LỜI TÁC GIẢ
Sau một thời gian thu thập tài liệu, nghiên cứu và thực hiện, đến nay luận
văn Thạc sĩ kỹ thuật: “Công nghệ thi công và khống chế chất lượng trong thi
công bê tông đầm lăn” đã hoàn thành đúng thời hạn theo đề cương được phê
duyệt.
Trước hết tác giả bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Trường Đại học Thuỷ
lợi đã đào tạo và quan tâm giúp đỡ tạo mọi điều kiện cho tác giả trong quá trình
học tập và thực hiện luận văn này.
Tác giả xin trân trọng cảm ơn TS.Nguyễn Như Oanh và TS. Dương Đức
Tiến đã trực tiếp tận tình hướng dẫn, cũng như cung cấp tài liệu, thông tin khoa
học cần thiết cho luận văn.
Tác giả xin chân thành cảm ơn Đảng uỷ, Lãnh đạo, Cán bộ công nhân viên Công ty
tư vấn thủy lợi, thủy diện Thăng Long đã tận tình giúp đỡ và tạo mọi điều kiện cho
tác giả trong suốt thời gian học tập và thực hiện luận văn này.
Tác giả xin cảm ơn gia đình, các bạn bè đồng nghiệp đã hết sức giúp đỡ động viên
về tinh thần và vật chất để tác giả đạt được kết quả hôm nay.
Trong quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn, tác giả khó tránh khỏi
những thiếu sót và rất mong nhận được sự góp ý, chỉ bảo của các thầy, cô và cán
bộ đồng nghiệp đối với bản luận văn.
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày 10 tháng 05 năm 2012
Tác giả Kiều Văn Hồng
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung
thực và không trùng lặp với các đề tài khác. Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự
- 1 -
MỞ ĐẦU
I. Tính cấp thiết của luận văn
Bê tông đầm lăn (BTĐL) được xem là bước phát triển đột phá trong công
nghệ xây dựng đập bê tông nói riêng, xây dựng công trình thủy lợi nói chung. Bê
tông đầm lăn là một loại bê tông không có độ sụt được thi công bằng các thiết bị thi
công đường, đập đất công suất lớn. Thiết bị rải là xe ủi hay xe rải bê tông asphalt,
và đầm chặt BTĐL bẳng lu rung bánh thép và lu bánh hơi (để hoàn thiện bề mặt).
Với ưu điểm nổi bật của BTĐL là sử dụng ít xi măng, tốc độ thi công nhanh… nên
giảm giá thành.
Công nghệ thi công BTĐL đem lại hiệu quả kinh tế cao so với bê tông truyền
thống khi thi công các công trình đập bê tông trọng lực bởi lý do sau:
+ Thi công nhanh: Các kỹ thuật thi công nhanh (so với các kỹ thuật thi công
bê tông thông thường và đắp) và giảm số lượng vật liệu (so với đắp). Quy trình thi
công BTĐL tạo điều kiện cho công tác đổ gần như liên tục và tạo ra tốc độ thi công
nhanh.
+ Thi công BTĐL sẽ giảm giá thành công trình từ 25-40% so với thi công bê
tông thường. Việc hạ giá thành đạt được là do giảm được chi phí cốt pha, giảm chi
phí cho công tác vận chuyển, đổ, đầm bê tông và đặc biệt giảm được giá thành đơn
vị bê tông.
+ Giảm chi phí cho biện pháp thi công: việc thi công đập bằng BTĐL có thể
giảm chi phí dẫn dòng trong thời gian xây dựng và giảm các thiệt hại, các rủi ro khi
nước lũ tràn qua đê quai. Đối với đập BTĐL, đường ống dẫn dòng ngắn hơn ống
dẫn dòng của đập đất đắp. Hơn nữa thời gian thi công đập BTĐL ngắn nên các ống
dẫn dòng cho đập BTĐL chỉ cần thiết kế để đáp ứng lưu lượng xả nước lớn nhất
theo mùa thay vì lưu lượng lớn nhất theo năm như đối với đập bê tông thường và
đập đất đắp. Vì thế đường kính cống dẫn dòng của đập BTĐL nhỏ hơn và chiều cao
Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Chuyên ngành xây dựng công trình thủy
- 2 -
đê quai cho đập BTĐL cũng thấp hơn so với phương án đập bê tông thường và đập
Cách tiếp cận của luận văn là khảo sát đánh giá tình hình thi công BTĐL ở
một số công trình đã và đang xây dựng ở Việt Nam và trên thế giới, kế thừa các
thành tựu Khoa học công nghệ về BTĐL trong và ngoài nước, từ đó lựa chọn để
nghiên cứu áp dụng vào điều kiện nước ta.
