka, Kerala, Tamil Nadu, Andhra Pradesh, Orissa và West Bengal. Bên cạnh
việc nước ngầm bị mặn hóa còn bị xâm nhập của nước biển. Trong một số khu vực
nhất định, việc khai thác quá mức nước ngầm khiến nước ngầm trở thành nước
khoáng cũng thường có trong nước ngầm tầng nông (Besairie 1959). Suối nước
nóng đã được thấy ở một số nơi trên khắp hòn đảo. Có rất ít thông tin để đánh giá
tình trạng ô nhiễm nước ngầm ở Madagascar, nhưng lưu ý nước mặt bị ô nhiễm ở
những nơi nước thải thô và chất thải hữu cơ khác. Một số mẫu nước ngầm nông có
nồng độ nitrate cao, mặc dù nồng độ có thể sẽ thấp hơn trong tầng nước ngầm sâu
hơn, đặc biệt là nơi chúng xảy ra trong điều kiện tự chảy. Nước ngầm có nồng độ
kiềm cao. Một số khu vực thuộc đảo này, nước ngầm có nồng độ sắt cao.
Các kết quả thu được từ việc phân tích các mẫu nước ngầm ở các tầng nước
ngầm ven biển của Metropolis Lagos, Nigeria thu thập được cho thấy rằng một số
thông số thí nghiệm nằm trong giới hạn cho phép theo quy định bởi FEPA (Cơ quan
bảo vệ môi trường liên bang) và WHO (Tổ chức Y tế Thế giới). Độ pH, SO4
2-
,
PO4
3-
, độ cứng do canxi và kiềm nằm trong khoảng giá trị được chấp nhận đối với
nước uống. Tuy nhiên, tổng độ cứng của tất cả các mẫu nước vượt quá giới hạn cho
phép quy định của các cơ quan kiểm soát.
Tổng độ cứng là chỉ số biểu thị sự đóng góp từ magiê, canxi, và các cation hóa
trị cao khác như sắt, kẽm, mangan, nhôm Sự gia nhập canxi ít ỏi đến tổng độ cứng
biểu thị trong trường hợp không có khoáng sản mang canxi từ tầng nước ngầm nằm
ở dưới. Tổng độ cứng có giá trị cao có thể là do sự gia nhập của các cation hóa trị
cao vào hệ thống nước ngầm. Tất cả các mẫu nước có thể được coi là rất cứng (độ
cứng > 300mg/L) theo phân loại độ cứng.
Milanovic (2004) tổng quan một số hậu quả do đập trữ nước vùng cát gây ra tại
khu vực đá vôi. Ở Trung Quốc, việc giữ nguyên dòng chảy ngầm để trữ nước phục
11
12
Nước dùng trong sinh hoạt của dân cư ngày càng tăng nhanh do dân số và các
đô thị. Nước cống từ nước thải sinh hoạt cộng với nước thải cuả các cơ sở tiểu thủ
công nghiệp trong khu dân cư là đặc trưng ô nhiễm của các đô thị ở nước ta.
Ðiều đáng nói là các loại nước thải đều được trực tiếp thải ra môi trường, chưa
qua xử lý gì cả, vì nước ta chưa có hệ thống xử lý nước thải nào đúng nghĩa như tên
gọi.
Nước ngầm cũng bị ô nhiễm, do nước sinh hoạt hay công nghiệp và nông
nghiệp. Việc khai thác tràn lan nước ngầm làm cho hiện tượng nhiễm mặn và
nhiễm phèn xảy ra ở những vùng ven biển sông Hồng, sông Thái Bình, sông Cửu
Long, ven biển miền Trung
“Cần phải xây những bức tường ngăn sâu dưới lớp cát để chống nước mặn
thẩm thấu. Ngoài ra, phải tính lại chu kỳ khai hoang. Vùng đất nào chưa đạt tiêu
chuẩn khai hoang thì để khai thác tự nhiên ”, đưa ra giải pháp cho cơ chế xâm mặn
thẩm thấu và tiềm sinh.
