khai thác và sử dụng nguồn nước tổng hợp có hiệu quả cho phát triển kinh tế - xã hội vùng núi tỉnh viêng chăn - Pdf 22

1

MỞ ĐẦU

1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Viêng Chăn là một tình thuộc miền Trung nước Cộng hòa dân chủ nhân
dân Lào, với tổng diện tích tự nhiên 15,927 km
P
2
P , trong đó 11,82 kmP
2
P là vùng
núi chiếm khoảng 68 %. Vùng núi Viêng Chăn bao gồm nhiều dân tộc sinh
sống, trình độ dân trí còn rất thấp, cơ sở hạ tầng rất nghèo nàn. Đặc biệt là
tình trạng thiếu nước cho sản xuất nông nghiệp và sinh hoạt rất phổ biến, hiện
đang là một thách thức lớn đối với ngành nông nghiệp của tỉnh nói chung và
các công tác thủy lợi nói riêng.
Đảng và nhà nước đã rất chú trọng tới việc đầu tư, thực hiện các chính
sách phát triển kinh tế - xã hội miền núi, trong đó chủ yếu là các vùng sâu
vùng xa đặc biệt khó khăn. Các dự án có nguồn vốn trong nước và vốn nước
ngoài xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn và đã đang được triển khai ngày một
nhiều. Ở những vùng địa hình cao các hệ thống công trình thủy lợi đã được
xây dựng nhằm khai thác nguồn nước mặt, các song suối để cung cấp nước
cho sinh hoạt, nông nghiệp thủy điện để phát triển cho kinh tế - xã hội cho địa
phương, thường nhằm khai thác mà còn mang tính tự phát giải quyết tổng thể
chưa có quy hoạch một cách khoa học, đặc biệt là các vùng khan hiếm nguồn
nước. Vì vậy nhu cầu về nguồn nước để đáp ứng được các mục tiêu nói trên
ngày càng cao.Việc nghiên cứu tìm ra giải pháp khoa học nhằm ‘‘Sử dụng


3

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN

1.1- ĐẶC ĐIỂM VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN CỦA VÙNG NÚI
TỈNH VIÊNG CHĂN
1.1.1- Vị trí địa lý
Viêng Chân là một tỉnh nằm trong miền Trung của Lào, nằm trong giới
hạn: Từ 17
P
o
P48’ vĩ độ Bắc và Từ 102P
o
P06’ kinh độ Đông.
- Phía Bắc giáp tỉnh : Luông Pra bang
- Phía Nam giáp Thủ đô Viêng Chăn
- Phía Đông giáp với Xiêng khoảng
- Phía Tây giáp tỉnh Xayabouly và Tháilan
Tỉnh lỵ của Viêng Chăn là Muang Phonhong cách thủ đô Viêng Chăn
khoảng 80 km, có 13 huyện tất cả, trong đó có 9 huyện thuộc ở vùng miền núi
nằm tập trung ở phía Tây Bắc và Đông Nam.
1.1.2- Đắc điểm địa hình
Địa hình của tỉnh miền núi nhìn chung là địa hình đa dạng và phức tạp
bao gồm: miền núi, trung du và đồng bằng. Hường dốc chính của địa hình theo
hướng Tây Bắc - Đông Nam.
Tỉnh Viêng chăn có 4/5 diện tích tự nhiên là vùng núi, địa hình bị chia

200 m đến 300 m. Các vùng này là có tiềm năng để phát triển cây công nghiệp,
cây đặc sản. Tuy nhiên về diện tích hiện đang canh tác thì còn hạn chế ít.
Những nguyên nhân dẫn tưới tình trạng này là: nguồn nước rất khan hiếm,
chưa đáp ứng được thực tế sản xuất hiện tại cũng như mở rộng diện tích đất
canh tác, mặt khác việc đầu tư các công trình thuỷ lợi phục vụ sản xuất nông
nghiệp và cấp nước sinh hoạt hiện vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Tuy có
nhiều khó khăn về mặt khai thác nguồn nước, nhưng trên dạng địa hình này
cungc có thuận lợi đó là: có nhiều sông suối nhỏ, có khả năng xây dựng các hồ
chứa tưới và cấp nước tại chỗ.
5