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu lý thuyết kết hợp đúc rút kinh nghiệm
thực tế và lựa chọn công nghệ hợp lý.
Tổng hợp tài liệu nghiên cứu đã có, các quy trình quy phạm tính toán và chỉ
dẫn thi công.
Thu thập các số liệu liên quan. Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Chuyên ngành xây dựng công trình thủy
- 4 -
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN CHUNG VỀ CÔNG NGHỆ BÊ TÔNG ĐẦM LĂN
1.1 Khái niệm chung về bê tông đầm lăn
Có nhiều định nghĩa về bê tông đầm lăn, nhưng các định nghĩa đều dựa trên
nguyên tắc là một loại bê tông được tạo thành bởi hỗn hợp cốt liệu nhỏ (cát thiên
nhiên hoặc cát nghiền), cốt liệu lớn (đá dăm), xi măng, phụ gia hoạt tính nghiền mịn
(tro bay nhiệt điện hoặc Puzolan thiên nhiên), nước và phụ gia hóa học. Sau khi trộn
đều, vận chuyển, san rải, hỗn hợp được đầm chặt bằng máy đầm lăn. Dưới tác dụng
của tải trọng nén ép và chấn động dung từ máy đầm lăn, bê tông được đầm chặt.
+ Bê tông đầm lăn giàu CKD: (hàm lượng CKD > 150 kg/m
3
) được
phát triển ở Anh. Việc thiết kế thành phần BTĐL được cải tiến từ bê tông thường và
việc thi công dựa vào công nghệ thi công đập đất đắp;
Ngoài ra còn một hướng phát triển BTĐL khác đó là hướng phát triển RCD
của Nhật bản (Japannese Roller Compacted Dams), chuyển từ đập trọng lực bê tông
thường sang sử dụng BTĐL. Theo hướng này, BTĐL có lượng CKD nằm giữa loại
BTĐL có lượng CKD trung bình và loại BTĐL có lượng CKD cao.
Ưu điểm của BTĐL là lượng dùng xi măng thấp, lượng nước trộn thấp hơn
nhiều so với lượng nước dùng cho bê tông truyền thống cùng mác. Do lượng dùng
xi măng thấp nên mức độ tỏa nhiệt trong bê tông đầm lăn do nhiệt thủy hóa xi măng
gây ra thấp, giảm thiểu được hiện tượng nứt bê tông do ứng suất nhiệt. Ngoài ra, thi
công BTĐL có thể cơ giới hóa cao, tốc độ thi công nhanh, đặc biệt là với các đập
lớn làm cho công trình sớm đưa vào khai thác vận hành dẫn đến hiệu quả kinh tế
cao hơn nhiều so với đập bê tông truyền thống.
Mặc dù công nghệ BTĐL đã được khẳng định là công nghệ xây dựng tối ưu
áp dụng cho đập trọng lực nhưng việc xây dựng đập BTĐL chỉ thực sự phát huy
được tính ưu việt và tạo ra sản phẩm có chất lượng tương đương với đập bê tông
thường khi khắc phục được những điểm yếu của loại hình công nghệ này:
Về chất lượng bám dính giữa các lớp
Cường độ bám dính giữa các lớp đối với đập BTĐL là điểm yếu nhất của
BTĐL. Vì vậy cường độ kéo bê tông tại vùng tiếp giáp giữa các lớp đổ là mối quan
tâm lớn nhất khi thiết kế kết cấu đập BTĐL. Do vậy cần phải có những thử nghiệm
Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Chuyên ngành xây dựng công trình thủy
- 6 -
kỹ càng trên mô hình với các điều kiện về vật liệu, thiết bị và quy trình thi công
thực tế để xác định các tính chất của bê tông tại vùng tiếp giáp giữa các lớp thi công
và đảm bảo rằng các giá trị của các tính chất của bê tông không thấp hơn yêu cầu
thiết kế.
pháp xây dựng đập dâng bằng bê tông trọng lực thi công bằng công nghệ đầm lăn
đã được đề nghị lựa chọn.
