LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là
hoàn toàn trung thực và chưa hề được sử dụng để bảo vệ một học vị nào.
Mọi sự giúp đỡ cho việc hoàn thành luận văn đã ghi trong lời cảm ơn. Các
thông tin, tài liệu trình bày trong luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc.
Tác giả luận văn
Bùi Huy Bình
Luận văn thạc sỹ
1
MỞ ĐẦU
1. Ý nghĩa khoa học và sự cần thiết phải nghiên cứu của Đề tài
Hiện tượng sạt lở bờ trên hệ thống sông Cửu Long và sông Sài Gòn - Đồng Nai
đã và đang là lực cản lớn đến sự nghiệp phát triển bền vững ở các tỉnh Đồng bằng sông
Cửu Long. Sạt lở hàng năm đã và đang gây nhiều thiệt hại đến mức báo động. Hàng
năm, nhà nước và nhân dân đã đầu tư rất nhiều tiền bạc của cải để bảo vệ nhà cửa, các
cơ sở hạ tầng dọc theo các khu vực xói lở ven sông. Tuy nhiên, các loại dạng công
trình bảo vệ bờ sông đã mang lại hiệu quả đến đâu, là một vấn đề cần phải được quan
tâm.
Hình thức kết cấu các công trình bảo vệ bờ khá đa dạng, phong phú. Các công
trình đã xây dựng đều có những ưu nhược điểm khác nhau. Rất nhiều công trình bảo
4. Kết quả dự kiến đạt được
- Tổng quan các dạng công trình bảo vệ bờ trên hệ thống sông Cửu Long và
sông Sài Gòn - Đồng Nai;
- Hiện trạng và nguyên nhân sự cố các công trình bảo vệ bờ sông Cửu Long và
sông Sài Gòn - Đồng Nai;
- Các hình thức công trình bảo vệ bờ thích hợp cho các khu vực điển hình trên
hệ thống sông Cửu Long và sông Sài Gòn - Đồng Nai;
Học viên: Bùi Huy Bình Ngành xây dựng công trình thủy
Luận văn thạc sỹ
3
Chương 1: Tổng quan
1.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
1.1.1. Khái niệm công trình bảo vệ bờ sông
Công trình bảo vệ bờ sông là dạng công trình áp dụng tại những nơi cần chống
sạt lở, không làm ảnh hưởng đến lòng dẫn. Công trình này làm tăng khả năng chống
xói lở của lòng dẫn, không phá hoại kết cấu dòng chảy. Loại này chịu tác động chủ
yếu là từ các dòng chảy trong sông, đặc biệt là về mùa lũ.
Công trình bảo vệ bờ sông được xây dựng để bảo vệ bờ khỏi bị xói lở, biến dạng
do dòng chảy mặt và để lái dòng chảy mặt hay dòng bùn cát đi theo những hướng xác
định theo mục đích chỉnh trị sông.
Công trình bảo vệ bờ sông nằm trong thành phần của tổ hợp công trình chỉnh trị,
nhằm bảo vệ các điều kiện làm việc có lợi của một con sông, bảo vệ bờ chống xói lở,
bảo vệ dân cư và các khu vực kinh tế văn hóa hai bên bờ sông.
1.1.2. Tổng quan các hình thức công trình bảo vệ bờ ở Việt Nam
1.1.2.1. Cc loại công trình dân gian, thô sơ
a. Khi nim v công trình dân gian, thô sơ
Công trình loại dân gian, thô sơ là những công trình quy mô nhỏ được xây dựng
tại các vị trí sông, kênh, rạch bị xói lở bờ, có độ sâu không lớn , tốc độ dòng chảy nhỏ ,
hình thái lòng dẫn chủ yếu là những đoạn sông thng hoặc phía bờ lồi của các đoạn
Riêng ở khu vực An Giang , trên các bờ kênh hoặc đê bao chống lũ , cỏ Vetiver
được áp dụng ở những khu vực ít ngập nước.
