đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp bảo vệ môi trường nước mặt tại một số làng nghề dệt nhuộm tỉnh hà nam - Pdf 35

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN THẾ SƠN

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT TẠI MỘT SỐ
LÀNG NGHỀ DỆT NHUỘM TỈNH HÀ NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2015


HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

NGUYỄN THẾ SƠN

ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP
BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG NƯỚC MẶT TẠI MỘT SỐ
LÀNG NGHỀ DỆT NHUỘM TỈNH HÀ NAM

Chuyên ngành: KHOA HỌC MÔI TRƯỜNG
Mã số: 60440301
Hướng dẫn khoa học: PGS.TS. ĐOÀN VĂN ĐIẾM

HÀ NỘI – 2015


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là
trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.

nghiệp, bạn bè trong quá trình học tập và thực hiện luận văn.
Hà Nội, ngày

tháng

năm 2015

Tác giả luận văn

Nguyên Thế Sơn

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page ii


MỤC LỤC
Lời cam đoan

i

Lời cảm ơn

ii

Mục lục

iii

Danh mục các chữ viết tắt và ký hiệu


1.1 Tổng quan làng nghề Việt Nam

3

1.1.1 Đặc điểm chung của làng nghề

3

1.1.2 Phân loại làng nghề

3

1.1.3 Một số đặc điểm của làng nghề Việt Nam hiện nay

4

1.1.4 Vai trò của làng nghề với sự phát triển kinh tế xã hội

9

1.1.5 Làng nghề dệt đối với việc giữ gìn văn hóa bản địa.

11

1.1.6 Một số thách thức chủ yếu đối với các làng nghề hiện nay

11

1.1.7 Phát triển bền vững các làng nghề


1.3.1 Ô nhiễm môi trường làng nghề

18

1.3.2 Ảnh hưởng của làng nghề tới sức khỏe cộng đồng

24

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page iii


1.3.3 Các văn bản pháp lý quản lý môi trường làng nghề

25

Chương 2 ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU

27

2.1 Đối tượng nghiên cứu

27

2.2 Phạm vi nghiên cứu

27


33

3.1.1 Vị trí địa lý

33

3.1.2 Khí hậu, thủy văn

34

3.1.3 Điều kiện kinh tế - xã hội

37

3.1.4 Thực trạng môi trường

43

3.1.5 Vấn đề môi trường làng nghề trên địa bàn tỉnh Hà Nam

46

3.2 Tình hình sản xuất của một số làng nghề dệt, nhuộm trên địa bàn

47

3.2.1 Làng nghề Nha Xá

47


59

3.5.1 Hệ thống quản lý môi trường ở các xã

59

3.5.2 Quản lý sản xuất dệt nhuộm ở các làng nghề

62

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page iv


3.6 Ảnh hưởng của môi trường nước mặt làng nghề đến cộng đồng

64

3.6.1 Tình hình sức khỏe cộng đồng

64

3.6.2 Đánh giá của người dân về môi trường và công tác quản lý

65

3.6.3 Tác động của ô nhiễm môi trường tới mỹ quan các địa phương


KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

73

1 Kết luận

73

2 Kiến nghị

73

TÀI LIỆU THAM KHẢO

74

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page v


DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU
BVMT

: Bảo vệ môi trường

CHXHCN

: Cộng hoà xã hội chủ nghĩa


: Quan trắc phân tích tài nguyên và môi trường

TCVN

: Tiêu chuẩn Việt Nam

THCS

: Trung học cơ sở

THPT

: Trung học phổ thông

TNHH

: Trách nhiệm hữu hạn

TNMT

: Tài nguyên và môi trường

SXSH

: Sản xuất sạch hơn

UBND

: Ủy ban nhân dân


31

3.1 Doanh thu từ làng nghề An Hoà qua các năm

52

3.2 Các chỉ tiêu môi trường nước mặt tại làng nghề Nha Xá

53

3.3 Một số chỉ tiêu môi trường nước mặt làng nghề Hòa Hậu

54

3.4 Một số chỉ tiêu môi trường nước mặt làng nghề An Hòa

55

3.5 Phân công chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức, cá nhân trong quản lý
môi trường làng nghề

61

3.6 Bảng tổng hợp cơ hội SXSH đối với các làng nghề dệt nhuộm