Bảng 1.1. Một số công trình đập BTĐL đã được thiết kế và xây dựng ở nước ta
TT Tên công trình
Chiều cao
(m)
Tỉnh Ghi chú
1 TĐ Sơn La 139 Sơn La
Năm 2007 thí nghiệm
hiện trườ
ng. Thi công
đập chính từ
7/2007
2
TĐ Bản Chát
130
Lai Châu
Phát điện vào năm 2012
3
TĐ Huội Quảng
104
Sơn La
Theo TKKT 1
4 TĐ Bản Vẽ 136 Nghệ An
Thi công đập dâng
BTĐL vào tháng 2/2007
5
TĐ sông Tranh
Thanh Hoá
Dự kiến hoàn thành vào
Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Chuyên ngành xây dựng công trình thủy
- 8 -
TT Tên công trình
Chiều cao
(m)
Tỉnh Ghi chú
năm 2016
13 TĐ Sông Bung 4 110 Quảng Nam
Khởi công năm 2010 dự
kiế
n hoàn thành vào
năm 2014
14
TĐ Thượng Kon
Tum
73 Kon Tum
Khởi công năm 2009
hoàn thành vào năm
2014
15 TĐ Đak Mi 4 90 Đồng Nai
Khởi công tháng 4/2007
phát điện vào năm 2012
16 TĐ Hủa Na 90 Nghệ An
Dự kiến phát điện vào
tháng 8 năm 2012
1.2.2. Trên thế giới
Về xây dựng đập trọng lực, tính đến 2010, toàn thế giới đã xây dựng được
Gia
Số
đập
đã
xây
dựng
Thể
tích
BTĐL
(10
3
m
3
)
Tỷ lệ theo
S.lượng %
Tỷ lệ
theo K.
lượng %
Châu á
Châu Âu
T.Quốc
57
28.275
20
30.50
Pháp
6
3
m
3
)
Tỷ lệ
theo
S.lượng %
Tỷ lệ
theo K.
lượng%
Tên
Quốc
Gia
Số
đập
đã
xây
dựng
Thể
tích
BTĐL
(10
3
m
3
)
Tỷ lệ theo
S.lượng %
0.82
Chile 2 2.170 0.7 2.34
Eritrea 1 187 0.35
Colombia 2 2.974 0.7 3.21
Ma Rốc 11 2.044 3.86 2.20
Mexico 6 840 2.1 0.91
Nam Phi
14 1.214 4.91 1.31
Tổng: 51 16.014 16.48 17.27
Tổng: 29 6.962 10.17 7.51
Bắc Mỹ
Châu úc
Canada 2 622 0.7 0.67
Australia
9 596 3.15 0.64
Hoa Kì 37 5.081 12.98 5.48
Khác 17 7.534 5.96 8.13
Tổng: 39 5.703 13.68 6.15 Tổng 285
92.712
BTĐL CKD
Trung bình
18.6%
BTĐL nghèo
CKD 16.1%
Loại khác
15.4%RCD Nhật
Bản 2.5%
Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Chuyên ngành xây dựng công trình thủy
- 10 -
tông hiện có mà đập đó có sự cố về an toàn và cần phải gia cố, cải thiện các đập có
công suất tràn chưa hợp lý bằng biện pháp cho tràn qua đập một cách an toàn. Ưu
điểm của BTĐL trong thi công đập so với các đập bê tông truyền thống (Bê tông
đầm rung) bao gồm:
- Thi công nhanh hơn: có thể tăng chiều cao đập từ 2,5 đến 5m trong 1 tuần
đối với các đập lớn, ở các đập nhỏ có thể tăng chiều cao lớn hơn. Tính theo khối
lượng: năng suất đổ bê tông đạt 122.265m
3
/tháng (đập Tha Đan - Thái Lan năm
2004) hoặc 125.325m
3
/tháng (đập Upper Stillwate - Mỹ năm 1987), năng suất trung
bình thống kê ở các đập trên thế giới đã thực hiện là 90.000m
3
/tháng. Điều này rất
có ý nghĩa trong việc sớm đưa công trình vận hành. Theo tính toán nếu công trình
3
) được phát
triển ở Anh. Việc thiết kế thành phần BTĐL được cải tiến từ bê tông thường và việc
thi công dựa vào công nghệ thi công đập đất đắp;
Ngoài ra còn một hướng phát triển BTĐL khác đó là hướng phát triển RCD
của Nhật bản (Japannese Roller Compacted Dams), chuyển từ đập trọng lực bê
tông thường sang sử dụng BTĐL. Theo hướng này, BTĐL có lượng CKD nằm giữa
loại BTĐL có lượng CKD trung bình và loại BTĐL có lượng CKD cao.