1.1.2.2. Cc loại công trình bn kiên c
a. Khi nim v công trình bn kiên c
Các công trình bán kiên cố chống xói lở bờ trên sông Cửu Long và sông Sài
Gòn - Đồng Nai thường được xây dựng để bảo vệ xói lở bờ sông dưới tác động của
dòng chảy và sóng, tại các vị trí sông có độ sâu vừa phải, vận tốc dòng chảy không quá
lớn. Các công trình bán kiên cố đều thuộc dạng bị động , chỉ gia cố bờ . Hầu hết các
công trình bán kiên cố chỉ quan tâm bảo vệ phần trên mái bờ sông , chưa quan tâm
hoặc ít quan tâm đến việc chống xói chân kè . Đó là một trong những nguyên nhân làm
cho công trình loại này có tuổi thọ không cao.
b. Cc loại công trình bn kiên c
Công trình bán kiên cố có hai dạng chủ yếu . Một là dạng sử dụng vật liệu là đá
xây, thảm đá, rọ đá. Hai là dạng sử dụng cọc, cừ BTCT (kết hợp gạch xây, cừ tràm).
* Dạng sử dụng vật liệu là đá xây, thảm đá, rọ đá
Đá là một loại vật liệu chống xói , bảo vệ bờ khá hiệu quả , nhờ có tính chống
xói cao (do đường kính hạt lớn ), dễ biến dạng trên mặt nền công trình . Tuy vậy, trong
môi trường đất nền yếu (đặc biệt là lớp bùn st ở trên mặt - đặc điểm địa chất phổ biến
ở ĐBSCL), đá dễ bị chìm vào trong lớp bùn st nếu không có lớp lọc ngược hoặc lớp
lọc bị hư hỏng. Để khắc phục tình trạng chìm của đá hộc trên nền mềm yếu , ở ĐBSCL
thường dùng đá xây , rọ đá (gabion) hoặc thảm đá (loại gabion có chiều dày nhỏ -
khoảng 30 cm). Đá xây liên kết các viên đá lại thành mảng , nhưng khó biến dạng ,
thường được dùng ở những khu vực nền ít lún, vững chắc. Rọ đá hay thảm đá liên kết
nhiều viên đá hộc lại với nhau bằng lưới thp (ở ĐBSCL thường dùng lưới bọc thp
bọc PVC để tránh ăn mòn trong môi trường phèn , mặn). Thông thường, cả đá hộc, rọ
đá hay thảm đá đều được đặt trên tầng lọc ngược để tránh đất cát bị trôi ra ngoài do tác
động của dòng thấm . Mái kè được xây dựng cả theo dạng tường đứng , hơi nghiêng
hoặc lát trên mái nghiêng.
* Dạng sử dụng cọc, cừ BTCT (kết hợp gạch xây, cừ tràm)
Những dạng công trình này , thông thường lấy hệ cọc BTCT là kết cấu chịu lực
sông nước. Mái kè còn lại là mái nghiêng bảo đảm sát với mái bờ sô ng tự nhiên, giảm
khối lượng đào đắp và giảm được tác động của lực ngang . Phần chân của mái nghiêng
ra phía lòng sông thường được bảo vệ bằng thảm đá , rọ đá , hoặc thảm bê tông để
chống xói, bảo đảm cho chân kè ổn định.
* Kè bê tông cốt thp tường đứng không neo
Kè bê tông cốt thp tường đứng không neo được xây dựng ở những khu vực
khó di dời, giải tỏa, không còn quỹ đất. Kết cấu của kè là loại cừ bản bê tông cốt thp
hoặc cừ BTCT dự ứng lực, loại vật liệu chịu được lực ngang lớn.
* Kè bê tông cốt thp, cử thp tường đứng có neo
Kè bê tông cốt thp hoặc kè bằng thp có neo được xây dựng ở những khu vực
có mặt bằng rộng rãi, có thể giải tỏa để bố trí hệ thanh neo, dây neo. Kết cấu kè hợp lý
hơn do lực ngang được giữ bởi neo trong bờ, giảm được chuyển vị ngang ở đỉnh kè.
* Kè kết hợp tác động vào lòng dẫn và dòng chảy
Kè kết hợp nhiều biện pháp chỉnh trị thự c chất là kè tác động không chỉ vào
lòng dẫn (biện pháp bị động) mà còn tác động vào cả dòng chảy (biện pháp chủ động)
làm giảm vận tốc dòng chảy để bảo vệ bờ . Công trình loại này rất ít được áp dụng ở
Nam Bộ và Đông Nam Bộ.
Học viên: Bùi Huy Bình Ngành xây dựng công trình thủy
Luận văn thạc sỹ
6
c. Phạm vi ng dng cc loại công trình kiên c
Công trình kiên cố thường chống xói lở tại các điểm tập trung dân cư , thành
phố, thị xã, thị trấn, các trọng điểm xói lở trên hệ thống sông ở ĐBSCL mà nếu không
có công trình, thiệt hại sẽ rất lớn.