1.1.3- Đặc điểm địa chất thổ nhưỡng
a. Địa chất kiến tạo
Khu vưc vùng núi Viêng Chăn được cấu tạo bởi các trầm tích Paleozoi
nằm dưới, phủ lên trên là các trầm tích vụn thô lục địa Kainozoi. Dựa vào đặc
điểm thành phần thạch học, quan hệ địa tầng có thể chia ra các phần vi địa tầng
như sau :
+ Hệ tầng Phu pha Nang : phân bố thành những dải núi dạng Cuesta,
thành phần thạch học gồm cát kết màu xám xét bột kết, chiều dầy hệ tầng
khoảng 350 m.
+ Hệ Champa: Lộ ra ở rìa bồn trũng nằm lót trầm tích chữa muối của
hệtầng Thangon. Thành phần thạch học bao gồm cuội kết, đôi khi là dăm kết,
sạn kết và các kết màu xám, chiều dày khoảng 400 m.
+ Hệ tầng Vientaine: có diện phân bố khá rộng chủ yếu là bờ phải sông
NamNgum và sông Tong, thành phần cuội kết, cát, sét, chiều dầy hệ tầng thay
đổi từ 10 - 70 m.
b. Địa chất thủy văn

- Đất mùn trên núi cao (Acrisols)
- Đất xám nâu (Lixsols)
- Đất mặn (Solonet)
- Đất đen nhiệt đới (Luvisols)
- Đất ao hồ, sông suối
- Đất vùng núi cao có độ dốc >25% .
Các loại đất này dọc theo sông NamLik, Namngum và dọc theo các suối
là đất phù sa được bồi tự và đất cát. Thành phần cơ giới của đất chủ yếu là đất
cát pha thịt và đất thịt trung bình, chiều dày tầng đất canh tác chừng 30 - 60 cm,
phía dưới là đất sét và đất thịt. Nói chung thành phần đất trên khu vực cho phép
đa dạng hóa cây trồng cao, đát thuộc loại dễ cải tạo nếu được tưới tiêu hợp lý sẽ
có năng suất cao, đây là một tiềm năng lớn để phát triển nông nghiệp, chăn
nuôi và nuôi trồng thủy sản. 7

1.1.4- Đặc điểm khí tượng thủy văn
1.1.4.1. Mạng lưới quan trắc trên khu vực
Bảng 1-1. Danh sách trạm thủy văn trong khu vực nghiên cứu
TT Tên trạm Tên sông
Tọa độ
FR
Lưuvực
R (KmP
2
P)

3
Vang vieng
Xong
18
P
o
P
39’08’’
102
P
o
P
26’09’’
864
4
Naluang
Ngum
18
P
o
P
11’50’’
102
P
o
P
46’07’’
5,220
5
Thalat

P
o
P
11’00’’
102
P
o
P
17’00’’
15,230
8
Thangon
Ngum
18
P
o
P
35’01’’
102
P
o
P
37’03’’
16,500
1.1.4.2- Đặc điểm khí hậu, khí tượng.
1- Đặc điểm thời tiết khí hậu
Nước CHDCND Lào nói chung và tỉnh Viêng Chăn nói riêng thuộc
vùng khí hậu nhiệt đới, gió mùa, rất đa dạng, phong phú và ôn hòa. Có 2 mùa
rõ rẹt trong năm: mùa khô và mùa mưa.
2- Mưa

1988
Phôn hông
1971-2005
2259.55
3488.2
1995
1198.5
1974
Tha ngon
1951-2005
1688.81
2425.80
1971
1144.2
1977
Na pheng
1971-1998
2068.87
3360.1
1995
1376.8
1972
3- Gió
Gió được chia làm 2 màu rõ rệt như : mùa mưa là hướng gió Tây Nam và
mùa khô là hướng gió Đông Bắc , nước Lào không có biển nên thường gió
không lớn trung bình các tháng biến đổi từ 1 – 3 m/s. Và tốc độ gió lớn nhất
nằm khoảng 30 m/s, nhưng thời gian kéo dài không lâu, chủ yếu là do gió lốc
có tính cục bộ. Do vị trí địa lý nên Lào không ảnh hưởng trực tiếp mà chỉ bị
ảnh hưởng gián tiếp.
4- Nhiệt độ