Sau hơn 30 năm ứng dụng trên thế giới, công nghệ xây dựng đập BTĐL liên
tục được cải tiến cả về vật liệu chế tạo và kỹ thuật thi công. Cho tới nay, đập BTĐL
được thi công xây dựng ở nhiều nước thế giới , ở nơi có nhiệt độ môi trường từ rất
thấp cho đến rất cao và có thể trong cả những vùng thường xuyên có mưa lớn.
Trước đây, đập BTĐL sử dụng BTĐL nghèo CKD được sử dụng tại một số
đập có chiều cao dưới 60m ở Mỹ. Ngày nay, các đập BTĐL được xây dựng trên thế
giới chủ yếu sử dụng BTĐL có lượng CKD trung bình và giàu CKD như các nước
Tây âu, Trung Quốc, Nhật Bản.
Hình 1.3. Thi công đập BTĐL
bằng xe lu rung
( Beni-Haroun - Algeri)
Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Chuyên ngành xây dựng công trình thủy
- 12 -
Ngoi vic ng dng cho p, BTL cng c ng dng trong xõy dng mt
ng v sõn bói. BTL cho mt ng ln u tiờn c ỏp dng Canada vo
nm 1976 ti Caycuse trờn o Vancouver vi din tớch tng cng 36.000m
2
. Cho
ti nay, hng chc triu m
2
Thân khung
angke
Khung angke
Bê tông đầm lăn
75.5
84.5
38.5
83.5
85
Lun vn thc s k thut Chuyờn ngnh xõy dng cụng trỡnh thy
- 13 -
Có thể thấy rằng những dạng kết cấu bê tông có hình dáng không phức tạp và
không có cốt thép đều có thể thi công bằng công nghệ bê tông đầm lăn. Khối đổ bê
tông càng lớn, áp dụng công nghệ này càng hiệu quả.
Bảng 1. 3. Những đặc tính và tham số của một số đập bê tông đầm lăn đã
xây dựng xong và đang xây dựng
TT
Tên đập
Chiề
u
cao
đập
(m)
Chiề
u
dài
đập
ngân, đậ
p bê tông
đầm lăn đầ
u tiên
trên thế giới
2
Liễu (Mỹ)
Kê
50 526 47 19 1983
Ở thượng lưu có
tấm chống thấ
m
bằng bê tông đúc
sẵn (tấm bản mặt)
3
Khang
Khẩu
57 123 42 60 80 1986
1510
Trộn lượng tro bay
cao, chống thấ
m
bằng vữa cát nhự
a
đường
4
Thượng
Tỉnh Thuỷ
(Mỹ)
88 814 79 173 1987 17-29
bê tông cấp phối 2
7
Phan Gia
Khẩu
27 277 36 94 44 1989
3-5
1-3
Đầm nén trên toàn
bộ mặt cắ
t thêm
vữa vào để đầm
8 Nham Than
111 525 73 90 55 1992 105
Bê tông cấp phối 2
chống thấm
9 Thuỷ Khẩu 101 191 68 60-65
100-
105
1993 11.5
Bê tông cấp phối 2
chống thấm
Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Chuyên ngành xây dựng công trình thủy
- 14 -
TT
Tên đập
Chiề
u
cao
Đập vòm bê tông
đầm lăn đầu tiên ở
Trung Quố
c. Bê
tông cấp phố
i 2
chống thấ
