1
Học viên: Phạm Khắc Dương Lớp CH18C21
MỤC LỤC
5TTHỐNG KÊ CÁC BẢNG BIỂU5T 2
5TTHỐNG KÊ CÁC HÌNH VẼ5T 3
5TMỞ ĐẦU5T 7
5T1. Tính cấp thiết của đề tài5T 7
5T2. Mục đích nghiên cứu5T 10
5T3. Nội dung nghiên cứu5T 10
5T4. Phương pháp nghiên cứu5T 10
5TCHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ HÓA LỎNG DƯỚI TÁC DỤNG CỦA ĐỘNG ĐẤT5T
11
5T1.1.Khái quát về động đất5T 11
5T1.2.Động đất tại Việt Nam5T 17
5T1.3.Khái quát về hóa lỏng5T 30
5T1.4.Thiết kế chống hóa lỏng5T 35
5TCHƯƠNG 2: TỔNG QUAN VỀ ĐẬP VẬT LIỆU ĐỊA PHƯƠNG HÓA LỎNG BỞI
ĐỘNG ĐẤT5T 38
5T2.1.Khái quát về đập vật liệu địa phương5T 38
5T2.2.Tỉnh hình xây dựng đập vật liệu địa phương tại một số khu vực chịu ảnh hưởng thường
xuyên của động đất5T 46
5T2.3.Khái quát về hóa lỏng trong đập vật liệu địa phương5T 51
5TCHƯƠNG III: MÔ PHỎNG BÀI TOÁN HÓA LỎNG TRONG ĐÊ, ĐẬP VẬT LIỆU
ĐỊA PHƯƠNG DƯỚI TÁC DỤNG CỦA TẢI TRỌNG ĐỘNG ĐẤT5T 62
5T3.1.Cơ sở lý thuyết phương pháp phần tử hữu hạn5T 62
5T3.2.Tóm tắt cơ sở lý thuyết giải bài toán hóa lỏng do tác dụng của tải trọng động đất5T 66
5T3.3.Nghiên cứu hiện tượng hóa lỏng đối với công trình thực tế5T 83
5TCHƯƠNG IV: NGUYÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA THAM SỐ ĐẾN HÓA LỎNG
ĐẬP VẬT LIỆU ĐỊA PHƯƠNG5T 102
5T4.1.Giới thiệu công trình thực tế5T 102
Bảng 3-12.Các chỉ tiêu cơ lý của vật liệu đắp đập
Bảng 3-13.Các chỉ tiêu cơ lý của đát nền,đá nền
Bảng 3-14.Các chỉ tiêu cơ lý của vât liệu thoát nước
Bảng 4-1.Thống kê hệ số an toàn K
R
minmin
R theo gia tốc đỉnh và mô hình đất
3
Học viên: Phạm Khắc Dương Lớp CH18C21
THỐNG KÊ CÁC HÌNH VẼ
Hình 1-1.Vị trí phát sinh động đất
Hình 1-2.Biểu đồ gia tốc động đất được ghi lại theo thời gian
Hình 1-3.Bản đồ các vùng phát sinh động đất trên lãnh thổ Việt Nam
Hình 1-4.Bản đồ chấn tâm động đất và đứt gẫy sinh chấn trên lãnh thổ Việt Nam
Hình 1-5.Bản đồ phân vùng gia tốc nền trên lãnh thổ Việt Nam
Hình 1-6.Đập San Fernando hạ bị trượt dưới nước trong trận động đất San
Fernando,1971
Hình 1-7.Đất hóa lỏng sau động đất ở Christchurch
Hình 1-8.Hóa lỏng cát sau động đất ngày 11/3/2011 tại Nhật Bản (Koseki, 2011)
Hình 1-9.Hóa lỏng sau động đất ngày 11/3/2011 tại Nhật Bản (Koseki, 2011)
Hình 1-10.Hóa lỏng sau động đất ngày 11/3/2011 tại Nhật Bản làm hư hỏng
công trình (Koseki, 2011)
Hình2-1. Các hệ số động đất được đề xuất năm 1966 cho phân tích giả tĩnh
(Seed, 1966)
Hình2-2. a) chuyển vị lâu dài u của một khối trượt với hệ số kháng chấn N/A;
(b) các hệ số khuếch đại cho các khối đắp nhớt đàn hồi tuyến tính khi cộng
hưởng (Hynes-Grifin và Franklin, 1984)
Hình 2-3.Quan hệ giữa tỷ số ứng suất và số nhát đập SPT, được hiệu chỉnh cho
