Quá trình chuyển biến của cách mạng trung quốc từ hình thức dân chủ tư sản kiểu cũ sang dân chủ tư sản kiểu mới - Pdf 22


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC BÙI THỊ PHƯỢNG QUÁ TRÌNH CHUYỂN BIẾN CỦA CÁCH MẠNG
TRUNG QUỐC TỪ HÌNH THỨC DÂN CHỦ TƯ SẢN
KIỂU CŨ SANG DÂN CHỦ TƯ SẢN KIỂU MỚI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC SƠN LA, NĂM 2013

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC

đỡ trong suốt thời gian thực hiện khóa luận này.
Khóa luận không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được ý
kiến đóng góp của các thầy cô và các bạn để khóa luận được hoàn chỉnh hơn
nữa.
Em xin chân thành cảm ơn!.
Sơn La, tháng 5 năm 2013

Người thực hiện
Bùi Thị Phượng

MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3. Đối tượng nghiên cứu vấn đề 4
3.1. Đối tượng nghiên cứu 4
3.2. Phạm vi nghiên cứu và đóng góp của đề tài 4
4. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu 4
4.1. Phương pháp nghiên cứu 4
4.2. Nguồn tài liệu 5
5. Kết cấu đề tài 5
CHƯƠNG 1: PHONG TRÀO GIẢI PHÓNG DÂN TỘC CỦA NHÂN DÂN
TRUNG QUỐC DƯỚI HÌNH THỨC CÁCH MẠNG DÂN CHỦ TƯ SẢN
KIỂU CŨ 6
1.1. Khái quát hoàn cảnh lịch sử Trung Quốc giữa thế kỷ XIX – đầu thế kỷ
XX 6
1.1.1. Sự suy yếu của chế độ phong kiến Trung Quốc 6
1.1.2. Quá trình xâm lược của chủ nghĩa thực dân phương Tây vào Trung
Quốc 8
1.1.3. Phong trào đấu tranh của nhân dân Trung Quốc chống phong kiến,

một phong trào đấu tranh với quy mô to lớn chưa từng thấy đã diễn ra ở các
nước phương Đông thuộc địa. Cùng với cao trào cách mạng vô sản ở châu Âu
tấn công vào dinh lũy của chủ nghĩa đế quốc, phong trào cách mạng giải phóng
dân tộc dồn dập tiến công vào hậu phương của chủ nghĩa tư bản. Tiêu biểu cho
châu Á là phong trào yêu nước và dân chủ ở Trung Quốc đặc biệt với sự chuyển
biến của phong trào đấu tranh từ hình thức dân chủ tư sản kiểu cũ sang dân chủ
tư sản kiểu mới. Sự chuyển biến ấy được thể hiện thông qua phong trào Ngũ Tứ
(4 – 5 – 1919) và sự ra đời của Đảng Cộng sản Trung Quốc năm 1921.
Trước phong trào Ngũ Tứ là thời kì cách mạng dân chủ tư sản kiểu cũ,
nhân dân Trung Quốc đã tiến hành nhiều cuộc đấu tranh với quy mô hết sức to
lớn. Đó là phong trào đấu tranh của nông dân Thái Bình thiên quốc kéo dài 14
năm (1851 – 1864), phát triển thế lực trong 17 tỉnh; là phong trào Nghĩa hòa
đoàn (1899 – 1902) tập trung mũi nhọn tấn công chủ nghĩa đế quốc. Đó là cuộc
cách mạng Tân Hợi năm 1911, tiến hành dưới sự lãnh đạo của giai cấp tư sản
dân tộc lật đổ nền thống trị của triều đình phong kiến Mãn Thanh, lập ra Trung
Hoa Dân quốc và chính phủ lâm thời cách mạng Nam Kinh. Song những cuộc
đấu tranh đó, dù là phong trào nông dân hay phong trào do sự lãnh đạo của giai
cấp tư sản – một giai cấp sinh sau đẻ muộn và yếu ớt cũng đều bị thất bại.
Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến sự thất bại đó chính là do thiếu sự lãnh đạo
đúng đắn của một giai cấp mới, một Đảng Cộng Sản có khả năng đề ra cương
lĩnh đấu tranh đúng đắn, có khả năng đoàn kết mọi lực lượng trong và ngoài
nước để tiến hành cuộc đấu tranh tiên quyết chống đế quốc và phong kiến.
Giữa lúc cách mạng Trung Quốc rơi vào thoái trào, khủng hoảng về đường
lối và giai cấp lãnh đạo, cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga đã giành
được thắng lợi và nhanh chóng ảnh hưởng tới cách mạng Trung Quốc. Từ ngọn
lửa của cách mạng tháng Mười, nhiều trí thức yêu nước có tư tưởng dân chủ ở
Trung Quốc đã tiếp thu được ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lê nin và hi vọng
dùng ánh sáng đó soi rọi con đường giải phóng nhân dân Trung Quốc, soi rọi
con đường phục hưng đất nước Trung Hoa. Họ dốc hết bầu nhiệt huyết ngợi ca
cách mạng tháng Mười, ngợi ca chủ nghĩa Bôn-sê-vích, từ đó từng bước truyền

