lạm phát ảnh hương như thế nào đến tỷ giá hối đoái tại việt nam giai đoạn năm 2008-2011 - Pdf 22

BỘ CÔNG THƯƠNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC CÔNG NGHIỆP TP. HỒ CHÍ MINH
KHOA: KINH TẾ - CƠ SỞ THANH HÓA
d&c
BÀI TIỂU LUẬN
MÔN: NGHIỆP VỤ NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG
ĐỀ TÀI: LẠM PHÁT ẢNH HƯỞNG NHƯ THẾ NÀO ĐẾN
TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2008-2011
GVHD : LÊ THÙY LINH
THỰC HIỆN : NHÓM 06
LỚP : CDTN13TH
Thanh Hóa, tháng 01 năm 2013
Tiểu luận môn Nghiệp Vụ ngân hàng trung ương GVHD: Lê Thùy Linh
DANH SÁCH NHÓM
TT HỌ VÀ TÊN MSSV GHI CHÚ
1 NGUYỄN THỊ HẢI NHƯ 11018193 NHÓM TRƯỞNG
2 TRỊNH THẾ MẠNH 11022603
3 NGÔ HỮU MINH 11034613
4 NGUYỄN CÔNG MINH 11019453
5 TRƯƠNG THỊ NGA 11035283
6 BÙI THỊ BÍCH NGỌC 11025033
7 NGUYỄN THỊ NGỌC 11023493
8 NGUYỄN THỊ NHÀN 11035313
9 NGUYỄN THỊ NHUNG 11035263
10 NGUYỄN VĂN LỰC 11018103
11 LÊ THỊ PHƯƠNG 11022013
SVTH: Nhóm 06 - Lớp: CDTN13TH
Tiểu luận môn Nghiệp Vụ ngân hàng trung ương GVHD: Lê Thùy Linh
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN 2
1.1: TỔNG QUAN VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI 2
1.1.1: Khái niệm về tỷ giá hối đoái 2
1.1.2. Các loại tỷ giá hối đoái 2
1.1.2.1: Căn cứ vào chế độ quản lý ngoại hối, tỷ giá hối đoái bao gồm:
2
1.1.2.2: Căn cứ vào tiêu thức thời điểm thanh toán 2
1.1.2.3: Căn cứ vào tiêu thức giá trị của tỷ giá: 3
1.1.2.4: Căn cứ vào phương tiện chuyển ngoại hối 3
1.1.2.5: Căn cứ vào phương tiện thanh toán quốc tế 3
1.2: TỔNG QUAN VỀ LẠM PHÁT 4
1.2.1: Khái niệm về lạm phát 4
1.2.2: Tác động của lạm phát: 4
1.2.2.1 Đối với lĩnh vực sản xuất: 4
1.2.2.2: Đối với lĩnh vực lưu thông: 5
1.2.2.3: Đối với lĩnh vực tiền tệ, tín dụng: 5
1.2.2.4: Đối với chính sách kinh tế tài chính của nhà nước: 5
1.3: ẢNH HƯỞNG CỦA LẠM PHÁT ĐẾN TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI 6
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG ẢNH HƯỞNG CỦA LẠM PHÁT ĐẾN TỶ
GIÁ HỐI ĐOÁI TẠI VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2008-2011 7
CHƯƠNG 3:MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ 17
SVTH: Nhóm 06 - Lớp: CDTN13TH
Tiểu luận môn Nghiệp Vụ ngân hàng trung ương GVHD: Lê Thùy Linh
3.1: TĂNG CƯỜNG LINH HỌAT TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI 17
3.2: PHỐI HỢP CHÍNH SÁCH TÀI KHÓA VỚI CHÍNH SÁCH TỶ
GIÁ 19
3.3: TĂNG CƯỜNG CÔNG CỤ PHÒNG NGỪA RỦI RO 20
3.4: MỘT SỐ GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ CỦA NHÓM THỰC HIỆN
21
KẾT LUẬN 23