IX X XI XII Năm

Phonghong

71-2000

21.4

23.3

26.3

28.3

28.0

27.7

27.3

27.1

27.1

26.4

24.1

21.3


Napheng 71-2000

22.5

24.0

26.6

28.6

28.4

27.7

27.8

27.3

27.6

25.9

23.9

22.4

26.1

Thangon 71-2000


24.8

27.6

29.5

28.6

28.3

27.8

26.7

27.5

26.6

25.4

23.2

26.6

5- Độ ẩm không khí
Độ ẩm không khí trên khu vực là khá lớn, độ ẩm tối đa là 88% thường
vào tháng V đến tháng X hàng năm là trên 80%. Độ ẩm tối thấp vào tháng XI
đến tháng IV năm sau, độ ẩm thường thấp hơn 70%.
Bảng 1-4: Độ ẩm tương đối tháng năm trung bình nhiều năm tại các trạm
vùng Viêng Chăn

77
Vangvieng
73-2000
72
70
68
72
77
81
84
85
81
77
74
73
76
Napheng
71-2000
67
66
64
65
74
76
76
75
74
76
73
69

83
6- Bốc hơi
Tổng lượng bốc hơi năm trên lưu vực là 1881 mm/năm. Bốc hơi bình
quân tháng nhỏ nhất là 1,3 mm/ngày, lớn nhất 6,6 mm/ngày. Lượng bốc hơi
trên lưu vực lớn nhất vào tháng III, IV, V.
10

Bảng 1-5: Lượng bốc hơi tháng, năm tại các trạm vùng Viêng Chăn
Đơn vị: mm
Trạm Thời kỳ I II III IV V VI VII VIII

IX X XI XII Năm

Phonghong
71-2000
61.6
73.2
99.1
88.8
62.6
47.9
43.5
39.4
41.7
50.6
55.9
58.8

135
151
192
184
122
79.9
77.7
67.5
73.8
90.9
112
125
1413
Veunkham
87-2000
135
95.7
167
185
200
149
139
138
134
186
170
178
1880
1.1.4.3- Đặc điểm thủy văn
1- Dòng chảy năm

o
R
(l/s.km
P
2
P
)
W
R
o
R
.10
P
9
P
(m
P
3
P
)
Kasy
Namlik
374
9.62
25.72
0.30
R
*
R
10

Namngum
8.280
610.58
73.74
19.23
R
*
R
10
P
9

Bảng 1-7: Tần suất dòng chảy năm ở một số trạm.
Trạm Sông
F
(kmP
2
P)
Q
R
o
(mP
3
P/s)
Cv Cs
Q
R
p
R
(m

lượng nước năm. Ta thấy rằng lượng dòng chảy năm tập trung vào mùa lũ tới
80%, còn mùa kiệt thì rất ít chỉ khoảng 15% tổng lượng dòng chảy năm.
3- Dòng chảy kiệt
Tại vùng núi Viêng Chăn dòng chảy kiệt nhất bắt đầu từ tháng XI đến
tháng V năm sau, tháng II,III là có dòng chảy kiệt nhất, lưu lượng tập trung
rất nhỏ, chỉ đạt trung bình 0,01 l/s, có nghĩa là hết sức nhỏ. Ta thấy rằng vào
mùa khô trong khu vực cực kỳ khan hiếm nước.
Bảng 1-8: Dòng chảy bình quân 3 tháng kiệt (I,II,III)
Vị trí Sông F(kmP
2
P) QR
tb
Cv Cs
Qp(m
P
3
P
/s)
50
75
85
Kasy
Namlik
374
4.46
0.66
0.74
8.81
4.99
3.20

tổng chiều dài dòng chính của sông là 160 km, thượng nguồn sông gồm có
phụ lưu nhỏ như: sông Tong, song xong.
Lòng sông NamLik từ thượng nguồn đến cửa sông điều mang tính chất
của sông vùng đồi, nguồng nước sông đóng vai trò quan trọng trong khu phát
triển của 4 huyện vùng đồi tỉnh Viêng Chăn.
1.2- HIỆN TRẠNG KINH TẾ - XÃ HỘI VÙNG NÚI TỈNH VIÊNG
CHĂN
1.2.1- Đặc điểm xã hội
a. Tình hình dân số
Trong năm 2010 tổng số của 9 huyện miền núi của Viêng Chăn là :
350.700 người, mật độ bình quân là 23 ng/km
P
2
P, phân bố dân cư rất không đều,
tập chung chủ yếu ở các vùng đồi thấp. Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên chỉ là
2,7%/năm .
Các nguyên nhân của thực trạng này là do: địa bàn vùng núi cao, điều
kiện địa hình phức tạp, sản xuất lương thực khó khăn do khan hiếm nước. Vì
vậy các đồng bảo chuyển xuống vùng thấp hơn, gần nguồn nước và điều kiện
sinh hoạt tốt hơn.
13