áp suất lớp phủ, cho thấy sự xuất hiện hóa lỏng (các vòng tròn đóng) và không
Hình 3-25.Điểm quan sát 294
Hình 3-26.Gia tốc theo phương ngang của điểm 294(m/s2)
Hình 3-27. Điểm quan sát 18
Hình 3-28.Chuyển vị của nền và thân đập theo phương đứng Y(m)
Hình 3-29.Chuyển vị của nền và nền đập theo phương X (m)
Hình 4-1.Hàm hiệu chỉnh ứng suất cắt ban đầu Ka (Kramer, 1996)
Hình 4-2.Hàm hiệu chỉnh ứng suất phủ Ks (Kramer, 1996)
Hình 4-3.Hàm mẫu xác định chu kỳ gây hóa lỏng(See&Lee-1996)
Hình 4-4.Hàm mẫu xác định áp lực nước lỗ rỗng dư (Lee and Albaisa (1974) &
DeAlba et al (1975))
Hình 4-5.Hàm G/Gmax của các lớp đất
Hình 4-6.Hàm Damping Ratio Function của lớp đất 2.1
Hình 4-7.Biểu đồ gia tôc ghi động đất cấp VIII(a
R
max
R=0.1281g)
5
Học viên: Phạm Khắc Dương Lớp CH18C21
Hình 4-8.Biểu đồ gia tôc ghi động đất cấp VII(aR
max
R=0.1200g)
Hình 4-9.Biểu đồ gia tôc ghi động đất cấp VI(a
R
max
R=0.0600g)
Hình 4-10.Biểu đồ gia tôc ghi động đất cấp V(a
R
max
R=0.0300g)
R
max
R=0.06g, mô hình tuyến tính
tương đương
Hình 4-23.Phân tích ổn định mái hạ lưu với a
R
max
R=0.12g, mô hình tuyến tính
Hình 4-24.Phân tích ổn định mái hạ lưu với a
R
max
R=0.12g, mô hình tuyến tính
tương đương
Hình 4-25.Phân tích ổn định mái hạ lưu với a
R
max
R=0.1281g, mô hình tuyến tính
Hình 4-26.Phân tích ổn định mái hạ lưu với a
R
max
R=0.1281g, mô hình tuyến tính
6
Học viên: Phạm Khắc Dương Lớp CH18C21
tương đương
Hình 4-27.Đồ thị áp lực nước lỗ rỗng dư nút 1512 với 4 cấp động đất
Hình 4-28.Đồ thị áp lực nước lỗ rỗng dư nút 18 với 4 cấp động đất
Hình 4-29.Gia tốc theo phương ngang của node 306(m/s
P
2
Động đất một hiện tượng thiên nhiên gây nên những tai họa khủng khiếp
đối với xã hội loài người. Đối với công trình, động đất có thể làm: mất ổn định
(trượt mái), biến dạng lớn (lún, nứt), xói ngầm, hóa lỏng….Trên thế giới đã từng
xẩy ra rất nhiều trận động đất gây họa quả đặc biệt nghiêm trọng như: Trận động
đất Great Kanto (Nhật Bản, năm 1923, mạnh 7,9 độ Richter) làm hư hỏng hầu
như toàn bộ Tokyo và con số người chết lên đến 142.000 người; Động đất Kobe
tại Nhật Bản năm 1995 mạnh 6.5 độ Richter làm 7.000 người chết; Trận động
đất đông bắc Pakistan (Pakistan, năm 2005, mạnh 7,6 độ Richter) làm hư hỏng
thành phố Muzaffarabad, Pakistan với gần 86.000 người chết; Gần đây, trận
động đất và sóng thần tại tỉnh Miyagi, Fukushima (Nhật Bản, ngày 11/3/2011,
mạnh 9 độ Richter) đã làm hư hỏng hoàn toàn các công trình, nhà cửa, đặc biệt
là làm tê liệt hoạt động, gây rò rỉ phóng xạ nghiêm trọng tại nhà máy điện hạt
nhân Fukushima, số người chết và mất tích gần 28.000 người.