1.2. Tổng quan về khu vực nghiên cứu
1.2.1. Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu
1.2.1.1. Đặc điểm địa hình
a. Địa hình vùng đồng bằng sông Cửu Long
Hình 1.1. Bản đồ địa hình khu vực ĐBSCL
trung bình từ vài mt đến vài chục mt, địa hình chuyển dần từ dạng đồi thoải hoặc đồi bát
úp sang vùng đất cao khá bằng phng ở Dĩ An, Thuận An, TP Biên Hoà, Tân Uyên
* Vùng đồng bằng
Vùng đồng bằng châu thổ HTSSGĐN nằm chủ yếu ở thành phố Hồ Chí Minh,
một ít ở Đồng Nai, Bà Rịa-Vũng Tàu, Bình Dương, Tây Ninh và Long An. Vùng đồng
bằng có cao độ trung bình từ 1-5 m, địa hình khá bằng phng và là vùng ảnh hưởng
mạnh của thủy triều từ Biển Đông.
Phần lớn diện tích khu vực nghiên cứu thuộc dạng địa hình bồi tích, là vùng
thấp có cao độ < +5m. Địa hình bồi tích có 3 dạng chính sau:
- Dạng bãi triều thường xuyên ngập triều, phân bố chủ yếu ven sông Đồng Nai,
sông Sài Gòn và các rạch nhỏ. Cao độ địa hình khoảng 0 - 1m, hằng ngày ngập nước
khi thủy triều lên. Đây là dạng địa hình có tuổi trẻ nhất trong khu vực.
- Đồng bằng thấp thường xuyên ẩm ướt, tuổi Holocen muộn, địa hình có cao độ
khoảng 1 - 2m được cấu tạo bởi trầm tích nguồn gốc sông, đầm lầy sông.
- Thềm bậc 1 ở độ cao 2,5m tuổi Holocen giữa, phân bố dưới chân các đồi cao,
bề mặt địa hình hơi nghiêng. Vùng thấp phía nam lác đác có những gò cao hơi nhô
nhưng cũng không phá v cảnh quan thiên nhiên của vùng bằng phng, thấp trũng.
Ngoài ra, rãi rác những vùng địa hình hơi nhô cao để phân chia ranh giới tập trung
nước của các rạch nhỏ vào các rạch lớn hoặc trực tiếp đổ vào sông lớn.
Đặc điểm địa hình nổi bật của vùng nghiên cứu là bằng phng, thấp trũng có
cao độ địa hình thay đổi từ 0,5 - 1,5m trên hàng chục km
2
là nguyên nhân làm cho các
vùng tiểu địa hình trong khu vực rất nhạy cảm với ngập nước bởi tác động của các
kiến trúc nổi do con người tạo ra.
Học viên: Bùi Huy Bình Ngành xây dựng công trình thủy
Luận văn thạc sỹ
8
1.2.1.2. Đặc điểm địa chất cơng trình
a. Địa chất cơng trình vùng đồng bằng sơng Cửu Long
TRÀ
B E ÁN T R E
H A Ø T I E ÂN
CAO LÃNH
C H A ÂU Đ O ÁC
BÌNH DƯƠNG
B I E ÅN T A ÂY
B A ÛN Đ O À
PHÂN VÙNG ĐẤT YẾU Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
B
VĨNH LONG
S A Đ E ÙC
LONG XUYÊN
HỒNG NGỰ
IVb
IVa
V
M Y Õ T H O
TÂN AN
IIIa
L I E ÂU
B A ÏC
S O ÙC
T R A ÊN G
Đ a át s e ùt m a àu x a ùm n a âu , x a ùm v a øn g
Đất bùn sét ,bùn á sét,bùn á cát sen
Bùn á sét và bùn á cát ngập nước.
k e ï p v ơ ùi c a ùc l ơ ùp a ù c a ùt
Cát hạt mòn, á cát xen kẹp ít bùn á cát
Đất than bùn xen kẹp bùn sét, bùn
Đất chưa được nn chặt, hệ số kẽ rỗng thiên nhiên lớn, dung trọng nhỏ. Sức chống cắt
thấp, góc ma sát trong < 100, lực dính C < 0.12 kg/cm
2
trong thực tế thường gặp được
gọi là lớp “st bùn hữu cơ”.