b. Về đời sống
Đời sống sinh hoạt của đồng bào miền núi Vieng chan hiện nay vấn
đang còn rất nhiều khó khăn, an ninh lương thực chưa được đảm bảo, sản
lượng lương thực đang ở mức thấp, với bình quân lương thực đầu người chỉ
khoảng 90 kg/ng/năm. Bên cạnh những thiếu thốn, khó khăn về nguồn nước

thiếu thốn, không đảm bảo được sức khỏe cho nhân dân.
Bên cạnh những khó khăn về mặt y tế, nước sạch sinh hoạt cũng đang
là một vấn đề lớn.Về mùa khô các đồng bảo thiếu nước sử dụng như: ăn uống,
tắm giặt. Do vậy dẫn đến các bệnh truyền nhiễm, đường ruột, đâu mắt.
1.2.2- Hiện trạng các ngành kinh tế trong vùng
1- Hiện trạng các ngành kinh tế
a. Về nông nghiệp
Nói chung nền sản xuất nông nghiệp trong khu vực chủ yếu là trông
chờ vào nước mưa, vậy năng suất cây trồng còn đang ở mức thấp. Sản lượng
lương thực có hạt vụ mùa gieo trồng được 62.690 ha, còn vụ chiêm thì thiếu
nước tưới, một số công trình dảm bảo gieo cấy chỉ khoảng 12.604 ha, do thiếu
nước cộng với là trình độ canh tác còn lạc hậu chính là nguyên nhân làm cho
năng suất lương thực chưa được nâng cao. Mặt khác hiện nay diện tích đất
hoang con nhiều và do cơ sở hạ tầng như giao thông, bệnh xá, trường học
chưa có nên dân chưa đến ở lập nghiệp. Muốn dân đến khai thác phải đầu tư
vật chất ban đầu, công trình giao thông, thủy lợi tạo điều kiện tối thiểu để dân
đến sinh sống và sản xuất được.
Qua cơ sở trên ta thấy rằng trước hết phải tập trung giải quyết công
trình tưới để phát triển lương thực.

15

b. Về trồng trọt:
Trong khu vực hiện nay vẫn còn khó khăn, chủ yếu vẫn đang dựa vào
sản xuất nông nghiệp, tự cấp tự túc là chính, gieo cấy chỉ tập trung vào vụ
mùa, còn vụ đông thì gần như không có sản xuất được do thiếu nước. Các
công trình thủy lợi chỉ đáp ứng một phần, vẫn chưa có biện pháp hữu hiệu để

cấp nước tưới.
1.3- TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ KHAI THÁC VÀ SỬ DỤNG
TỔNG HỢP NGUỒN NƯỚC VÙNG NÚI VIÊNG CHĂN
Nói đến sản xuất nông nghiệp trước hết phải đề cập đến vấn đề nguồn
nước. Đây chính là yếu tố quyết định đến năng suất và sản lượng cây trồng.
Để nắm được một cách tổng quan về hiện trạng và khả năng phụ vụ của các
hệ thống cấp nước trong khu vực thì cũng phải giới thiệu sơ bộ về nguồn
nước và phương thức khai thác hiện đang đựoc sử dụng.
Trong khu vực vùng núi Viêng Chăn có nguồn nước rất đa dạng và
phong phú , bao gồm: nước mưa, nước mặt và nước ngầm. Tuy nhiên để phục
vụ sản xuất và sinh hoạt hiện chỉ đang sử dụng được một phần nhỏ, nước mưa
thì sử dụng một cách tự nhiên chưa có biện pháp giữ tận dụng một cách hiệu
quả, nước ngầm thì hầu như chưa được khai thác và sử dụng, chỉ có một vài
nơi khai thác the hình thức giếng để phục vụ nước sinh hoạt.
Về mặt thủy lợi: do điều kiện tự nhiên về địa hình địa mạo về khí tượng
thủy văn hết sức khó khăn, phức tạp vì vậy công tác thuỷ lợi miền núi còn
đang rất hạn chế. Các công trình thuỷ lợi phần lớn là các đập dâng, hồ chữa
hoặc cống lấy nước tự chảy, các trạm thuỷ điện loại nhỏ và trạm thuỷ luân. Hệ
thống thuỷ lợi vùng núi thường nhỏ, nằm phân tán và xa khu dân cư nên công
tác quản lý, bảo dưỡng gặp rất nhiều khó khăn.