Lãnh thổ Việt Nam nằm ở vùng đất có cấu trúc địa chất – kiến tạo phức tạp,
tuy không nằm trên các vành đai động đất – núi lửa hoạt động, nhưng cũng
không phải nằm trên vùng đất bền khó xảy ra động đất. Các vùng có nguy cơ
xẩy ra động đất từ 6,0-7,0 độ Richter ở Việt Nam gồm: đới đứt gẫy trên hệ thống
sông Hồng, sông Chảy; đới đứt gẫy Lai Châu-Điện Biên; đới sông Mã, Sơn La,
sông Đà; đới Cao Bằng-Tiên Yên; đới Rào Nậy-sông Cả; đới Đakrông-Huế; đới
Trường Sơn; đới sông Ba; đới ven biển miền Trung. Ngoài những vùng lãnh thổ
này, trên lãnh thổ Việt Nam còn có khoảng 30 khu vực có nguy cơ động đất với
cường độ xấp xỉ 5,0 độ Richter. Riêng đối với khu vực Tây bắc còn phải chịu dư
chấn từ những trận động đất mà tâm chấn nằm trên lãnh thổ Trung Quốc và Lào,
đây là nơi nguy cơ xẩy ra động đất rất cao. Thống kê của Viện khoa học Việt
Nam (1992), trong vòng 100 năm đã có 118 trận động đất xẩy ra ở vùng Tây
Bắc. Ví dụ: trận động đất ở Điện Biên (năm 1923, M=6,75) gây chấn động cấp 8
trên diện tích 1500km
P
2
P, chấn động cấp 7 lan rộng trên diện tích 13000kmP
xây dựng chủ yếu trên nền đất cát, bồi tích, có khi lại sử dụng vật liệu đắp hạt
thô nên cần phải đánh giá khả năng hóa lỏng khi chịu tác dụng của tải trọng
động đất.
9
Học viên: Phạm Khắc Dương Lớp CH18C21
Bảng 1. Lược sử những thay đổi đề tài quan trọng trong nghiên cứu hóa lỏng
(Towhata, 2008)
Đề tài
Năm
Ghi chú
Cơ chế hóa
lỏng
1960 Động đất Niigata và Alaska năm 1964
Đánh giá khả
năng hóa lỏng
1970-1980
Giá trị SPT-N nhỏ nhất, hệ số an toàn, khả
năng hóa lỏng thấp của cuội sỏi và bụi mịn, lún
mặt nền sau hóa lỏng.
Ngăn chặn hóa
lỏng
1970-cho đến
nay
Gia cường đất(Đầm, cuội sỏi thoát nước,
khoan phụt
Hậu quả của
hóa lỏng
1983-2000
Học viên: Phạm Khắc Dương Lớp CH18C21
2. Mục đích nghiên cứu
- Nghiên cứu hiện tượng hóa lỏng trong đê, đập vật liệu địa phương đắp
trên nền cát trong vùng chịu ảnh hưởng của tải trọng động đất.
- Đánh giá ổn định của đê, đập vật liệu địa phương do hiện tượng hóa lỏng
gây ra.
3. Nội dung nghiên cứu
Đề tài tập trung vào nghiên cứu những vấn đề dưới đây:
- Tổng quan về hóa lỏng do tác dụng của tải trọng động đất.
- Tổng quan về tình hình xây dựng đê, đập vật liệu địa phương tại một số
khu vực thường xuyên chịu ảnh hưởng của động đất trong nước.
- Nghiên cứu mô phỏng h iện tượng hóa lỏng trong đê , đập vật liệu địa
phương do ảnh hưởng của tải trọng động đất.
- Nghiên cứu ảnh hưởng tham số đối với bài toán hóa lỏng trong đê đập vật
liệu địa phương.
- Đề xuất các giải pháp ngăn chặn và giảm thiểu thiệt hại do hóa lỏng.
4. Phương pháp nghiên cứu
- Thống kê và tổng hợp tài liệu nghiên cứu đã có ở trong và ngoài nước có
liên quan đến đề tài.
- Nghiên cứu lý thuyết hóa lỏng.
- Mô phỏng bài toán ứng suất – biến dạng, áp lực lỗ rỗng, ổn định đê, đập
vật liệu địa phương chịu tác dụng của tải trọng động đất theo phương pháp phần
tử hữu hạn, sử dụng bộ phần mềm Geostudio 2004 của hãng Geoslope, Canada,
bao gồm các mô đun Quake/W, Seep/W, Slope/W, Sigma/W.
- Phân tích, đánh giá kết quả mô phỏng.