Tây vào Trung Quốc và các phong trào đấu tranh dân chủ, dân tộc ở Trung Quốc
nửa sau thế kỉ XIX (1840 – 1900) cũng như cuộc cách mạng Tân Hợi năm 1911,
song cũng chưa thật đầy đủ và sâu sắc. Hướng chính của cuốn sách là tập trung
trình bày một cách hệ thống những vấn đề mang tính chất tiêu biểu của lịch sử
Trung Quốc từ thời cổ đại cho đến thời kỳ Trung Quốc trên con đường cải cách,
mở cửa, hiện đại hóa đất nước (từ 1978 đến nay).
Mặc dù quá trình phân chia phạm vi thế lực của các nước đế quốc trên lãnh
thổ Trung Quốc trong giai đoạn giữa thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX cũng được đề
cập trong cuốn giáo trình: “Lịch sử phong trào giải phóng dân tộc thế kỉ XX –
Một cách tiếp cận” do PGS.TS Đỗ Thanh Bình (chủ biên), Nxb ĐHSP (2010).

3
Nhưng do hướng chính của cuốn sách là nghiên cứu tổng quát về lịch sử phong
trào đấu tranh giải phóng dân tộc trên phạm vi toàn thế giới nên vấn đề quá trình
phân chia phạm vi thế lực của các nước đế quốc trên lãnh thổ Trung Quốc chỉ
được đề cập ở mức độ sơ lược.
Trong tác phẩm: “Lịch sử và văn hóa Trung Quốc” của W.Scott Morton
– C.M. Lewis, Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh (2008). Mặc dù có đề
cập đến sự suy yếu của chế độ phong kiến Trung Quốc, nhưng cũng chỉ ở
mức độ sơ lược.
Trong cuốn giáo trình: “Lịch sử thế giới hiện đại (Giai đoạn 1917 - 1945)”
của tác giả Phạm Việt Trung, Nguyễn Huy Quý, Hoàng Bá Sách mặc dù có đề
cập đến phong trào yêu nước và dân chủ ở Trung Quốc mà tiêu biểu là phong
trào Ngũ tứ (4 – 5 – 1919) cũng như sự gia đời của Đảng Cộng sản Trung Quốc
năm 1921 song cũng chỉ dừng lại ở mức độ khái quát hóa do hướng chính của
cuốn sách là trình bày về những vấn đề trọng tâm tiêu biểu của lịch sử thế giới
trong giai đoạn từ cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa tháng Mười Nga năm 1917
đến khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc năm 1945.
Trong cuốn: “Lịch sử cận đại Trung Quốc – Quyển I: Từ nha phiến chiến
tranh đến thống trị của Bắc Dương quân phiệt (1840 – 1918)” do tác giả Đinh

cũ sang dân chủ tư sản kiểu mới từ giữa thế kỉ XIX đến khi Đảng Cộng sản
Trung Quốc được thành lập tháng 7 – 1921.
Đóng góp của đề tài: Đề tài có ý nghĩa về mặt khoa học và thực tiễn như
sau:
Về mặt khoa học:
Làm rõ thêm những điều kiện chủ quan và khách quan đưa đến sự chuyển
biến của cách mạng Trung Quốc từ hình thức dân chủ tư sản kiểu cũ sang dân
chủ tư sản kiểu mới.
Làm rõ thêm quá trình dẫn tới sự ra đời của Đảng Cộng sản Trung Quốc
năm 1921.
Về mặt thực tiễn:
Bổ sung thêm nguồn tài liệu nghiên cứu về sự chuyển biến của cách mạng
Trung Quốc trong những năm đầu thế kỉ XX.
Làm tài liệu tham khảo trong giảng dạy cho giảng viên, sinh viên khi
nghiên cứu, học tập về cách mạng Trung Quốc.
4. Phương pháp nghiên cứu và nguồn tài liệu
4.1. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài kết hợp hai phương pháp: phương pháp lịch sử và phương pháp lôgic
dựa trên cơ sở của chủ nghĩa Mác – Lê nin và Tư tưởng Hồ Chí Minh.
Đề tài còn sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu như: sưu tầm, hệ thống
hóa tư liệu, so sánh, đối chiếu… 5
4.2. Nguồn tài liệu
Sách, báo, tạp chí, sách dịch.
Ngoài ra còn tham khảo tài liệu trong: http:// Wikipedia.com.vn.
5. Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo thì đề tài được kết cấu
thành 2 chương:

huyền bí và lôi cuốn. Bức màn bí mật này bắt đầu được vén lên sau khi Trung
Quốc buộc phải mở cửa vào thế kỉ XIX và sự xuất hiện của chế độ cộng sản.
Ngày nay bức màn bí mật này ngày càng mỏng hơn và Trung Quốc trở thành
tâm điểm chú ý không chỉ ở các nước phương Tây mà hầu như khắp thế giới.
1.1. Khái quát hoàn cảnh lịch sử Trung Quốc giữa thế kỷ XIX – đầu
thế kỷ XX
1.1.1. Sự suy yếu của chế độ phong kiến Trung Quốc
Sự suy yếu của chế độ phong kiến Trung Quốc được biểu hiện thông qua
những chính sách cai trị hà khắc, bảo thủ của triều đình phong kiến Mãn Thanh.
Cụ thể là:
Người Mãn Châu vốn là dân tộc thiểu số sống ở suốt một giải núi Tràng
Bạch, năm 1644 xâm nhập vào miền đất trong (hay Sơn hải quan), dựng nên
triều Thanh, thống trị cả Trung Quốc. Bởi vậy, người Hán tộc là người chiếm

7
đại đa số nhân khẩu Trung Quốc, cũng như các dân tộc khác thì người Hán đều
bị hai tầng áp bức: giai cấp và dân tộc. Chính phủ Mãn Thanh nuôi 20 vạn quân
Bát Kỳ người Mán, Mông, Hán; hơn 60 vạn quân lục doanh để trấn áp sự phản
kháng của người Hán và các dân tộc khác. Trong khoảng hơn 150 năm, từ năm
1640 đến năm 1790, triều đình Mãn Thanh liên tiếp dùng binh lực để trấn áp các
cuộc khởi nghĩa. Trong 40 năm đầu, triều Thanh chuyên chú trấn áp người Hán,
còn hơn 100 năm sau thì chuyên chú chinh phục người Mông Cổ, Tây Tạng và
Hồi dân, Miêu dân. Trong thời đó, bờ cõi của triều Thanh ngoài bản bộ Trung
Quốc và Mãn Châu thì còn có rất nhiều phiên bộ và thuộc quốc. Triều Thanh
muốn nắm vững quyền thống trị của mình nên thường hay dùng thủ đoạn châm
chọc làm cho các dân tộc xung đột lẫn nhau.
Mãi đến giữa thế kỷ XIX, Trung Quốc vẫn còn ở vào giai đoạn xã hội
phong kiến. Xã hội phong kiến tức là xã hội địa chủ bóc lột nông dân, nông dân
là người sản xuất chính còn địa chủ thì chiếm hữu một số lớn ruộng đất. Hoàng
đế Mãn Thanh tức là đại địa chủ các trang trại, ruộng nương của bọn quý tộc và