63

3.7 Tỷ lệ các loại bệnh thường mắc phải của người dân

64


50

3.3

Sơ đồ quy trình sản xuất làng nghề An Hòa

52

3.4

Biểu đồ so sánh thông số nước mặt với QCVN

56

3.5

Biểu đồ so sánh các thông số nước mặt với QCVN

57

3.6

Biểu đồ so sánh thông số nước mặt với QCVN

57

3.7

Biểu đồ so sánh thông số nước mặt với QCVN


71

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

5

Page viii


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Các làng nghề nông thôn đóng một vai trò quan trọng trong lịch sử phát
triển Việt Nam. Phần lớn các làng nghề đã hình thành lâu đời và có giá trị văn
hóa lịch sử. Trong khu vực nông thôn, các hoạt động làng nghề đóng một vai trò
quan trọng trong việc phát triển kinh tế xã hội, đảm bảo đời sống cho nhân dân;
các sản phẩm làng nghề cũng góp phần truyền bá giá trị văn hóa, lịch sử và kinh
tế của Việt Nam ra các nước trên thế giới.
Hà Nam là một tỉnh có số làng nghề cao. Theo kết quả khảo sát, số làng
nghề của Hà Nam từ 94 làng nghề năm 2001 lên 299 làng nghề năm 2010 và
phần lớn xã trong tỉnh có nghề phụ, với các nghề chính như: thủ công mỹ nghệ,
chế biến thực phẩm, dệt- nhuộm, mây tre đan,...Trong cơ cấu làng nghề nói
chung, làng nghề dệt – nhuộm chiếm vị trí quan trọng; hoạt động của các làng
nghề dệt- nhuộm không chỉ tạo ra những giá trị về mặt kinh tế xã hội của đất
nước đã tạo điều kiện cho nhiều làng nghề dệt- nhuộm có cơ hội phát triển, mở
rộng sản xuất, mở rộng thị trường ra trong và ngoài nước.
Làng nghề dệt- nhuộm với những hoạt động phát triển đã tạo ra những tác
động tích cực và tiêu cực đến đời sống kinh tế xã hội và môi trường tại các địa
phương với những đặc thù rất đa dạng. Các loại hình chất thải, đặc biệt là nước
thải, đã làm ô nhiễm môi trường nghiêm trọng tại một số khu vực làng nghề. Đối


Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tổng quan làng nghề Việt Nam
1.1.1. Đặc điểm chung của làng nghề
Mỗi làng nghề luôn có sự khác nhau về tính chất sản phẩm, quy mô, công
nghệ, nhưng đều có chung một số đặc điểm sau:
+ Hộ gia đình là đơn vị sản xuất với nguồn lao động là các thành viên trong
gia đình.
+ Lực lượng sản xuất đa số là người dân sống trong làng.
+ Sản xuất với công nghệ lạc hậu, cần nhiều sức lao động, mang lại hiệu
quả kinh tế thấp.
+ Tính chuyên môn hóa và sự phụ thuộc lẫn nhau trong các làng nghề rất rõ
rệt. Một số làng nghề sự phân chia lao động trong làng nghề phụ thuộc vào từng
khâu trong quy trình sản xuất. Nghề càng phức tạp thì càng có nhiều công đoạn
sản xuất và tính chuyên môn hóa càng cao. Sự phân chia này không chỉ trong
một làng mà có thể mở rộng trong nhiều làng.
1.1.2. Phân loại làng nghề
Làng nghề với những hoạt động và phát triển đã có những tác động tích
cực và tiêu cực đến nền kinh tế, đời sống xã hội và môi trường với những nét đặc
thù rất đa dạng. Vấn đề phát triển và môi trường của các làng nghề hiện nay đang
có nhiều bất cập và đang được chú ý nghiên cứu. Muốn có được những kết quả
nghiên cứu xác thực, đúng đắn và có thể quản lý tốt các làng nghề thì cần có sự
nhìn nhận theo nhiều khía cạnh, nhiều góc độ khác nhau đối với làng nghề. Bởi
vậy, hệ thống phân loại các làng nghề dựa trên các số liệu thông tin điều tra, khảo
sát là cơ sở khoa học cho nghiên cứu, quản lý hoạt động sản xuất cũng như việc
quản lý, bảo vệ môi trường làng nghề. Cách phân loại làng nghề phổ biến nhất
là phân theo loại hình sản xuất, loại hình sản phẩm. Theo cách này có thể
phân thành 6 nhóm ngành sản xuất gồm:
+ Ươm tơ, dệt vải và may đồ da.



Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 4


5.50%

15.50%
Miền Bắc
Miền Trung
Miền Nam

79%

Hình 1.1. Sự phân bố các làng nghề Việt Nam theo khu vực
* Tình hình sản xuất của các làng nghề
- Nguyên liệu cho sản xuất:
Nguyên vật liệu cho các làng nghề chủ yếu được khai thác ở các địa
phương trong nước. Nước ta có khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa, phong phú nông
sản và thực vật, đồng thời có nguồn khoáng sản phong phú, đa dạng trong đó có
các loại vật liệu xây dựng. Do đó, hầu hết các nguồn nguyên liệu vẫn lấy từ trực
tiếp từ tự nhiên.
Do sự phát triển mạnh mẽ của sản xuất, việc khai thác và cung ứng các
nguyên liệu tại chỗ hay các vùng khác trong nước đang dần bị hạn chế. Ví dụ,
theo thống kê, làng nghề gốm Bát Tràng (Hà Nội) mỗi năm tiêu thụ khoảng
70.000 tấn than, gần 100.000 tấn đất nguyên liệu; Các làng nghề chế biến gỗ,
mây tre đan trong những năm qua đòi hỏi cung cấp một khối lượng nguyên liệu
rất lớn, đặc biệt là các loại gỗ quý dùng cho sản xuất đồ gỗ ga dụng và gỗ mỹ
nghệ. Nhiều nguyên liệu chúng ta đã phải nhập từ một số nước khác (Tổng Cục

đầu tư khoa học kỹ thuật để nâng cao chất lượng sản phẩm còn thấp, do đó chưa
đáp ứng được nhu cầu thị trường và giảm sức cạnh tranh (Đặng Kim Chi, 2005).
- Đặc điểm về lao động và tổ chức sản xuất
Trong những năm gần đây, hoạt động sản xuất của làng nghề đang có
nhiều bước tiến mới, nhất là trong thời đại hiện đại hóa, toàn cầu hóa nền kinh tế
thế giới như hiện nay. Các làng nghề đã thu hút một lực lượng lao khá đông đảo,
chiếm gần 30% lao động nông thôn (hơn 10 triệu lao động).
Hiện nay, mỗi cơ sở chuyên làm nghề bình quân tạo việc làm ổn định cho
27 lao động thường xuyên, 8 – 10 lao động thời vụ. Mỗi hộ chuyên nghề tạo việc
làm cho 4 – 6 lao động thường xuyên, 2 – 5 lao động thời vụ. Đặc biệt ở nghề dệt,
thêu ren, mây tre đan, mỗi cơ sở có thể thu hút 200 – 250 lao động.
Nhiều làng nghề đã thu hút hơn 60% lao động trong vùng và nhiều lao

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 6


động từ các vùng khác đến. Ví dụ làng gốm Bát Tràng (Hà Nội) đã giải quyết
việc làm cho gần 2.430 lao động của xã và từ 5000 – 6000 lao động từ các
vùng khác đến; hay làng nghề Đồng Kỵ (Bắc Ninh), cũng tạo việc làm cho
hơn 4500 lao động tại chỗ và khoảng 1500 lao động từ vùng lân cận… (Đặng
Kim Chi, 2005).
Do hạn chế về công nghệ và kỹ thuật sản xuất nên các làng nghề vẫn sử
dụng chủ yếu là các lao động thủ công ở hầu hết các công đoạn, kể cả những
công đoạn nặng nhọc và độc hại nhất. Mặt khác, nhiều sản phẩm có đặc thù đòi
hỏi trình độ kỹ thuật và tính mỹ thuật cao, tay nghề khéo léo… chủ yếu là ở các
làng nghề truyền thống, sản xuất các sản phẩm thủ công mỹ nghệ. Trong các làng
nghề truyền thống, vai trò của các nghệ nhân rất quan trọng, được coi là nòng cốt
của quá trình sản xuất và sáng tạo ra nghệ thuật.