11
Học viên: Phạm Khắc Dương Lớp CH18C21
Hình 1-1.Vị trí phát sinh động đất
1.1.2.Nguyên nhân của động đất
Động đất có nguồn gốc từ hoạt động kiến tạo.
Từ những năm 60 của thế kỷ XX, các nhà địa chất và địa chấn học đã đưa ra
thuyết kiến tạo mảng hay còn gọi là thuyết trôi dạt các lục địa để giải thích cho
nguồn gốc của các trận động đất xuất hiện trên thế giới. Theo thuyết này, lúc đầu
các lục địa gắn liền với nhau được gọi là Panagea, sau đó cách đây khoảng
chừng 200 triệu năm chúng tách ra thành nhiều mảng cứng di chuyển chậm
tương đối so với nhau trên một lớp dung nham ở dạng thể lỏng, nhiệt độ cao để
có hình dạng như ngày nay.
Các thành tựu khoa học kỹ thuật, đặc biệt là mạng lưới địa chấn kế và quan
trắc địa chất trên thế giới đã chứng minh tính đúng đắn của thuyết kiến tạo
mảng. Do đó trong vòng 10 năm tiếp theo, lý thuyết này đã được giới khoa học
chấp nhận một cách rộng rãi và được xem là một trong những thành tựu khoa
học lớn nhất của nhân loại trong thế kỷ XX.
Động đất có nguồn gốc từ hoạt động của các đứt gãy.
Khi quan sát địa hình ta thường gặp những sự thay đổi đột ngột trong cấu
trúc nền đá. Ở một số chỗ, các vỉa đá có đặc tính khác nhau gối đầu vào nhau
hoặc tựa lên nhau dọc theo mặt tiếp xúc giữa chúng. Sự cắt ngang cấu trúc địa
chất như vậy được gọi là đứt gẫy hoặc phay địa chất.
Các vết đứt gẫy được chia làm hai loại: hoạt động và không hoạt động. Đứt
gẫy hoạt động là những đứt gẫy đã trải qua biến dạng cách đây hàng trăm ngàn
13
Học viên: Phạm Khắc Dương Lớp CH18C21
năm và sẽ còn tiếp tục trong tương lai. Đứt gẫy địa chấn nổi tiếng nhất trên thế
giới thuộc loại này là đứt gẫy San Andreas ở California (Hoa Kỳ). Đứt gẫy này
có chiều dài 300 km và trượt ngang 6.4m, từng gây ra trận động đất ở San
Francisco năm 1906 và nhiều trận động đất tiếp theo sau đó.
Ông Fan Xiao, Kỹ sư trưởng Cục địa chất và khoáng sản Tứ Xuyên, cho
rằng áp lực nước khổng lồ trong hồ chứa nhân tạo của đập Zipingpu đã đè lên
các rãnh nứt địa chất, có thể là một yêu tố gây ra trận động đất khủng khiếp hồi
tháng 5/2008 ở Tứ Xuyên, Trung Quốc.
Thực tế đập thuỷ điện Zipingpu cao 156m, nằm cách tâm chấn chỉ 5.5km và
cách các đường rãnh nứt địa chất chỉ có 550m. Sức nặng của lượng nước trong
hồ của đập nước này tương đương với 325 triệu tấn.
Động đất do sự va chạm của thiên thạch.
1.1.3.Cơ chế phá hoại của động đất
Từ những thiệt hại do động đất gây ra có thể rút ra hai dạng phá hủy chính
của công trình do động đất:
Do ảnh hưởng của sóng địa chấn, nền đất phải chịu các lực ko, xoắn, nn.
Kết quả, nền đất có thể bị lún, sụt và hóa lỏng. Các công trình đặt trên nền đất
cũng bị phá hoại theo.
Do ảnh hưởng của sóng địa chấn, nếu nền chưa bị mất ổn định thì công
trình đặt trên nền sẽ xuất hiện các phản ứng (chuyển vị, vận tốc, gia tốc) . Khi đó
nội lực, chuyển vị của công trình sẽ vượt quá các trị số nội lực, chuyển vị tĩnh
trước lúc xảy ra động đất, nếu công trình không được tính toán đầy đủ về kháng
chấn thì đây là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến sự phá hoại các công trình nằm
trong vùng động đất.