của người Hán chống lại Mãn Thanh duy trì được lâu nhất ở miền diên hải đông
nam; Hạ Môn và Đài Loan là căn cứ địa kháng chiến của người Hán thời đó.
Chính phủ Mãn Thanh vì muốn thực tế thi hành việc phong tỏa căn cứ địa kháng
chiến của người Hán nên nghiêm cấm các nước ngoài đến thông thương ở miền
diên hải, lại cũng nghiêm cấm người Trung Quốc đi ra nước ngoài buôn bán. Đó
gọi là chính sách phong tỏa vùng biển.
Những chính sách mà triều đình Mãn Thanh thi hành như trên làm cho đời
sống của nhân dân Trung Quốc vô cùng cơ cực. Cùng với đó, việc triều đình
Mãn Thanh thi hành chính sách hạn chế việc thông thương hay những thương
nhân nước ngoài thường gọi là “chính sách bế quan” làm cho nền kinh tế của
Trung Quốc kém phát triển. Lợi dụng điều này mà các cường quốc tư bản chủ
nghĩa đã tiến hành liên hợp, xúm lại với nhau cùng xâm chiếm Trung Quốc.
Cuộc chiến tranh Trung – Anh bùng nổ từ tháng 6 – 1840 mà lịch sử thường gọi
là cuộc “chiến tranh nha phiến” đã mở đầu cho quá trình xâm lược của các đế
quốc tư bản đối với Trung Quốc, từng bước biến Trung Quốc từ một quốc gia
phong kiến độc lập thành một nước nửa phong kiến, nửa thuộc địa.
1.1.2. Quá trình xâm lược của chủ nghĩa thực dân phương Tây vào
Trung Quốc
* Thực dân Anh xâm lược vào Trung Quốc với cuộc chiến tranh thuốc
phiện lần 1 (1840 – 1842)
Từ lâu các nước đế quốc Âu, Mỹ mà trước hết là đế quốc Anh đã nhòm ngó
Trung Quốc. Trong khi đó triều đình Mãn Thanh thi hành chính sách “đóng cửa”
ngoại thương (chỉ cho phép thông thương với nước ngoài qua cảng Quảng
Châu). Vì vậy, để bắt Trung Quốc mở cửa, đế quốc Anh đã sử dụng mặt hàng
đặc biệt là thuốc phiện để xâm nhập vào thị trường Trung Quốc. Do đó, lượng
thuốc phiện của thương gia Anh từ các thuộc địa Arập, Ấn Độ và các nơi khác ở
Đông Nam Á đưa vào bán trên thị trường Trung Quốc ngày một tăng với tốc độ
nhanh chóng (giữa thế kỉ XVIII mỗi năm khoảng 1000 thùng, đến năm 1839 đã
lên tới 35.500 thùng – mỗi thùng nặng khoảng 50 kg). [7,229]. Việc nhập thuốc
phiện đã làm cho Trung Quốc rơi vào tình trạng “chảy máu trắng” nghiêm trọng,

+ Giai đoạn thứ nhất: từ tháng 6 – 1840 đến hạ tuần tháng 1 – 1841. Trong
thời gian này, quân Anh đã cho phong tỏa cửa sông Chu Giang, chiếm Định Hải,
đưa quân lên Thiên Tân uy hiếp triều đình Mãn Thanh. Ngược lại, phía Trung
Quốc chưa có hoạt động tác chiến tích cực mà chỉ có một số hoạt động chuẩn bị
chiến đấu ở Quảng Đông.
+ Giai đoạn thứ hai: từ khi chính phủ Anh tuyên chiến (ngày 20 – 1 – 1841)
đến khi kí Hòa ước Quảng Châu (ngày 27 – 5 – 1841). Trong thời gian này, triều
đình Mãn Thanh tuy đã tuyên chiến với chính phủ Anh nhưng không thực sự có

10
quyết tâm kháng chiến. Những tướng lĩnh do Hoàng đế Đạo Quang phái đến
Quảng Châu thì tinh thần nhu nhược, đánh trận nào thua trận ấy. Cuối cùng, họ đã
kí Hòa ước Quảng Châu và Hòa ước này quy định trong vòng 6 ngày quân Thanh
phải rút ra ngoài Quảng Châu 60 dặm Anh; trong một tuần phải bồi thường cho
quân Anh 6 triệu đồng (bạc) và bồi thường cho các hãng buôn Anh 30 vạn đồng.
+ Giai đoạn thứ ba: từ khi quân Anh tấn công Hạ Môn (tháng 8 – 1841) đến
khi kí Điều ước Nam Kinh (ngày 29 – 8 – 1842). Trong giai đoạn này quân Anh
tập trung tấn công vùng Giang Tô, Chiết Giang. Quân Thanh được điều đến
Chiết Giang nhưng thua trận liên tiếp. Cuối cùng, triều đình Mãn Thanh đã buộc
phải kí Điều ước Nam Kinh. Đây là điều ước bất bình đẳng đầu tiên mà triều
đình Mãn Thanh buộc phải kí kết với chủ nghĩa đế quốc phương Tây. Điều ước
Nam Kinh quy định:
1. Trung Quốc phải mở 5 cửa khẩu thông thương là: Quảng Châu, Phúc
Châu, Hạ Môn, Ninh Ba, Thượng Hải. Người Anh được đến cư trú và lập lãnh
sự quán tại những nơi đó.
2. Trung Quốc cắt Hương Cảng (Hồng Kông) nhượng cho nước Anh.
3. Trung Quốc bồi thường cho nước Anh 21 triệu bảng, trả hết trong 4 năm.
4. Hải quan Trung Quốc không được tự quyết định thuế xuất nhập khẩu mà
phải bàn bạc với phía Anh.
5. Xóa bỏ chế độ “công hành”, thương nhân người Anh hoàn toàn tự do