- Lớp st cát lẫn ít sạn, mảnh vụn Laterit và vỏ sò hoặc lớp cát: Lớp này dày
khoảng 3÷5m, thường nằm chuyển tiếp giữa lớp st hữn cơ với lớp đất st không hữu
cơ (như dọc theo tuyến kênh Quản Lộ - Phụng Hiệp). Cũng có nơi như Mỹ Tứ (Hậu
Giang), lớp cát lại nằm giữa lớp st. Lớp này thường nằm không liên tục trên toàn
vùng ĐBSCL.
Một số tài liệu thu được ở Hậu Giang và sông Sài Gòn cho biết: lớp cát có độ
ẩm thiên nhiên W= 32÷35%, dung trọng thiên nhiên bằng γ= 1.69÷1.75 g/cm
3
, góc ma
sát trong ϕ = 29 ÷30
o
.
- Lớp đất st không lẫn hữu cơ: Lớp đất st khá dày ở những độ sâu khác nhau.
Một số hố khoan ở Long An cho thấy: lớp đất st tương đối chặt nằm cách mặt đất
3÷4m. Ở những nơi khác, lớp đất st tương tự nằm cách mặt khoảng 9÷10 m (Thạch
An, Hậu Giang), 15÷16 m (ở Vĩnh Qui, Tân Long, Hậu Giang), 25÷26m (ở Mỹ Thanh,
Hậu Giang), càng gần ven biển lớp đất st càng nằm sâu cách mặt đất thiên nhiên.
Lớp đất st có màu xám vàng hoặc vàng nhạt, hoàn toàn bão hòa nước, ở trạng thái
dẻo cứng đến dẻo chảy, tương đối chặt, khả năng chịu tải tốt hơn lớp st hữu cơ, có
các đặc trưng chống cắt (góc ma sát trong đạt 17
o
, C = 0.28 kg/cm
2
).
* Đặc trưng cơ lý của đất bùn ở một số tỉnh ĐBSCL
Dựa vào số liệu thống kê để xem xt các đặc trưng cơ lí của các lớp đất mà
đoạn sông nghiên cứu đi qua. Dòng chảy của cả hai sông đều đi qua mặt cắt địa chất
có địa tầng thuộc tuổi Holocen chiếm tỷ trọng lớn, địa hình khá bằng phng, chênh
lệch giữa cao độ địa hình và mực nước chuẩn không lớn bề mặt địa hình được phủ
toàn bộ là đất phù sa trẻ tuổi (Holocen) trên bề mặt địa hình hầu như không có phù sa
cổ. Đất tạo nên bề mặt địa hình là đất yếu, có cường độ chịu lực thấp, dễ biến dạng.
Cấu trúc địa mạo của sông Sài Gòn là địa mạo bào mòn, tích tụ. Toàn bộ tuyến sông
Sài Gòn - Cần Giờ theo điều kiện địa chất được phân thành các đoạn sau:
Đoạn sông Sài Gòn từ rạch Bến Ngh - rạch Bơm Cụt: nằm trong khu vực địa
chất địa mạo thềm sông, địa hình thấp và bằng phng có nơi trũng ngập,
nhiều sông rạch. Đất st hoặc st cát trạng thái dẻo mềm đến dẻo nhão, dày
10 -30m trở lên.
Đoạn sông từ rạch Bơm Cụt đến mũi Đèn đỏ: Tả ngạn thuộc khu vực địa chất
1, hữu ngạn thuộc khu vực địa chất 2 - địa mạo dạng bãi bồi sông, nhiều diện
tích trũng ngập, nhiều sông rạch chia cắt - st dẻo mềm và dẻo nhão, dày 10 -
30m trở lên.
Học viên: Bùi Huy Bình Ngành xây dựng công trình thủy
Luận văn thạc sỹ
12
Từ mũi Đèn đỏ đến mũi Cần Giờ: Thuộc khu vực địa chất 5 - địa mạo dạng
đồng bằng thấp ven biển, trũng ngập, sông rạch rất phát triển chia cắt mãnh
liệt - st dẽo nhão và st bùn dày trên 20m
Phía sông Cá Gấu ra biển: thuộc vùng 1’- địa mạo thềm tích tụ ven biển,
phân bố hẹp, tương đối bằng phng - cát st hoặc cát st dày khoảng 5m, bên
dưới là st dẽo mềm.