Động đất có thể làm hư hại công trình do sự hình thành các ứng sử động
đất: Lực quán tính, lửa, sự thay đổi các tính chất cơ lý của khối đất, đá. Hiện
tượng hóa lỏng, sự chuyển vị do đứt gẫy, trượt đất hay các chuyển động bề mặt
khác, sự hình thành sóng nước lớn tại biển, hồ chứa lớn, sự biến đổi kiến tạo quy
mô lớn,
1.1.4.Các đặc trưng cơ bản của động đất
Chấn tiêu và chấn tâm.
Nơi phát sinh dịch chuyển của Động đất được gọi là chấn tiêu (hoặc lò
Động đất). Hình chiếu của chấn tiêu lên mặt đất gọi là chấn tâm của động đất.
15
động đất đi qua, xác định theo cấp động đất đại diện là các thang: MMI ( 12
cấp), MSK ( 12 cấp), JMA ( 8 cấp)
Theo thang quốc tế MSK con người không thể nhận biết chấn động cấp 1-2,
cấp 3-4 sẽ gây rung động nhẹ và cấp 6-7 làm chao đảo mặt đất, chấn động cấp 7
trở lên sẽ gây thiệt hại lớn. Xem bảng 1-1.
Bảng 1-1.Chuyển đổi tương đương giữa các thang động đất
(Cao Thị Thu Thủy –Luận văn thạc sỹ: Nghiên cứu ảnh hưởng của động đất tới
đập bê tông trọng lực)
Cấp động đất
MSK
Magnitude JMA Merkaly
Năng lượng
E (Jun)
Cấp năng
lượng KD
I
1.6
1
1
107.2
7.2
II
3.8
1
2
1010.5
10.5
III
4.2
1.67
8
1013.65
13.65
IX
6.3
5.67
9
1014.25
14.25
X
6.6
6.33
10
1014.7
14.7
XI
6.9
7
11
1015.15
15.15
XII
7.3
7
12
1015.75
15.75
Gia tốc cực đại
Gia tốc cực đại của một trận động đất là gia tốc lớn nhất của chuyển động
nền đất trong trận động đất đó. Gia tốc cực đại là đại lượng rất quan trọng, được
VI
0,06-0,07
VII
>0,06-0,12
VII
0,10-0,15
VIII
>0,12-0,24
VIII
0,25-0,30
IX
>0,24-0,48
IX
0,50-0,55
X
>0,48
X
>0,60
Sóng khối có làn sóng chính truyền nhanh hơn cả, gây nên sự nn nở đan
xen nhau trong khối đá (Sóng dọc, sóng nn, tương tự sóng âm). Hạt sóng truyền
theo phương song song với phương truyền sóng. Sóng phụ truyền chậm hơn
sóng chính, cắt khối đá theo mặt bên, vuông góc với phương truyền sóng. Tại
gần mặt đất, sóng thứ cấp tạo nên cả chuyển động đứng và chuyển động ngang.
Đất đá có độ cứng chống nn lớn nên sóng chính chuyển động nhanh hơn.
Sóng mặt được tạo nên bởi tương tác giữa các sóng khối với bề mặt hoặc
các lớp mặt trên bề mặt của trái đất. Sóng mặt chỉ chuyển động dọc theo mặt đất
với tốc độ chậm hơn sóng khối và biên độ giảm theo hàm mũ theo chiều sâu.
Sóng này tương tự các gợn sóng trên mặt hồ nên chuyển động của sóng phần lớn
ngoài mặt đất.
Miền nền cổ hoạt động Hoa Nam
Miền nền cổ hoạt động Hoa Nam bao gồm toàn bộ phần đông bắc Việt Nam
với ranh giới tây nam là đứt gãy sông Hồng, có móng kết tinh tiền Cambri. Có
thể phân chia miền này ra làm 2 miền phụ lớn là vùng rìa Hoa Nam và đới kiến
trúc Katazia (Hoa Á) với ranh giới quy ước là đới đứt gãy sông Thương-Lạng
19
Học viên: Phạm Khắc Dương Lớp CH18C21
Sơn-Nam Ninh. Miền nền cổ Hoa Nam thuộc miền vỏ lục địa hình thành vào
đầu Rifei, còn đới kiến trúc Katazia thuộc miền vỏ lục địa hình thành vào đầu
Devon. Tuy nhiên về cấu trúc và lịch sử của chúng trong Fanerozoi không có gì
khác biệt lớn. Về tổng thể có thể coi toàn bộ phần Đông Bắc Việt Nam là miền
cấu trúc Caleđonit với các phức hệ vật chất chủ yếu là: Phức hệ móng trước
Caledoni (PR); phức hệ Caledoni (PR3 - S); phức hệ Epicaledoni (D-P1); phức
hệ hoạt hoá (T2 -T3k) và phức hệ các thành tạo lục địa (T3n - r - Q).