* Thực dân Pháp xâm lược Trung Quốc (1884 – 1885)
Cuộc chiến tranh Trung – Pháp năm 1885 và sự thất bại của triều đình Mãn
Thanh đánh dấu một mốc mới trong quá trình xâm nhập của chủ nghĩa đế quốc
vào Trung Quốc.
Cuộc xâm lược Việt Nam của đế quốc Pháp được triều đình Mãn Thanh coi
là sự xâm phạm lợi ích của Trung Quốc và là mối đe dọa đối với miền Nam
Trung Quốc. Tháng 8 – 1883, triều đình Huế đã buộc phải kí Hiệp ước Hacmăng
thừa nhận quyền “bảo hộ” của Pháp. Sau đó, quân Pháp đã đòi triều đình Mãn
Thanh triệu hồi Lưu Vĩnh Phúc (bấy giờ đang chỉ huy quân Cờ Đen đánh nhau
với quân Pháp ở Bắc Kỳ), mở cửa biên giới Vân Nam. Từ đó, mâu thuẫn Trung
– Pháp trở nên gay gắt.
Tuy nhiên, thái độ của triều đình Mãn Thanh rất nhu nhược và ngày 11 – 5
– 1884 tại Thiên Tân, Tổng đốc Trực Lệ Lý Hồng Chương – người được sự ủy
nhiệm của triều đình Mãn Thanh đã kí với Trung tá hải quân Pháp Phuốcniê một
quy ước (thường được gọi là Quy ước Thiên Tân hoặc Hiệp ước Fournier) gồm
5 điều, thừa nhận quyền bảo hộ của Pháp đối với Việt Nam. Theo quy ước, quân
Thanh ở Việt Nam sẽ rút về nước. Một tháng sau quân Pháp đi tuần tra biên giới
đã tấn công quân Thanh ở Lạng Sơn và quân Pháp đã bị thương vong nhiều. Vin
vào cớ đó, mấy tháng sau hạm đội Pháp đã tấn công căn cứ hải quân Trung
Quốc ở Phúc Châu.

12
Ngày 6 – 7 – 1884, triều đình Mãn Thanh đã chính thức tuyên chiến với
Pháp. Cuối năm 1884, hạm đội Pháp tấn công, bao vây Đài Loan, chiếm cảng
Cơ Long, đầu năm 1885 chiếm quần đảo Bành Hồ.
Tháng 2 – 1885, quân Pháp thất bại trong trận tấn công Trấn Nam Quan
(nay là Hữu Nghị Quan). Nhưng triều đình Mãn Thanh đã không muốn nhân đà
thắng lợi đó để đẩy mạnh chiến tranh chống Pháp mà lại muốn cầu hòa, chịu mất
quyền lợi ở Việt Nam để đổi lấy việc Pháp rút khỏi quần đảo Bành Hồ và cảng
Cơ Long ở Đài Loan, không tấn công vào các vùng ven Vân Nam, Quảng Tây,