Sự xâm nhập mặn của nước biển được giải thích là do mùa khô, nước sông cạn
kiệt khiến nước biển theo các sông, kênh dẫn tràn vào gây mặn. Hiện tượng tự nhiên
này xảy ra hằng năm và do đó có thể dự báo trước. Nhưng bên cạnh đó, những vùng
đất ven biển cũng có nguy cơ nhiễm mặn do thẩm thấu hoặc do tiềm sinh.
Với vùng ven biển cấu tạo địa chất là những cồn cát lớn, bùn phù sa lấp đầy ở
dạng mềm như đồng bằng châu thổ sông Hồng, sông Cửu Long, chứa đựng nhiều
thấu kính cát có khả năng mao dẫn, tạo điều kiện cho nước biển xâm nhập vào đất
liền.
Còn tại những nơi có nguồn gốc là vùng sình lầy ven biển, trong quá trình khai
hoang lấn biển biến thành vùng ngọt hóa để trồng lúa, đất và keo sét của vùng này
giữ hàm lượng muối nhất định. Khi đắp đê, vùng sình lầy sẽ bị tù hóa, chuyển từ
môi trường có mặn tiềm sinh thành môi trường bị ôxy hóa. Như vậy, lượng muối
vẫn tồn tại đã chuyển sang bốc hơi lên bề mặt. Bài học lịch sử cho trường hợp này
có thể thấy là vùng chiêm trũng Hà Nam.
với số lượng ngày càng gia tăng. Bên cạnh đó, chất thải từ các khu dân cư đổ ra ven
biển và một lượng lớn chất thải của tàu thuyền vào ra trong khu vực, đã gây nên
tình trạng ô nhiễm này.
14
Biện pháp trước mắt cũng như lâu dài được chính quyền và ngành chức năng
huyện đảo Lý Sơn đưa ra là đẩy mạnh công tác tuyên truyền vận động bà con nhân
dân giữ gìn vệ sinh môi trường, hạn chế sử dụng các hóa chất độc hại trong sản xuất
nông nghiệp. Tập trung thu gom xử lý rác thải trên toàn địa bàn huyện đảo. Đồng
thời tăng cường trồng rừng để bảo vệ môi trường và nguồn nước.
Trước tình trạng nguồn nước phục vụ cho sinh hoạt, sản xuất của người dân
trên đảo bị nhiễm mặn và có nguy cơ cạn kiệt, huyện đã trích kinh phí chống hạn để
tổ chức nạo vét hơn 50 giếng nước tại các khu dân cư trong huyện. Ngoài ra huyện
còn trích hàng trăm triệu đồng để đào mới một số giếng nước tại các cánh đồng
phục vụ việc tưới tiêu sản xuất nông nghiệp. Nếu thời tiết nắng nóng kéo dài, lượng
mưa thấp nên chỉ cải thiện được phần nào tình trạng trên.
Riêng ở Hà nội một số nơi đã xảy ra lún đất, biến dạng bề mặt đất, giếng đã bị
tụt nước ngầm trên 10m và lưu lượng giảm đi một nửa so với ban đầu. Để hạn chế
tác động ô nhiễm và suy thoái nước ngầm cần phải tiến hành đồng bộ công tác điều
tra, thăm dò trữ lượng và chất lượng nguồn nước ngầm, xử lý nước thải và chống ô
nhiễm các nguồn nước mặt, quan trắc thường xuyên trữ lượng và chất lượng nước
ngầm.