Miền nền cổ Hoa Nam bị phân chia thành các đơn vị kiến tạo sau:
Trong phụ miền rìa nền Hoa Nam có đới uốn nếp Lô - Gâm (gồm phức nếp
lồi sông Lô và phức nếp lõm sông Gâm), đới uốn nếp Bắc Thái - Hạ Lang, gồm
đới phức nếp lồi Bắc Thái và đới phức nếp lõm Hạ Lang, ngăn cách bởi đứt gãy
Cao Bằng - Tiên yên.
Trong phụ miền Katazia có đới phức nếp lõm An Châu, đới phức nếp lồi
Quảng Ninh (hay còn gọi đới Duyên Hải)
Các đơn vị cấu trúc kể trên đều thuộc về kiến trúc Caleđonit, nghĩa là có
tuổi uốn nếp vào cuối Paleozoi sớm. Ngoài ra trong miền đông bắc Việt Nam
còn tồn tại các kiến trúc chồng gối là trũng sông Hiến và trũng An Châu, phát
triển trong Mezozoi và các trũng sụt lún dạng địa hào Kainozoi như trũng sông
Hồng và các trũng nhỏ giữa núi được hình thành theo cơ chế ko toạc (pull-
apart) dọc theo các đới đứt gãy lớn như các trũng: Cao Bằng, Thất Khê, Lộc
Bình, Tuyên Quang
Địa khối Indosini
nhau và được hình thành, phát triển trong không gian giữa hai lục địa châu Á và
Inđosini, vào thời điểm chúng xích lại gần nhau làm khp kín đại dương cổ
Tethys.
Hệ uốn nếp Thái Lan – Mã Lai
Hệ uốn nếp Thái Lan-Mã Lai thuộc miền vỏ lục địa hình thành vào Trias
muộn-Jura. Trên lãnh thổ Việt Nam chỉ có một phần của miền uốn nếp này, đó
là đới Mường Tè và đới Tây Nam Bộ.
Trũng Kainozoi sông Hồng
Trên bình đồ cấu trúc-kiến tạo miền bắc Việt Nam, trũng sông Hồng có một
vị trí quan trọng trong các hoạt động kiến tạo Kainozoi. Trũng được hình thành
và phát triển trên miền dập vỡ và tách giãn một bộ phận của rìa nền Hoa Nam,
do hậu quả của hoạt động rift sông Hồng.
Cấu trúc trũng sông Hồng tương đối đa dạng và chia làm hai tầng rõ rệt:
Tầng cấu trúc Oligoxen-Mioxen (P-N1) có bề dày lớn và biến vị mạnh mẽ.
21
Học viên: Phạm Khắc Dương Lớp CH18C21
Tầng cấu trúc này chỉ có mặt trong địa hào Hà Nội, địa hào Ninh Bình, địa hào
sông Hồng (từ Bảo Hà đến Trung Hà).
Tầng cấu trúc Plioxen-Đệ tứ (N2 - Q) có diện phân bố rộng hơn nhiều và
tạo thành lớp phủ bất chỉnh hợp trên các thành tạo Oligoxen-Mioxen, chiếm toàn
bộ diện tích đồng bằng châu thổ Bắc Bộ.
Về không gian trũng sông Hồng có thể phân chia thành ba dải cấu trúc
phương tây bắc - đông nam. Đó là dải đông bắc, dải trung tâm và dải Tây Nam.
Dải rìa Đông Bắc cách biệt với dải trung tâm bằng đứt gãy sông Lô. Dải có
cấu trúc phức tạp, với móng khối tảng, tạo nên các khối nhô khối sụt nối tiếp
nhau theo phương tây bắc-đông nam. Dưới lớp phủ Neogen-đệ tứ không ổn định
là các đá lục nguyên tuổi Triat-Jura và đá tuổi Paleozoi trung-thượng lộ ra ở
nhiều nơi.
Dải rìa Tây Nam đặc trưng bởi cấu trúc dạng bậc thang về phía đông bắc.
xảy ra động đất cấp VI.