17

1.3.1- Về công trình đầu mối
Công trình đầu mối thuỷ lợi miền núi có nhiều dạng nhưng chỉ tập
trung vào các dạng chính:
1- Hồ chứa

cây đục rỗng, vì thế thường bị rò rỉ mất nước, chiều dài cống thường ngắn
hơn so với thân đập, thiết bị tiêu năng không có, qua thời gian khai thác khá
dài , phần lớn xung quanh thân cống và hạ lưu cống đều bị xói lở có thể dẫn
đến vỡ đập.
Bên cạnh đó thiết bị đóng mở cống cũng rất thô sơ, chủ yếu bằng van
phằng, bằng các thân cây gỗ hoặc cục bê tông nên chất lượng kín nước kém
hay rò rỉ, đóng mở nặng nề, vân hành hết sức khó khăn.
b. Khả năng phục vụ
Nhìn chung các hồ chứa miền núi hiện này mới chỉ đang làm nhiệm vụ
cấp nước cho nông nghiệp, chủ yếu phục vụ tưới cho lúa, còn các loại cây
trồng khác hầu như chỉ dựa vào nước trời.
Phát điện nhỏ là một trong những nhiệm vụ quan trọng việc lợi dụng
tổng hợp nguồn nước miền núi, nhưng đến đây vẫn chưa được chú trọng phát
triển. đây là một lãng phí rất lớn đặc biệt trong lúc đồng bảo đang rất cần điện
để phát triển mọi mặt của cuộc sống hiện nay.
Ngoài ra việc cung cấp nước tưới và phát điện các hồ chứa còn có
nhiệm
vụ là cấp nước sinh hoạt. Mặc dù lưu lượng cấp nước sinh hoạt là rất nhỏ,
nhưng các hồ chứa vẫn chưa đảm nhiệm đựoc đặc biệt là trong mùa kho lại
càng hết sức khó khăn.

19

c. Tính lợi dụng tổng hợp
Hiện nay các hồ chứa, ao núi nhỏ ở vùng miền núi nói chung hiệu quả
sử dụng còn rất thấp, tính bền vững kém, dễ bị hư hỏng. hiện mới chỉ phục vụ
cấp nước tưới cho sản xuất nông nghiệp, mà chủ yếu là lúa, nhưng vẫn chưa

nước va, bơm thuỷ luân. Vì thế việc cấp nước cho các vùng đổi cao, cấp nước
sinh hoạt, cấp điện cho các hộ gia định là không thể thực hiện được.
3- Các loại công trình khác
Ở một số địa phương hiện vẫn còn dùng guồng nước, lợi dụng tốc độ
của dòng chảy làm quay guồng đưa nước lên cao đổ vào kênh tưới ruộng. Đây
là các công trình mang tính truyển thống, đơn giản dễ làm nhưng hiệu quả
phục vụ rất thấp, diện tích được tưới rất nhỏ, nhưng loại công trình này kém
bền và tuổi thọ không cao.
1.3.2- Hệ thống kênh mương
1- Đặc tính kỹ thuật
Kệnh ở miền núi phần lớn là kênh đất, độ dốc lớn, mặt cắt kênh nhỏ,
tuyến kênh dài nên tổn thất nước trên hệ thống rất lớn.
Kênh ở miền núi không những làm nhiệm vụ chuyển nước tưới mà còn
đảm nhiệm cả việc chuyển nước mặt từ sườn dốc do mưa, hoặc dòng chảy từ
các lưu vực dọc hai bên tuyến kênh. Trong mùa mưa hiện tượng nước lũ suối
chảy cắt ngang kenh thường xuyên xảy ra. Mặt khác do kênh đi ven dưới
sườn dốc nên rất dễ xay ra hiện tượng lở, sạt đất bồi lấp kênh, dòng chảy bị
chặn lại, nước dâng tràn bờ gây vỡ kênh. Hiện nay các hệ thống phần lớn
chưa có công trình đảm bảo an toàn như tràn bên, công trình chống bồi lấp và
xói mòn trên kênh.