(Đặng Kim Chi, 2005).
- Thị trường tiêu thụ sản phẩm: Trước đây, về cơ bản thị trường này nhỏ
hẹp, tiêu thụ tại chỗ (các vùng nông thôn, các làng nghề) do đó giá thành cũng
thấp. Từ khi nền kinh tế chuyển sang cơ chế thị trường, cơ cấu kinh tế và quan hệ
hệ sản xuất ở nông thôn cũng dần thay đổi, điều này đã tác động mạnh mẽ đến
tình hình sản xuất và kinh doanh của các làng nghề, chúng dần thích ứng, đáp
ứng các nhu cầu của một nền kinh tế mới. Sản xuất hộ gia đình được khuyến
khích và chiếm ưu thế đã tạo điều điều cho việc sử dụng lao động, tự do chọn
nguyên liệu và sản phẩm, tăng gia sản xuất, lựa chọn thị trường và tiêu thụ sản
phẩm. Nhiều mặt hàng từ các làng nghề đã được nhiều thị trường trong nước
chấp nhận và vươn tới các thị trường nước ngoài, mang lại nguồn thu đáng kể
cho quốc gia, đặc biệt phải kể đến là các mặt hàng thủ công mỹ nghệ (mây tre
đan, hàng dệt, thêu ren, gốm…), đồ gỗ gia dụng, gỗ mỹ nghệ… Hiện nay, thị
trường xuất khẩu các mặt hàng truyền thống của Việt Nam mở rộng sang khoảng
hơn 100 quốc gia trên thế giới, trong đó có các nước như Trung Quốc, Hồng
Kông, Singapo, thậm chí cả các thị trường khó tính như Nhật Bản, Hàn Quốc,
Hoa Kỳ, EU… Năm 2000, kim ngạch xuất khẩu đạt 562 triệu USD, trong đó cao
nhất là các mặt hàng gỗ gia dụng và gỗ mỹ nghệ (Đặng Kim Chi, 2005)
- Giá trị sản lượng các làng nghề
Trong thời gian qua, các làng nghề Việt Nam đã có nhiều bước tiến mới
trong quá trình phát triển. Các làng nghề đã tạo ra một khối lượng hàng hóa lớn
đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu. Theo thống kê của Bộ Nông nghiệp và
phát triển nông thôn, tính đến năm 2000, tổng giá trị sản lượng của các làng nghề
trong cả nước đạt khoảng 40.000 tỷ đồng, tốc độ tăng trưởng bình quân trong
thời gian này qua khảo sát đạt từ 7 – 9%/năm. Cơ cấu các ngành nghề cũng đa

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 8


xuyên và 2 – 5 lao động thời vụ. Đặc biệt, ở làng nghề dệt, thêu ren, mây tre đan
thì mỗi cơ sở có thể thu hút 200 – 500 lao động (Bộ NN&PTNT, năm 2004).