m, khe
ngang có thể
phun
ciment trùng lặp
11
ÔnTruyền
Bảo
49 188 13.8 99 1994 6-108
Đập vòm bê tông
đầm lăn, khe
ngang có thể
khoan phụ
t trùng
lặp
12
Quan Âm
Các
82 1040 66 84 1995
Hình thức kim bao
ngân, cắ
t khe,
1999
10.8
15
Đại Triều
Sơn
118 480 85 68-110
96-107
2002 10.9
16 Long Than 192 736 168 90-90 96-100
Đang
xây
dựng
7.8
Sau khi xây xong
sẽ trở thành đậ
p
đầm lăn cao nhấ
t
Trung Quốc
17 Sa Bài 132 238 28 110-60
2000
8-9
7.5-9
Đập bê tông đầm
lăn
cao
đập
(m)
Chiề
u
dài
đập
(m)
Chiề
u
rộng
đáy
Vật liệu kết
dính
Thời
gian
hoàn
thành
Vc
(giây)
Thuyết minh
XM
Kg/m
3
Chất
độn
mịn
Kg/m
3
Thông thường bê tông cho lõi đập trọng lực thường được thiết kế với mác
thấp (khoảng 15-20MPa) nên lượng dùng xi măng thấp và vì vậy nếu không sử
dụng thêm các phụ gia khoáng mịn, hàm lượng hồ chất kết dính sẽ quá thấp dẫn tới
bê tông kém lưu động và không có độ đặc chắc cao, giảm tính chống thấm, chống
xâm thực và giảm độ bền lâu của bê tông. Việc sử dụng các phụ gia khoáng mịn cho
bê tông khối lớn ngoài việc giảm nhiệt sinh ra do CKD thuỷ hoá còn có tác dụng
giảm giá thành, cải thiện tính công tác của hỗn hợp bê tông.
Từ trước tới nay, phụ gia khoáng đã được sử dụng phổ biến cho các công
trình bê tông khối lớn thi công theo công nghệ bê tông thường với mục đích giảm
nhiệt thuỷ hoá, hạ giá thành bê tông như các đập thuỷ lợi (Đập sông Lòng Sông, đập
Bái Thượng ) và đập thuỷ điện (Sê San 3). Thực tế cho thấy các loại phụ gia
khoáng đã sử dụng cho các công trình nói trên đều mang lại hiệu quả kinh tế kỹ
thuật tốt.
Ở nước ta hiện có nhiều nguồn phụ gia khoáng có thể sử dụng làm phụ gia
khoáng cho BTĐL gồm các nguồn nhân tạo như tro nhiệt điện (nhà máy nhiệt điện
Phả Lại, Ninh Bình, Uông Bí) và các loại puzơlan tự nhiên như puzơlan Sơn Tây,
Đá si lic Hải Phòng, puzơlan Phong Mỹ - Thừa Thiên Huế, puzơlan Gia Lai,
điatomit Kontum, puzơlan Bà Rịa-Vũng Tầu, điatomit Phú Yên
1.3.1.2. Tiềm năng về thiết bị:
Thiết bị thi công BTĐL không phức tạp, các thiết bị chính để thi công bê
tông theo công nghệ này hiện đều có ở Việt Nam. Thiết bị
chính để thi công BTĐL
cho đập và đường giống nhau. Tuy nhiên ở mỗi loại hình công nghệ đòi hỏi thêm
những thiết bị thi công đặc chủng riêng.