về nước. Cuối năm 1894 – đầu năm 1895, quân Thanh thất bại trong chiến dịch
Hoàng Hải, quân Nhật lần lượt đánh chiếm Đại Liên, Lữ Thuận, Uy Hải Vệ…
Từ đây mà tinh thần kháng chiến và lòng tin thắng lợi của vua Quang Tự cùng
với phái chủ chiến trong triều đình Mãn Thanh lạnh nguội dần. Phái chủ hòa do
Từ Hi Thái Hậu cầm đầu đã mời Anh cùng Mỹ, Nga làm trung gian hòa giải để
cầu hòa với Nhật Bản.
Và ngày 17 – 4 – 1895, Trung Quốc và Nhật Bản đã kí Hiệp ước Mã Quan
(hay còn gọi là Hiệp ước Simônôseki). Bản Hiệp ước này quy định:
1. Trung Quốc thừa nhận quyền thống trị của Nhật Bản đối với Triều Tiên.
2. Trung Quốc cắt bán đảo Liêu Đông, đảo Đài Loan và quần đảo Bành Hồ
“nhượng” cho Nhật Bản.
3. Trung Quốc bồi thường chiến phí cho Nhật Bản 200 triệu lạng bạc.
4. Trung Quốc mở thêm 4 cửa khẩu Sa Thị, Trùng Khánh, Tô Châu, Hàng
Châu cho Nhật Bản thông thương, tàu thủy của Nhật được tự do theo các dòng
sông tiến sâu vào nội địa.
5. Thần dân Nhật Bản được phép xây dựng các xưởng máy tại các cửa
khẩu thông thương. [7,234].
* Các nước đế quốc khác xâm lược Trung Quốc
Theo sau Anh, Pháp, Nhật, các nước đế quốc khác như Mỹ, Đức, Nga…
cũng ép triều đình Mãn Thanh kí các điều ước bất bình đẳng, tăng cường các hoạt
động tranh giành, phân chia phạm vi thế lực trên lãnh thổ Trung Quốc. Cụ thể:
+ Anh và Pháp nắm toàn khu vực Tứ Xuyên và Vân Nam.
+ Anh độc quyền xây dựng đường sắt từ Nam Sơn Đông đến Trấn Giang.
+ Đức độc quyền xây dựng đường sắt từ Sơn Đông đến Thiên Tân, vùng
phụ cận đường sắt thuộc Đức.
+ Nhật Bản khống chế vùng Đông Bắc và Phúc Kiến.
+ Phía Bắc Trường Thành là phạm vi thế lực của Nga.
+ Mỹ có quyền lợi ở Trung Quốc tương đối ít. Do đó, năm 1889 Mỹ đề ra
chính sách “mở cửa” để chen chân vào thị trường Trung Quốc; bởi vì, “đối với
Mỹ, Trung Quốc là một thị trường và có thể là một đồng minh trong một cuộc

Thái bình Thiên quốc. Đây là phong trào nông dân chống triều đình phong kiến
có quy mô lớn nhất trong lịch sử Trung Quốc. Phong trào Thái bình Thiên quốc
đã bùng nổ trong bối cảnh đất nước Trung Hoa sau cuộc chiến tranh thuốc phiện
bị các nước đế quốc xâm hại, triều đình phong kiến Mãn Thanh ra sức vơ vét,
bóc lột nhân dân, các cuộc phản kháng của nông dân nổi lên khắp nơi trong cả
nước, nhất là ở các tỉnh phía nam với những tổ chức và ngọn cờ khác nhau.
Lãnh tụ của phong trào nông dân Thái bình Thiên quốc là Hồng Tú Toàn
(1814 – 1864).
Ngày 11 – 1 – 1851, Hồng Tú Toàn tổ chức lực lượng vũ trang ở thôn Kim
Điền (Quảng Tây) tuyên bố khởi nghĩa, lập hiệu là Thái bình Thiên quốc. Quần

15
chúng nông dân các vùng lân cận nhiệt liệt hưởng ứng, phong trào khởi nghĩa
nhanh chóng lan rộng ra các địa phương khác ở Quảng Tây. Triều đình Mãn
Thanh điều hơn 1 vạn quân đến bao vây, trấn áp nhưng đã bị nghĩa quân đánh
bại. Nghĩa quân Thái bình Thiên quốc thừa thắng đánh chiếm thành phố Vĩnh
An (nay thuộc huyện Mông Sơn). Tại Vĩnh An, Hồng Tú Toàn đã cho ban hành
“Thiên lịch”, hạ chiếu phong vương. Dương Tú Thanh được phong Đông
vương, Tiêu Triều Quý được phong Tây vương, Phùng Vân Sơn được phong
Nam vương, Vi Xương Huy được phong Bắc vương, Thạch Đạt Khai được
phong Dực vương. Một hình thức chính quyền trung ương của Thái bình Thiên
quốc đã bước đầu hình thành. Chiếu lệnh của Thiên vương Hồng Tú Toàn còn
quy định từ Tây vương trở xuống đều chịu sự chỉ huy của Đông vương và trên
thực tế, Đông vương Dương Tú Thanh đã nắm trong tay quyền hành rất lớn về
quân sự và chính trị.
Được sự hưởng ứng của quần chúng nông dân, lực lượng của phong trào
nông dân Thái bình Thiên quốc ngày càng lớn mạnh. Nghĩa quân Thái bình
Thiên quốc đã đánh bại nhiều cuộc bao vây tấn công của quân Thanh và chỉ
trong một thời gian hơn 2 năm đã từ Quảng Tây tiến đánh sang 5 tỉnh Hồ Nam,
Hồ Bắc, Giang Tây, An Huy, Giang Tô; lần lượt đánh chiếm các thành phố quan