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 9


Mức thu nhập của người lao động ngành nghề cao gấp 3 – 4 lần so với
thu nhập của người lao động thuần nông. Điều này cũng khiến số hộ gia đình
chuyển từ sản xuất thuần nông sang sản xuất thủ công nghiệp và chuyên làm
nghề ngày càng tăng. Báo cáo “Nghiên cứu về Quy hoạch phát triển ngành nghề
thủ công theo hướng CNH nông thôn ở nước CHXHCN Việt Nam” do Bộ
NN&PTNT thực hiện năm 2004 đã chỉ ra rằng, tỷ lệ hộ nghèo trung bình trong
số hộ sản xuất thủ công nghiệp là 3,7% thấp hơn nhiều mức trung bình cả nước là
10,4% (Bộ NN&PTNT, năm 2004).
Tuy nhiên, chênh lệch về thu nhập của lao động giữa làng nghề gần khu
vực thành thị và khu vực nông thôn còn lớn. Bên cạnh đó, hệ thống sản
xuất/phân phối chủ yếu mang lại lợi nhuận cho người chủ sản xuất, trung gian,
phân phối mà ít mang lợi ích cho người sản xuất, người lao động trực tiếp. Sự
chênh lệch thu nhập cũng khá lớn giữa các nhóm ngành sản xuất. Các mặt hàng
như ươm tơ dệt vải, sơn mài, gỗ,… cần lao động thường xuyên, với số lượng lao
động hạn chế, nhưng có thu nhập cao do giá thành sản phẩm trên thị trường cao.
b. Làng nghề truyền thống và hoạt động phát triển du lịch
Lợi ích của việc phát triển làng nghề không chỉ là ở kinh tế, giải quyết
việc làm cho lao động địa phương mà còn góp phần bảo tồn được giá trị văn hoá
lâu dài. Điểm chung của làng nghề là thường nằm trên trục giao thông đường bộ
hay đường sông. Đây là điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng các điểm hoặc
tuyến du lịch lữ hành. Ngoài những lợi thế như cảnh quan thiên nhiên, vị trí địa
lý, nét văn hoá đặc sắc, các làng nghề còn có sức hút đặc biệt bởi mỗi làng lại

phương cần xem xét kỹ và nắm vững được những đặc thù của làng nghề dệt
truyền thống trước khi ban hành một chính sách, đầu tư cho các hoạt động bảo
tồn, phục hồi và phát triển các làng nghề đó.
Ngày nay, nhu cầu xã hội đã có nhiều thay đổi, đặc biệt là nhu cầu xuất
khẩu, tất yếu mẫu mã, chủng loại sản phẩm của làng nghề dệt truyền thống cần
được thay đổi và thích nghi mới mong có chỗ đứng trong thị trường. Còn ngược
lại, thì làng nghề dệt truyền thống sẽ bị “hiện đại hóa”, những đặc trưng cơ bản
của làng nghề truyền thống sẽ dần bị mai một, thậm trí còn bị biến dạng thành
“cụm công nghiệp hiện đại” của địa phương.
1.1.6. Một số thách thức chủ yếu đối với các làng nghề hiện nay
Sự phát triển làng nghề và các làng nghề truyền thống đã góp phần thúc
đẩy chuyển dịch cơ cấu nông thôn theo hướng giảm nhanh tỷ trong giá trị sản
xuất nông nghiệp, tăng giá trị sản xuất công nghiệp và dịch vụ nông thôn, góp
phần giải quyết việc làm cho nhiều người lao động. Sản xuất tại các làng nghề đã
tạo ra nhiều mặt hàng có giá trị kinh tế cao, kim ngạch xuất khẩu liên tục tăng

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 11


mỗi năm; nhiều cơ sở sản xuất tại một số làng nghề đã bước đầu khẳng định
được uy tín chất lượng và thương hiệu hàng hoá của mình đối với khách hàng
trong nước và quốc tế.
Tuy nhiên, hiện nay các làng nghề đang đứng trước nhiều khó khăn, đó là
phát triển kiểu phong trào, chưa có quy hoạch; quy mô sản xuất nhỏ, công nghệ
sản xuất lạc hậu, các thiết bị cũ chắp vá, thiếu đồng bộ, trình độ tay nghề lao
động không đồng đều. Đặc biệt, các làng nghề truyền thống còn có một điểm yếu
quan trọng dẫn đến bị thua thiệt khi cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài
nước là chưa có chiến lược xây dựng và phát triển thương hiệu cho các sản phẩm