Các thiết bị chính cho thi công đập bằng công nghệ BTĐL gồm: Máy trộn
cưỡng bức có khả năng trộn hỗn hợp bê tông khô sử dụng cốt liệu có đường kính
Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Chuyên ngành xây dựng công trình thủy
- 17 -
lớn; băng tải hoặc các thiết bị tương đương để vận chuyển bê tông; xe tải tự đổ; máy
san ủi; máy lu rung; máy tạo khe co; máy đánh xờm; hệ thống phun nước cao áp
nước vào khe co dãn (thông thường 15 m/khe). Tường hạ lưu có thể là bê tông đổ
tại chỗ giống như tường thượng lưu, cũng có thể được lắp ráp bằng các tấm hoặc
khối bê tông đúc sẵn. Các lớp kết cầu tường này đóng vai trò cốp pha cho các lớp bê
tông đầm lăn phía trong. Hỗn hợp bê tông sau khi được trộn từ các trạm trộn được
vận chuyển đến nơi đổ bằng các phương tiện như xe chạy trên ray, băng tải, xe ô-tô
tự đổ chuyên dụng. Hỗn hợp BTÐL được san gạt bằng xe ủi. Sau đó chúng được
đầm lèn bằng lu rung (7-12 tấn). Chiều dầy từng lớp đổ được quyết định bởi năng
lực đổ, năng lực đầm của các thiết bị. Thông thường mỗi lớp bê tông được san dày
khoảng 30-40cm. Ðể tăng tốc độ di chuyển, tại một số công trình, các máy ủi san bê
tông được cẩu tháp cẩu chuyển đến các vị trí cần thiết (tránh làm hỏng bề mặt bê
tông đã đầm). Thời gian từ khi bê tông bắt đầu được trộn cho tới khi đầm lèn xong
không vượt quá thời gian bắt đầu đóng rắn của bê tông. Hình 1.6. Hệ thống băng
tải có máy đổ chạy bằng
xích tự hành
Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Chuyên ngành xây dựng công trình thủy
- 19 -
Hình 1.7. Hệ thống băng
tải có ống xả di chuyển
hai bên
Lu rung
Lu lốp
Bê tông đầm lăn
Hình 1.10. Hình ảnh thi công mặt đường bằng công nghệ bê tông đầm lăn ở Mỹ
- Rải hỗn hợp bê tông đầm lăn bằng máy rải
- Lu lèn bê tông đầm lăn bằng lu rung
1.3.2. Một số điểm cần lưu ý khi áp dụng công nghệ BTĐL cho xây dựng đập
Mặc dù công nghệ BTĐL đã được khẳng định là công nghệ xây dựng tối ưu
áp dụng cho đập trọng lực nhưng việc xây dựng đập BTĐL chỉ thực sự phát huy
được tính ưu việt và tạo ra sản phẩm có chất lượng tương đương với đập bê tông
thường khi khắc phục được những điểm yếu của loại hình công nghệ này.
1.3.2.1. Về chất lượng bám dính giữa các lớp:
Cường độ bám dính giữa các lớp đối với đập BTĐL là điểm yếu nhất của
BTĐL. Vì vậy cường độ kéo bê tông tại vùng tiếp giáp giữa các lớp đổ là mối quan
Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Chuyên ngành xây dựng công trình thủy
- 21 -
tâm lớn nhất khi thiết kế kết cấu đập BTĐL. Do vậy cần phải có những thử nghiệm
kỹ càng trên mô hình với các điều kiện về vật liệu, thiết bị và quy trình thi công
thực tế để xác định các tính chất của bê tông tại vùng tiếp giáp giữa các lớp thi công
và đảm bảo rằng các giá trị của các tính chất của bê tông không thấp hơn yêu cầu
thiết kế.
Sau khi xây xong đập Liễu Khê – Trung Quốc vào mùa thu năm 1983, hồ lần
đầu tiên trữ nước có độ cao đến 15,2 m, ở hành lang và ở mặt hạ lưu xuất hiện thấm
tông đầm lăn vào mùa hè cũng là điều không tránh khỏi cho nên vấn đề khống chế
nhiệt là vô cùng quan trọng, việc khống chế nhiệt độ đảm bảo bể tông không bị nứt
có liên quan trực tiếp tới khe co giãn ngang. Vì vậy các vấn đề: khống chế nhiệt -
khoảng cách giữa các khe co giãn ngang – tốc độ thi công cần được tiếp tục nghiên
cứu
Đối với đập vòm thi công bằng công nghệ bê tông đầm lăn vấn đề khe
ngang càng trở nên quan trọng. Với tình hình nào thì phải tạo khe ngang? Kết cấu
khe ngang ra sao? Sau khi đã tạo khe ngang thì làm thế nào để hồi phục lại tính
nguyên vẹn của đập vòm? Tất cả các vấn đề này từ lý luận đến công nghệ đều còn
phải nghiên cứu tiếp
Quy mô đập ngày càng lớn, yêu cầu cường độ thi công cao, việc ứng dụng cơ
giới trong các khâu thi công cần được tiếp tục nghiên cứu để đảm bảo tính kinh tế
và chất lượng xây dựng đập
Luận văn thạc sĩ kỹ thuật Chuyên ngành xây dựng công trình thủy