tưởng đó thể hiện ước vọng của quần chúng nông dân, nhưng trong điều kiện
lịch sử lúc bấy giờ thì nó chỉ là không tưởng. Về thiết chế chính quyền, Thái
bình Thiên quốc chia làm 4 cấp là: trung ương, tỉnh, quận, huyện. Về đẳng cấp
xã hội, tối cao là Thiên vương, thứ đến là vương, hầu, các quan chức cấp dưới
và thường dân. Về văn hóa tư tưởng thì Thái bình Thiên quốc đả phá Khổng
giáo, tôn thờ Thượng đế.
Thái bình Thiên quốc thành lập không lâu thì đã bộc lộ những nhược điểm
của nó. Những chính sách kinh tế - xã hội mang tính chất không tưởng đã không
thể đi vào cuộc sống, nghiêm trọng hơn là sự tha hóa và chia rẽ trong những
người lãnh đạo. Lí tưởng bình quân tuyệt đối của Thái bình Thiên quốc đã
không thể trở thành hiện thực. Trên thực tế, Thiên triều điền mẫu chế độ đã
không được thực hiện, quan hệ sản xuất phong kiến không bị xóa bỏ thực sự.
Bình đẳng chính trị không được đề cập đến. Quan hệ giữa những người lãnh
đạo cũng chuyển từ “cùng ăn cùng ở, tình cảm ruột thịt” sang hiềm khích, đố
kị, ám hại lẫn nhau… Do đó mà Thái bình Thiên quốc rơi vào tình trạng “triều
trung vô tướng, quốc nội vô nhân”, các tướng lĩnh hoặc bị giết, hoặc bỏ đi,
lòng dân li tán. Lợi dụng tình thế đó, triều đình Mãn Thanh với sự giúp đỡ của
các thế lực ngoại bang đã tổ chức phản công, đàn áp phong trào nông dân Thái
bình Thiên quốc.
Như vậy, phong trào Thái bình Thiên quốc kéo dài trong vòng 14 năm đã
thất bại (1851 – 1864). Tuy nhiên, những cuộc chiến đấu của các lực lượng
nghĩa quân tại nhiều địa phương vẫn còn tiếp diễn đến ba, bốn năm sau.
Phong trào nông dân Thái bình Thiên quốc đã nói lên ý chí đấu tranh ngoan
cường, dũng cảm và lực lượng hùng hậu của quần chúng lao động chống lại sự
áp bức của thế lực địa chủ phong kiến, gây cho triều đình Mãn Thanh những tổn
thất nghiêm trọng. Nhưng, thất bại của Thái bình Thiên quốc cũng chứng tỏ nếu

17
không có sự lãnh đạo về đường lối và tổ chức của một giai cấp đại diện cho
phương thức sản xuất tiên tiến thì phong trào nông dân chỉ có thể đả phá chế độ

thương mại, giao thông có cơ hội phát triển.
* Phong trào Duy tân tư sản
Giai cấp tư sản dân tộc Trung Quốc gồm một bộ phận xuất thân từ quan lại,
địa chủ, một bộ phận khác từ các doanh nghiệp, tiểu chủ mới giàu lên. Cuối thế