Theo tài liệu cụ thể của các hố khoan địa chất tại các vùng: khu vực cầu Bình
Phước, cầu Bình Triệu, bán đảo Thanh Đa (An Phú, An Khánh), kho 18 Tân Thuận
Đông (cảng Sài Gòn), nhà máy ximăng lưới thp Cát Lái, nhà máy đường Khánh Hội,
kho B của Tổng kho xăng Nhà Bè, cầu Rạch Lá, cầu Rạch Đôn, cầu Lôi Giang, cầu
Dần Xây, cầu Hào Võ, hội trường UBND huyện Cần Giờ cho thấy: tầng trầm tích
1257
131
2747
1013
132
2611
1160
135
Về phân vùng mưa, (xem hình 1.6) phía Tây ĐBSCL là vùng có lượng mưa lớn nhất
với lượng mưa năm từ 1800 - 2400 mm. Vùng phía Đông có lượng mưa 1600 - 1800
Học viên: Bùi Huy Bình Ngành xây dựng công trình thủy
Luận văn thạc sỹ
13
mm. Vùng trung tâm ĐBSCL ko dài từ Châu Đốc - Long Xuyên - Cần Thơ - Cao
Lãnh đến Trà Vinh - Gò Công là vùng mưa nhỏ nhất với lượng mưa bình quân 1200 -
1600 mm.
Tổng lượng mưa giữa các năm không có sự biến động lớn, nhưng ở các tháng và các
thời kỳ bắt đầu và kết thúc mưa thì có sự biến động lớn. Thông thường mùa mưa bắt
đầu vào tháng V và kết thúc vào tháng XI, nhưng có những năm đến tháng XI lượng
mưa rất nhỏ không đáng kể và cũng có những năm đến tháng XII lượng mưa vẫn còn
khá lớn.
Hình 1.6. Bản đồ lượng mưa trung bình năm vùng ĐBSCL
Dòng chảy sông Mekong
Tổng lượng nước Mekong chuyển vào ĐBSCL hàng năm khoảng 430 tỷ m
3
. Dòng
chảy Mekong chia thành 2 mùa rõ rệt: mùa kiệt từ tháng I –VI, mùa lũ từ tháng VII –
XII. Trong mùa kiệt lưu lượng bình quân mùa khoảng 3.300 m
3
3534
2391
2011
3760
5059
8181
16997
19153
20916
17803
12865
1997
8136
5334
3229
2626
2719
4174
12677
21845
22353
21632
15930
8436
1998
5862
3439
1798
1460
1994
19384
12933
10110
BQ
6162
3882
2425
2128
3704
7277
12758
18519
20026
19471
15007
10580
Học viên: Bùi Huy Bình Ngành xây dựng công trình thủy
Luận văn thạc sỹ
14
Trạm
Năm
I
II
III
IV
V
VI
VII
VIII
IX
5785
3704
2160
1998
1186
683
425
359
455
811
1990
2836
3646
4112
3019
2200
1999
1036
574
359
443
1190
2769
3379
5251
5548
5785
4886
3252
2000
đến diễn biến lòng dẫn các hệ thống kênh rạch là khá lớn. Khi dòng chảy sông
Mekong nhỏ nhiều hệ thống rạch bị bồi lắng, thậm chí là toàn hệ thống; ngược lại, khi
dòng chảy lớn, lòng dẫn bị đào xói.
Phù sa
Hàng năm sông Mekong cung cấp một lượng phù sa khoảng 150 triệu tấn, chủ yếu vào
mùa lũ (trung bình vào mùa lũ nồng độ phù sa trên sông Tiền và Hậu khoảng 500 và
200 g/m
3
, còn trong nội đồng thì nhỏ hơn). Một phần lượng phù sa này lắng đọng
trong đồng, sông, phần khác chuyển ra biển bồi lắng ở các cửa sông và các vùng ven
biển như Mũi Cà Mau. Ven biển Cà Mau và Bạc Liêu hàm lượng phù sa khá lớn.
Hàm lượng phù sa lớn trong các dòng ven biển đã tạo ra và mở rộng bãi bồi dọc biển,
gia tăng diện tích đất liền quốc gia; tuy vậy cũng gây bồi lấp kênh rạch và nâng cao
đáy ô ruộng lấy nước mặn nuôi trồng thủy sản trong các hệ thống ở những vùng này,
gây nên rất nhiều tốn km để xử lý sau mỗi vụ nuôi, nhất là vùng Bạc Liêu, Cà Mau.
Thủy triều
Thủy triều ven biển ĐBSCL từ Vũng Tàu đến Kiên Giang có tính chất khác nhau và do
đó ảnh hưởng đến các vùng ven biển cũng khác nhau. Với mức độ ảnh hưởng khác
nhau, toàn bộ đồng bằng đều ảnh hưởng triều hoặc từ Biển Đông, hoặc từ Biển Tây, kể
cả trong mùa lũ. Tuy vậy, triều từ Biển Đông chiếm ưu thế cả về phạm vi lẫn cường độ.