Vùng uốn nếp Tây bắc Việt Nam
Trải rộng từ đứt gãy Sông Hồng đến vùng đứt gãy Lai Châu-Điện Biên ở
phía tây, Sông Cả, Rào Nậy ở phía tây nam. Hoạt động kiến tạo hiện đại ở đây
diễn ra mạnh mẽ và phân dị. Tương ứng, hoạt động động đất trong vùng cũng
biểu hiện mạnh mẽ và phân dị. Những trận động đất mạnh nhất Việt Nam như
động đất cấp VIII Yên Định, Thanh Hoá, 1635, động đất cấp VIII Điện Biên
1935, động đất cấp VIII Tuần Giáo 1983 đều xảy ra trong vùng này.
Vùng uốn nếp Việt Lào
Ko dài từ đứt gãy Rào Nậy đến đứt gãy sông Trà Bồng ở Quảng Nam. So
với vùng uốn nếp Tây Bắc Việt Nam, hoạt động kiến tạo ở đây yếu hơn, hoạt
động động đất cũng biểu hiện km rõ ràng và yếu ớt hơn. Ở đây cũng chỉ mới
quan sát thấy động đất cấp VI.
Địa khối Indosini
Nối tiếp vùng uốn nếp Việt Lào, ko dài tới đứt gãy Sông Hậu. Giống như
vùng rìa nền Hoa Nam, đây là một vùng nền, hoạt động kiến tạo tương đối bình
ổn, trừ đới ven rìa phía đông của vùng, nơi bị biến cải mạnh trong kỷ địa chất
hiện đại. Hoạt động động đất cũng chỉ biểu hiện rõ ràng và tương đối mạnh ở đới
ven rìa này. Ở đây đã xảy ra nhiều động đất cấp VII, như động đất cấp VII Phan
Thiết năm 1877, 1882, động đất núi lửa Hòn Tro, Phú Quý, năm 1923, động đất
23
Học viên: Phạm Khắc Dương Lớp CH18C21
cấp VII Cheo Reo 1928, động đất cấp VII Sông Cầu, Bình Định, 1970,1972 và
nhiều động đất ở vùng biển Bình Thuận. Động đất kèm theo hoạt động núi lửa ở
vùng biển, đông nam của vùng, là một đặc điểm của vùng này.
Vùng hoạt động núi lửa
Một trong những biểu hiện độc đáo của vận động kiến tạo mới ở Việt Nam
là các phun trào của núi lửa diễn ra ở phía Nam của lãnh thổ, thuộc vành đai núi
lửa đông nam Đông Dương. Có thể phân ra hai giai đoạn chính. Giai đoạn
M
R
max
M
R
min
b
h
υ
1 Cao Bằng-Tiên Yên 5.5 4.5 0.89 12 0.06
2 Đông triều 5.9 4.5 0.89 25 0.06
3 Đông bắc trũng Hà Nội 5.5 4.5 0.89 12 0.04
4
Cẩm Phả
5.5
4.5
0.89
12
0.02
5
Sông Lô
5.5
4.5
0.89
12
0.06
6 Sông Hồng-sông Chảy 6.1 4.5 0.93 17 0.34
Sông Hiếu
5.5
4.5
0.78
12
0.01
16
Hệ sông Cả-Khe Bố
6.1
4.5
0.95
17
0.11
17
Rào Nậy
6.1
4.5
0.95
17
0.04
18 Huế 5.5 4.5 0.95 12 0.01
19 Đà Nẵng 5.5 4.5 0.95 12 0.01
20
Tam Kỳ-Phước Sơn
5.5
4.5
0.95
12
0.01
21
28 Sông Hậu 5.5 4.5 0.97 12 0.02
29 Kinh tuyến 109.5 6.1 4.5 0.97 12 0.04
30
Thuận Hải-Minh Hải
5.5
4.5
0.97
12
0.04
31
Phú Quý 1
5.5
4.5
0.97
12
0.04
32
Phú Quý 2
5.5
4.5
0.97
12
0.02
25
Học viên: Phạm Khắc Dương Lớp CH18C21
1.2.3.Một số kết quả nghiên cứu đã đạt được
Ở Việt Nam, tính đến năm 1986 có tất cả 8 trạm quan trắc địa chấn. Các
trạm quan trắc địa chấn này được xây dựng và hoạt động ở những thời điểm
khác nhau: Phù Liễn (1924), Nha Trang (1957), Sapa (1961), Bắc Giang