18
kỉ XIX, công thương nghiệp của Trung Quốc tuy đã bước đầu phát triển nhưng
số lượng còn ít, quy mô còn nhỏ. Tư bản dân tộc bị tư bản nước ngoài cạnh
tranh và các thế lực phong kiến trong nước cản trở. Các nhà tư tưởng chính trị
đại diện cho lợi ích của tư sản dân tộc chủ trương phải có sự đổi mới thể chế
chính trị Trung Quốc, thay thế chế độ quân chủ chuyên chế bằng chế độ quân
chủ lập hiến, theo con đường như Minh Trị duy tân ở Nhật Bản. Hai đại biểu
chính của phái Duy tân này là Khang Hữu Vi (1858 – 1927) và Lương Khải Siêu
(1873 – 1929).
Năm 1888, Khang Hữu Vi dâng bản tấu lên vua Quang Tự kiến nghị “biến
pháp” để “tự cường”. Nhưng phái bảo thủ trong triều đã ngăn cản không để bản
tấu đó đến tay Quang Tự.
Tháng 5 – 1895, Khang Hữu Vi lấy chữ kí của hơn 1300 cử nhân, đưa tờ
trình lên triều đình Mãn Thanh phản đối việc kí Hiệp ước Mã Quan với Nhật,
chủ trương “cự hòa (không thực hiện Hòa ước Mã Quan), thiên đô, biến pháp”.
Nhưng tờ tường trình này cũng không đến tay Hoàng đế Quang Tự.
Từ giữa năm 1895, Khang Hữu Vi gặp Lương Khải Siêu và các nhà Duy
tân khác tiến hành hoạt động tại Bắc Kinh, khai trương Vạn quốc công báo, tổ
chức cường học hội, tuyên truyền đường lối tự cường. Những hoạt động này đã
được nhà vua Quang Tự ủng hộ. Tuy nhiên, phái thủ cựu trong triều đình Mãn
Thanh đã tìm cách ngăn cản sự phát triển của phong trào Duy tân. Một mặt, họ
ra sức phản bác về lí luận như Tổng đốc Hồ Quảng là Trương Chi Động đã viết
“Khuyến học Thiên” với tư tưởng chỉ đạo vẫn là “Trung học vi bản, Tây học vi
dụng”; mặt khác, gây cản trở cho hoạt động của phái Duy tân. Vì vậy mà các tổ
chức Vạn quốc công báo và Cường học hội sau một thời gian hoạt động đã phải

Mặc dù thất bại nhưng phong trào Duy tân vẫn là một sự kiện có ý nghĩa
quan trọng trong lịch sử cận đại Trung Quốc về lĩnh vực chính trị và nhất là về
lĩnh vực văn hóa tư tưởng. Phong trào Duy tân tuy chưa phế bỏ được trật tự chế
độ phong kiến và vai trò thống trị của nền văn hóa phong kiến ở Trung Quốc,
nhưng nó đã làm lung lay trật tự và nền tảng văn hóa đó. Có thể nói, phong trào
Duy tân cuối thế kỉ XIX là một cuộc giải phóng tư tưởng, góp phần mở đường
cho những trào lưu văn hóa và tư tưởng chính trị tiến bộ hơn thâm nhập và phát
triển trong xã hội Trung Quốc. Ngày nay, các học giả Trung Quốc đã đánh giá
cao ý nghĩa lịch sử của phong trào đó là: “Cống hiến chủ yếu của cuộc Duy tân
Mậu Tuất là làm lung lay và thay đổi cục bộ chế độ phong kiến truyền thống
trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa giáo dục; người ta đã thử nghiệm xây
dựng một Trung Quốc cận đại, độc lập, phồn vinh và giàu mạnh”. [2,2].
* Phong trào Nghĩa hòa đoàn
Trong những năm 90 của thế kỉ XIX, phong trào chống đế quốc, phong
kiến của nhân dân Trung Quốc vẫn tiếp tục phát triển, nổi bật nhất là phong trào
Nghĩa hòa đoàn.
Phong trào Nghĩa hòa đoàn bắt nguồn ở tỉnh Sơn Đông, về sau phát triển ra
cả vùng Hoa Đông, Hoa Nam, Đông Bắc Trung Quốc. Năm 1900, Nghĩa hòa
đoàn tiến vào Bắc Kinh, hô hào chống đế quốc rất quyết liệt. Một bộ phận trong

20
triều đình Mãn Thanh chủ trương lợi dụng và xoa dịu phong trào Nghĩa hòa
đoàn, một bộ phận khác phản đối vì sợ các nước đế quốc có cớ can thiệp. Từ Hi
Thái Hậu đã chủ trương giải tán Nghĩa hòa đoàn một cách hòa bình. Đến giữa
năm 1900, Nghĩa hòa đoàn đã có tới khoảng 10 vạn người. Quần chúng tham gia
Nghĩa hòa đoàn sau đó cũng tràn vào Thiên Tân. Khắp nơi diễn ra các vụ “đốt
giáo đường, giết giặc Tây”. Nghĩa hòa đoàn có số người tham gia khoảng 45
vạn, chủ yếu là thanh niên nông thôn, nhưng không có một tổ chức lãnh đạo
thống nhất. Năm 1899, Nghĩa hòa đoàn đưa ra khẩu hiệu “phù Thanh diệt
Dương”, nhằm chĩa mũi nhọn đấu tranh đánh đuổi đế quốc xâm lược.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status