Do tác động của thủy triều nên biến động mực nước trên kênh rạch rất phức tạp: vừa
giao động theo triều cửa sông kênh, vừa chịu tác động điều tiết từ các bãi, ô ruộng,
cánh đồng Vùng gần biển dao động mực nước chịu ảnh hưởng chủ yếu mạnh của
thủy triều, ngược lại xa biển ngoài tác động của thủy triều còn chịu tác động mạnh của
lưu lượng thượng nguồn. Sự thay đổi mực nước trong sông rạch làm thúc đẩy quá trình
mất ổn định mái bờ, do khi mực nước tăng làm khối đất bờ bị gia tải, khi mực nước
xuống thấp sẽ làm cho phần áp lực chống trượt giảm xuống. Bên cạnh đó tác động của
thủy triều tạo nên vùng giao thoa giữa dòng chảy thượng nguồn và dòng chảy thủy
Học viên: Bùi Huy Bình Ngành xây dựng công trình thủy
Luận văn thạc sỹ
Trong những năm gần đây các ngành kinh tế của các tỉnh, thành phố thuộc hệ thống
lưu vực sông Đồng Nai - Sài Gòn đã có những bước phát triển vượt bậc góp phần đáng
kể vào sự tăng trưởng chung cho cả nước, với mức tăng trưởng hàng năm trung bình
khoảng 7%. Lưu vực sông Đồng Nai - Sài Gòn có những điều kiện đặc biệt về khí hậu
và thổ nhưng như:
+ Diện tích rừng trong khu vực, nhất là rừng đầu nguồn còn lớn, nguồn nước sông
Đồng Nai - Sài Gòn và các phụ lưu tương đối dồi dào thuận lợi cho việc phát triển
nông nghiệp và các ngành kinh tế khác.
Học viên: Bùi Huy Bình Ngành xây dựng công trình thủy
Luận văn thạc sỹ
16
+ Ngoài diện tích gieo trồng lương thực, trong khu vực còn có khả năng trồng nhiều
loại cây công nghiệp lâu năm như: cao su, cà phê, chè, điều, hồ tiêu là những sản phẩm
có giá trị xuất khẩu cao hơn nhiều so với lương thực. Khu vực này cũng là nơi rất
thuận lợi cho việc trồng nhiều loại cây ăn quả và cây công nghiệp ngắn ngày như mía,
lạc, thuốc lá, bông.
+ Khu vực cũng là nơi có nhiều tiềm năng để trồng rừng, khai thác rừng và thu được
những giá trị cao từ nghề nông - lâm nghiệp.
+ Thủy sản cũng là thế mạnh của các tỉnh, thành phố trong lưu vực với các hồ chứa
nước lớn như Dầu Tiếng, Trị An, Phước Hòa, cả hệ thống sông và bờ biển dài khoảng
500km là những yếu tố rất thuận lợi cho nghề đánh bắt và nuôi trồng thủy sản nước
ngọt và nước mặn.
+ Tổng diện tích đất tự nhiên khoảng 4.899.000ha, trong đó:
- Đất nông nghiệp là 2.280.000ha, chiếm 46,5%
- Đất lâm nghiệp có rừng là 34,5% cùng với những điều kiện thuận lợi để kết hợp
nông, lâm nghiệp, đồng thời cải thiện môi trường.
+ Khu vực này có nguồn nước tương đối ổn định, đã được đầu tư khá nhiều công trình
thủy lợi phục vụ sản xuất nông nghiệp.
+ Lưu vực sông Đồng Nai - Sài Gòn cũng là vùng sản xuất công nghiệp phát triển
năng động nhất nước ta, có tác động mạnh mẽ đến các vùng trong cả nước. Các tỉnh và
Công trình dân gian, thô sơ thường có quy mô nhỏ được xây dựng tại các vị trí
sông, kênh, rạch bị xói lở bờ, có độ sâu không lớn. Kinh phí xây dựng công trình
thường là thấp, chủ đầu tư là từng hộ dân sống ven sông. Công trình có nhiệm vụ ngăn
chặn bớt tốc độ xói lở bờ trước tác động của sóng tàu thuyền hay sóng gió.