21

2- Khả năng phục vụ
Do kênh ở miền núi thường bị tồn thất, sạt lở, ách tắc, xa dân cư, không
được tu bổ thường xuyên nên khả năng phục vụ rất thấp.
Trong hệ thống có nhiều vùng cao cục bộ chưa được giải quyết tưới,

nước và sử dụng trong mùa kiệt lại là một vấn đề khác. Để tìm hiểu một cách
thấu đáo về nguồn nước của vùng núi Viêng Chăn chúng tôi đi sâu vào một số
đặc điểm như sau.
2.1.1- Đặc điểm địa hình
Vùng núi Viêng Chăn có địa hình khá phức tạp, bị chia cắt mạnh mẽ,
có nhiều đồi núi, độ dốc lớn, bên cạnh những khó khăn đó lại cũng xuất hiện
những mặt thuận lợi, có thể tận dụng để cung cấp nguồn nước cho khu vực đó
là:
1- Có khả năng xây dụng hồ chứa
Đặc trưng địa hình vùng núi là có nhiều gò đồi, thung lũng, nhiều lưu
vực có khả năng hứng nước. Đây chính là những điều kiện rất lý tượng, cần
triệt để lợi dụng để xây dụng các hồ chứa lợi nhằm tích nước cho mùa lũ để
sử dụng cho mùa kiệt và chúng còn có khả năng lợi dụng tổng hợp, nhằm phát
triển đa mục tiêu như: phục vụ tưới, cấp nước sinh hoạt, phát điện nuôi trồng
thủy sản, kết hợp với các loại trạm bơm sử dụng năng lượng nước để tưới cho
cây trồng cạn.
2- Tận dụng nước từ các lưu vực khác
Song song với việc xây dựng các hồ chứa ở các lưu vực hứng nước
chính, cần tận dụng các khe suối nhỏ nhằm ngoài lưu vực có điều kiện địa
23

hình cho phép để tạo ra các ao hồ nhỏ trên núi, các đập dâng. Các công trình
này có nhiệm vụ cung cấp nước cho các khu vực hẹp, tăng thêm khả năng
điều tiết của lưu vực, tích nước mùa lũ và bổ sung nước cho công trình chính
trong mùa kiệt. Bên cạnh đó chúng còn góp phần giữ ẩm cho đất để phát triển
vườn rừng, phát triển chăn nuôi thủy sản, gia cầm. Mặt khác, các công trình
này còn có khả năng làm giảm nguồn nước, tăng nguồn sinh thủy, giảm mức

nghiệp, sức khỏe người dân cũng không được đảm bảo, thiếu nước cho sinh
hoạt dẫn tới các bệnh chuyền nhiễm, đường ruột có môi trường phát triển
mạnh.
- Ở vùng núi đồng bào các dân tộc thiểu số thường sống tại các bản xa
trung tâm, dân cư thưa thớt, đường điện quốc gia chưa có. Chính vì vậy người
dân không được theo dõi các phương tiện như nghe, nhìn, không nắm được
các chính sách của nhà nước, không học được các phương thức làm ăn tiến
bộ, dẫn tới đời sống ngày càng đói nghèo, dân trí ngày càng thấp.
- Để đảm bảo đời sống, đáp ứng nhu cầu sinh hoạt người dân lại tiếp
tục đốt phá rừng làm rẫy, đốn cây rừng để bán, làm cho đất đai ngày càng suy
kiệt độ màu mỡ, nguồn nước ngày càng bị suy thoái và khan hiếm.
2.1.3- Các loại nguồn nước ở vùng núi
Như đã nêu trên vùng núi Viengchan rất khan hiếm nước, đặc biệt là
mùa kho. Tuy nhiên cũng xuất hiện nhiều loại nguồn nước khác nhau có khả
năng sử dụng được, trong đó chủ yếu là nước mưa và nước mặt.
1- Nguồn nước mưa
Mưa trong khu vực khá dồi dào, lương mưa bình quân nhiều năm biến
đổi từ 1200 mm đến 1860 mm. do tác động của địa hình và khí hậu nhiệt đới
gió mùa đã ảnh hưởng sâu sắc đến khối lượng và biến động của nguồn nước
mưa.
25

2- Nguồn nướ mặt
Nước mặt trong vùng khá phong phú với nhiều nguồn nước khác nhau
như: nước mạch, nước từ các sông suối lớn, nước từ các lưu vực hứng nước,
ao núi , thung lũng. Tuy nhiên do ảnh hưởng của mưa, các nguồn nước này
cũng bị biến đổi theo không gian và thời gian, mùa mưa rất dồi dào, mùa kho


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status