1.2. Giới thiệu chung về đảo Phú Quý, tỉnh Bình Thuận
Đã từ lâu đảo Phú Quý trở nên rất quen thuộc với nhiều người qua sử sách
xưa dưới nhiều tên gọi: Cổ Long, Thuận Tịnh, Cù Lao Khoai Xứ, Cù Lao Thu Từ
niên hiệu trị thứ 4 (1844). Vì tiềm năng kinh tế dồi dào và số lượng đặc sản đáng kể
biệt nạp cho Triều đình Huế, đảo được đổi tên từ Tổng Hạ sang Tổng Phú Quý trực
thuộc huyện Tuy Phong, phủ Ninh Thuận, tỉnh Bình Thuận.
1- Vị trí địa lý, điạ hình
Huyện đảo Phú Quý gồm có 6 đảo nổi: Phú Quý, Hòn Tranh, Hòn Trùng ở
phía Nam, Hòn Đỏ, Hòn Đen, Hòn Giữa ở phía Bắc. Trong số đó, đảo Phú Quý là
lớn nhất, có diện tích 16km
2
, chiếm đến 97% diện tích nổi của toàn huyện đảo và
bằng khoảng 0,2% diện tích toàn tỉnh. Đảo Phú Quý nằm trên biển Đông cách thành
phố Phan Thiết khoảng 120km về phía Đông Nam, có toạ độ địa lý giới hạn:Từ
10º28’58”đến10º33’35”Vĩ độ Bắc; Từ 108º55’13” đến 108º58’12” Kinh độ Đông.
16
Hình 1-1: Vị trí đảo Phú Quý
Địa hình của đảo Phú Quý bao gồm núi đồi ở khu vực phía Bắc và đất bằng ở
khu vực phía Nam, độ cao giảm dần từ Bắc xuống Nam. Ở phía Bắc có núi Cấm cao
106m, núi Cao Cát cao 86m; ở phía Nam có đồi Ông Đụn cao 46-48m. Trung tâm
đảo có những dãy đồi cao 20 - 30m bị ngăn cách bởi những dãy đất bằng cao 10 -
20m. Vùng rìa đảo là những dãy thềm cao 5m, ở đây có nổi lên những đụn cát cao
7-8m và nơi thấp nhất là bãi Triều Dương với độ cao 2m. Địa hình đảo không bị
phân cắt mạnh, không có sông suối, biển không cắt vào phần đất nổi của đảo. Đặc
điểm này đã hạn chế được sự xâm nhập mặn đến nguồn nước ngọt trên đảo.
2- Đặc điểm khí hậu
Theo số liệu quan trắc khí tượng – hải văn tại trạm Phú Quý từ năm 2000 đến
2011 cho thấy:
- Nhiệt độ trung bình nhiều năm là 27,4
o
C, chênh lệch nhiệt ngày đêm là 4,1
84.1
335.3
61.6
201.0
186.9
216.3
46.9
53.6
1223.4
1996 2.7
-
2.7
18.6
57.2
147.5
155.6
177.1
73.2
72.7
1070.4
1998 10.5
4.0
20.4
54.5
56.0
180.5
79.1
72.1
171.5
538.5
1612.4
2000 27.0
-
43.0
32.8
147.3
110.3
239.9
116.8
177.8
310.8
259.6
199.8
1665.1
2001 13.8
83.8
94.5
65.1
125.4
107.1
142.6
171.0
270.7
35.4
1100.8
2003 -
2.9
29.0
0.0
311.2
139.0
153.8
66.2
52.1
2.0
810.3
2005 1.3
0.0
2.0
2.0
182.7
32.8
121.6
92.4
73.9
240.3
1123.8
2007 5.2
0.0
34.6
127.8
326.8
223.5
214.2
235.6
98.0
245.6
119.8
15.9
1647.0
22.1
181.2
221.7
61.1
83.8
44.4
167.1
115.5
156.8
44.7
1120.7
2010 143.5
0.3
1.5
64.0
105.7
107.7
118.6
113.2
23.7
61.7
1189.8
TB
tháng
20.5 3.3 42.2 55.0 151.1 140.6
123.2
128.2
202.7
267.5
172.9 119.1