Các công trình bán kiên cố chống xói lở bờ trên sông Cửu Long và sông Sài
Gòn - Đồng Nai thường được xây dựng để bảo vệ xói lở bờ sông dưới tác động của
dòng chảy và sóng, tại các vị trí sông có độ sâu vừa phải, vận tốc dòng chảy không quá
lớn. Vốn xây dựng công trình do các địa phương hay ban quản lý các khu công nghiệp ,
các cơ sở sản xuất hoặc do nhân dân địa phương đầu tư xây d ựng để bảo vệ cơ sở vật
chất, cơ sở hạ tầng thuộc khu vực mình quản lý. Các công trình bán kiên cố đã xây
dựng để chống xói lở bờ trên sông Cửu Long và sông Sài Gòn - Đồng Nai đều thuộc
dạng bị động, chỉ gia cố bờ. Dạng thường gặp là tường chắn bằng rọ đá, đá hộc xây
hay cọc bản bê tông cốt thp loại nhỏ.
Công trình kiên cố, có quy mô lớn được xây dựng để bảo vệ nhà cửa, cơ sở hạ
tầng thuộc địa phận các thành phố, thị xã nằm ven sông đang bị uy hiếp bởi dòng chảy
có vận tốc lớn trong điều kiện sông sâu. Ngoài ra, hầu hết các công trình kè kiên cố
được xây dựng ở thành phố, thị xã, thị trấn hoặc các khu đông dân cư, khu vực hấp dẫn
khách du lịch , công trình còn có một nhiệm vụ quan trọng là tôn tạo cảnh quan cho
khu vực , phục vụ nhu cầu giải trí , thưởng ngoạn của nhân dân địa phương và du
khách. Kinh phí xây dựng công trình thường rất lớn, trung bình chi phí xây lắp cho
một mt dài kè vài chục triệu đồng tùy theo sông sâu hay nông, đặc biệt kè Tân Châu
đã chi hơn 100 triệu đồng/m, vì thế nguồn vốn thường lấy từ ngân sách nhà nước.
Trong số các công trình kiên cố, có một số công trình được xây dựng với công
nghệ mới, vật liệu mới có thể kể tới như: công trình bảo vệ bờ khu vực thị xã Rạch Giá
sử dụng thảm bê tông bơm trực tiếp trong nước; Công trình bảo vệ bờ sông Gành Hào,
tỉnh Bạc Liêu; công trình bảo vệ bờ sông Cái Lớn, tỉnh Kiên Giang, ứng dụng loại cừ
bản bê tông ứng suất trước; Kè bảo vệ bờ sông Hậu khu vực thành phố Long Xuyên,
ứng dụng khối bê tông tự chèn.
Để cung cấp cơ sở khoa học, phát huy đầy đủ những mặt tích cực, hạn chế tới
mức thấp nhất các khiếm khuyết cho những công trình bảo vệ bờ sẽ xây dựng trong
19
Chương 2: Nguyên nhân xói lở, sự cố các công trình và các giải pháp công trình
bảo vệ bờ phù hợp cho hệ thống sông Cửu Long và sông Sài Gòn - Đồng Nai
2.1. Đặc điểm dòng chảy và diễn biến lòng dẫn khu vực nghiên cứu
Do đặc trưng về hình thái sông, địa hình, địa chất trên hệ thống sông Cửu Long
và sông Sài Gòn - Đồng Nai có những điểm rất khác biệt so với các sông ở miền Bắc
và miền Trung:
- Hầu hết các công trình trên hệ thống sông Cửu Long và sông Sài Gòn - Đồng
Nai chưa có sự can thiệp lớn vào dòng chảy. Các công trình bảo vệ bờ sông ở thị xã,
thành phố có tính chất bị động nhưng vẫn khống chế được thế sông, lòng dẫn vẫn còn
ở trong trạng thái tự nhiên. Những tác động của con người chưa có ảnh hưởng lớn đến
sự vận động, phát triển của thế sông và hình thái sông.
- Sông Cửu Long và sông Sài Gòn - Đồng Nai được hình thành và phát triển
trên nền trầm tích phù sa trẻ, tính kháng xói của bờ và lòng sông rất km, địa chất nền
yếu làm cho công trình dễ bị hư hỏng do biến dạng lún. Đối với các sông lớn như sông
Tiền, sông Hậu, sông Sài Gòn, Đồng Nai, Vàm Cỏ … cấu tạo địa chất lòng sông
(thường là cát) là lớp dễ xói hơn lớp trên mặt (lớp bùn st và đất đắp), nhưng các lớp
trên lại có tính chất cơ lý thấp, rất dễ gây trượt mái. Chính vì vậy, các cung trượt
thường rất lớn. Cũng vì lòng sông dễ xói hơn bờ sông, việc bảo vệ chân công trình
phải đặc biệt quan tâm.