chung có khả năng cạnh tranh thấp, trong đó có cả các hàng hóa của làng nghề
(Theo điều tra, đánh giá của tổ chức JICA, phần lớn có sức cạnh tranh trung bình
và yếu). Hạn chế này xuất phát từ nội lực sản xuất còn thấp và các khâu bảo vệ
môi trường, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm kém hiệu quả, dẫn đến chất
lượng sản phẩm không cao, sức cạnh tranh yếu kém.
Ba là, phát triển các làng nghề hiện đang làm gia tăng ô nhiễm môi
trường nghiêm trọng. Hầu hết các làng nghề Việt Nam hiện nay đã và đang bị ô
nhiễm ở cả ba dạng: ô nhiễm nước, ô nhiễm rác thải và khí thải.
Trước những khó khăn đó, đòi hỏi cần có những chính sách phát triền các
làng nghề phù hợp, sao cho tận dụng được những lợi thế của đất nước trong quá
trình phát triển, vượt qua những thử thách của hội nhập và đảm bảo cho sự phát
triển lâu dài, hiệu quả.

Một trong những nguyên nhân của tình trạng trên là do cách thức tổ
chức và quản lý sản xuất của các làng nghề hiện nay chưa thật sự hiệu quả.
Đa số các làng nghề sản xuất với hình thức nhỏ lẻ, thiếu sự hỗ trợ về vốn,
công nghệ, cũng như những thông tin về thị trường… Nhằm giúp cải thiện
tình trạng này thì việc quy hoạch không gian sản xuất gắn với bảo vệ môi
trường là một trong những giải pháp đang thu được hiệu quả đáng kể. Tuy
nhiên, hiện nay việc quy hoạch các làng nghề còn hạn chế về số lượng cũng
như thành tựu do thiếu sự đồng bộ.
1.1.7. Phát triển bền vững các làng nghề
Muốn đi đúng hướng bản chất và mục tiêu của phát triển bền vững trước
hết chúng ta cần nắm được khái niệm về phát triển cũng như mối quan hệ giữa tự
nhiên, kinh tế với con người trong quá trình phát triển kinh tế xã hội của loài
người. Xã hội loài người không ngừng phát triển qua các nền văn minh và các chế
độ xã hội.
Phát triển kinh tế xã hội là “quá trình nâng cao điều kiện sống vật chất và tinh
thần của người dân bằng phát triển lực lượng sản xuất, thay đổi quan hệ sản xuất,


nước, không khí, đất đang có nguy cơ tăng nhanh ở nhiều nơi.
1.1.8. Xu thế phát triển làng nghề đến năm 2020
Các yếu tố chính tác động đến sự phát triển của làng nghề bao gồm các
yếu tố chủ quan như nội lực sản xuất và các yếu tố khách quan như chính sách
của Nhà nước, vấn đề thị trường ... .

Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp

Page 14


Các yếu tố chính sách tác động đến sự phát triển của làng nghề:
Có 5 yếu tố chính làm cho làng nghề có thể được hình thành, phát triển
hoặc bị mai một:
(1). Nội lực sản xuất, trong đó đóng vai trò quan trọng là: người đúng đầu cơ sở
sản xuất, cơ sở vật chất và mặt bằng, công nghệ sản xuất, nguyên nhiên liệu, bản sắc
văn hóa, vốn và năng lực kinh doanh của một cơ sở sản xuất trong làng nghề.
(2). Chính sách Nhà nước, bao gồm các thể chế và chính sách của các cấp
quản lý từ trung ương đến địa phương, như tổ chức hiệp hội, chính sách thuế, hỗ
trợ vốn, hậu thuẫn của các cơ quan quản lý địa phương.
(3). Tác động của thị trường và vấn đề hội nhập quốc tế.
(4). Yếu tố xã hội như tạo công ăn việc làm, đa dạng hóa loại hình kinh tế,
bảo tồn giá trị văn hóa.
(5). Yếu tố môi trường như tác hại của ô nhiễm tới sức khỏe cộng đồng,
cảnh quan gây tổn thất kinh tế, xã hội.
Các yếu tố này được lượng hóa bằng đánh giá của các chuyên gia trong nhiều
lĩnh vực, sẽ cho biết xu thế phát triển của các loại hình làng nghề. Vì quá nhiều nhân
tố khó có thể lường trước được nên kết quả dự đoán sẽ chỉ là xu thế trong một tương
lai gần với một giả thiết nhất định (Bộ Tài nguyên và Môi Trường, 2008).
1.2. Tổng quan làng nghề dệt nhuộm Việt Nam.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status