- Hoạt động khai thác dòng sông lớn hơn rất nhiều so với sông ngòi miền Bắc
và miền Trung nước ta; đặc biệt là trong giao thông thủy, do kinh tế ngày càng phát
triển, yêu cầu thông thương đi lại trên các tuyến sông rạch là rất lớn. Hàng ngày có
nhiều ghe, tàu thuyền, trong đó có những tàu thuyền có tải trọng lớn, tốc độ chạy cao
(tàu cao tốc) lưu thông qua lại trên hầu hết các sông rạch, nhất là các tuyến giao thông
thủy chính. Sóng của các loại tàu thuyền đã gây nên tình trạng sạt lở mái bờ của nhiều
sông rạch. Do tập quán của người dân ở các tỉnh phía Nam thường tập trung sinh sống
dọc hai bên bờ sông rạch. Trong đó có nhiều công trình nhà cửa, cơ sở sản xuất xây cất
lấn chiếm lòng sông, kênh, rạch để tiện buôn bán, chuyên chở, trao đổi hàng hóa. Các
công trình lấn chiếm lòng sông khiến cho dòng chảy bị thu hẹp, vận tốc dòng chảy
Luận văn thạc sỹ
21
Hình 2.2. Vị trí mặt cắt ngang nghiên cu diễn biến khu vực kè Tân Châu đoạn 2
Hình 2.3. Diễn biến trên mặt cắt ngang 2-2
2.1.2. Diễn biến lòng dẫn khu vực công trình kè Long Xuyên, sông Hậu
Khu vực thiết kế công trình nằm trên đoạn sông nằm giữa thành phố Long
Xuyên và cồn Phó Ba. Với tổng chiều dài trên 700 mt.
Nhìn chung về địa hình đặc biệt là theo chiều dọc theo lòng sông trước khi xây
dựng công trình có sự biến đổi khá phức tạp. Khả năng xuất hiện sạt lở hiện nay theo
dọc tuyến cũng rất cao đặc biệt là các đoạn giữa tuyến.
Để xem xt diễn biến lòng dẫn trên các mặt cắt ngang khác nhau, sau khi chập
các bình đồ theo cùng hệ tọa độ của các năm, định vị các mặt cắt ngang trên bình đồ
như trên hình 2.4. Diễn biến tại các mặt cắt điển hình 1 trên hình 2.5. Trên cơ sở phân
tích số liệu trên các mặt cắt, có thể đưa ra nhận xt là sau khi xây dựng công trình kè,
chân kè có xu thế bị xói sâu. Lòng sông cũng có xu thế xói sâu hơn.
Học viên: Bùi Huy Bình Ngành xây dựng công trình thủy
Luận văn thạc sỹ
22
Tuyeán keø
K h u c a ûn g q u a ân ñ o äi
Hình 2.4. Vị trí mặt cắt ngang nghiên cu diễn biến khu vực kè Long Xuyên
Hình 2.5. Diễn biến trên mặt cắt ngang 1-1
2.1.3. Diễn biến lòng dẫn khu vực công trình kè đình Tân Hòa - Vĩnh Long, sông
Tiền
Diễn biến lòng dẫn khu vực xây dựng công trình dựa trên các tài liệu thực đo
tháng 12 năm 2009 của Viện Khoa học Thủy lợi miền Nam và năm 2000 của Công ty
Hình 2.9. Diễn biến trên mặt cắt ngang 6-6
2.1.5. Diễn biến lòng dẫn khu vực công trình kè nhà thờ Lasan Mai Thôn - sông Sài
Gòn
Diễn biến lòng dẫn khu vực xây dựng công trình dựa trên các tài liệu thực đo
tháng 12 năm 2003 của Công ty Cổ phần Tư vấn xây dựng Thủy lợi II; tháng 4 năm
2006 của Công ty tư vấn xây dựng công trình thủy I; tháng 10 năm 2008 của Viện
Khoa học Thủy lợi miền Nam.
Kết quả chập bình đồ lòng dẫn cùng tọa độ của các năm nêu trên được trình bày
trên hình 2.10. Lấy đường đồng mức -22 m trên bình đồ của các năm ở khu vực hố xói
để so sánh cho thấy xu thế sự dịch chuyển của hố xói ngày càng sát vào bờ kè khu vực
nhà thờ Lasan - Mai Thôn.
Học viên: Bùi Huy Bình Ngành xây dựng công trình thủy