Nam giai đoan năm 2008-2011”, em sẽ cố gắng phân tích dựa trên kiến thức đã
được học và qua quá trình tìm hiểu, thu thập tài liệu.
SVTH: Nhóm 06 - Lớp: CDTN13TH Trang 1
Tiểu luận môn Nghiệp Vụ ngân hàng trung ương GVHD: Lê Thùy Linh
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1: TỔNG QUAN VỀ TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI
1.1.1: Khái niệm về tỷ giá hối đoái
Tỷ giá hối đoái là giá cả của một đồng tiền này được biểu thị thông qua
một đồng tiền khác. Nói cách khác, tỷ giá là số đơn vị đồng tiền định giá trên
một đồng tiền yết giá. Tại Việt Nam sử dụng phương pháp yết giá trực tiếp,
nghĩa là dồng ngoại tệ đóng vai trò là dồng tiền yết giá(số đơn vị =1), còn đồng
nội tệ đóng vai trò là đồng tiền định giá.
1.1.2. Các loại tỷ giá hối đoái
Có rất nhiều loại tỷ giá khác nhau tùy thuộc vào từng tiêu thức phân loại
khác nhau
1.1.2.1: Căn cứ vào chế độ quản lý ngoại hối, tỷ giá hối đoái bao gồm:
- Tỷ giá chính thức: là tỷ giá do NHTW của mỗi nước công bố. Tỷ giá hối
đoái này được công bố hàng ngày vào đầu giờ làm việc của NHTW. Dựa vào tỷ
giá này các NHTM và các TCTD sẽ ấn định tỷ giá mua bán ngoại tệ giao ngay,
có kỳ hạn, hoán đổi.
- Tỷ giá kinh doanh (bao gồm tỷ giá mua, tỷ giá bán): là tỷ giá dung để
kinh doanh mua bán do các NHTM haycác TCTD đưa ra. Cơ sở xác định tỷ giá
này là tỷ giá chính thức do NHTW công bố xem xét đến các yếu tố liên quan
trực tiếp đến kinh doanh như: quan hệ cung cầu ngoại tệ, tỷ suất lợi nhuận, tâm
lý của người giao dịch đối với ngoại tệ cần mua hoặc bán. Biên độ giao động
hiện nay của tỷ giá kinh doanh so với tỷ giá chính thức là 1%.
- Tỷ giá chợ đen: tỷ giá được hình thành bên ngoài thị trường ngoại tệ
chính thức.
1.1.2.2: Căn cứ vào tiêu thức thời điểm thanh toán

-Tỷ giá séc là tỷ giá mua bán các loại séc ngoại tệ.
-Tỷ giá hối phiếu trả tiền ngay: là tỷ giá mua bán các loại hối phiếu tra tiền
ngay bằng ngoại tệ.
- Tỷ giá hối phiếu có kỳ hạn : là tỷ giá mua bán các loại hối phiếu có kỳ
SVTH: Nhóm 06 - Lớp: CDTN13TH Trang 3
Tiểu luận môn Nghiệp Vụ ngân hàng trung ương GVHD: Lê Thùy Linh
hạn bằng ngoại tệ.
- Tỷ giá chuyển khoản: là tỷ giá mua bán ngoại hối bằng cách chuyển
khoản qua ngân hàng.
- Tỷ giá tiền mặt: là tỷ giá mua bán ngoại hối được thanh toán bằng tiền
mặt.
1.2: TỔNG QUAN VỀ LẠM PHÁT
1.2.1: Khái niệm về lạm phát
Lạm phát là hiện tượng tiền trong lưu thông vượt quá nhu cầu cần thiết làm
cho chúng bị mất giá , giá cả của hầu hết các loại hàng hóa tăng lên đồng loạt.
Lạm phát có những đặc trưng là:
 Hiện tượng gia tăng quá mức của lượng tiền có trong lưu thông dẫn đến
đồng tiền bị mất giá.
 Mức giá cả chung tăng lên.
Ngoài ra lạm phát còn là sự tăng lên theo thời gian của mức giá chung của
nền kinh tế. Trong một nền kinh tế, lạm phát là sự mất giá trị thị trường hay
giảm sức mua của đồng tiền.
Khi so sánh với các nền kinh tế khác thì lạm phát là sự phá giá tiền tệ của
một loại tiền tệ so với các loại tiền tệ khác. Thông thường theo nghĩa đầu tiên thì
người ta hiểu là lạm phát của đơn vị tiền tệ trong phạm vi nền kinh tế của một
quốc gia, còn theo nghĩa thứ hai thì người ta hiểu là lạm phát của một loại tiền tệ
trong phạm vi thị trường toàn cầu. Phạm vi ảnh hưởng của hai thành phần này
vẫn là một chủ đề gây tranh cãi giữa các nhà kinh tế học vĩ mô. Ngược lại với
lạm phát là giảm phát. Một chỉ số lạm phát bằng 0 hay một chỉ số dương nhỏ thì
được người ta gọi là sự "ổn định giá cả".

cho thị trường bị rối loạn. Người ta khó phân biệt được những doanh nghiệp làm
ăn tốt và kém. Đồng thời, lạm phát làm cho nhà nước thiếu vốn, do đó nhà nước
không còn đủ sức cung cấp tiền cho các khoản dành cho phúc lợi, an sinh xã
hội…các ngành, các lĩnh vực dự định được chính phủ đầu tư và hỗ trợ vốn bị thu
hẹp lại hoặc không có. Một khi ngân sách nhà nước bị thâm hụt thì các mục tiêu
cải thiện và nâng cao đời sống kinh tế xã hội sẽ không có điều kiện thực hiện
SVTH: Nhóm 06 - Lớp: CDTN13TH Trang 5
Tiểu luận môn Nghiệp Vụ ngân hàng trung ương GVHD: Lê Thùy Linh
được.
Như vậy, lạm phát đã ảnh hưởng đế mọi mặt của đời sống kinh tế - xã hội,
tuy nhiên không nên chỉ nhìn nhận mặt tiêu cực của vấn đề, ở đây cũng vậy, cần
thấy rằng, lạm phát vừa phải có thể đem lại những điều kiện thuận lợi góp phần
thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bên cạnh những tác hại không đáng kể. Vì vậy, thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế và kiểm soát lạm phát là bài toán luôn thường trực trên
bàn nghị sự của các Chính phủ nhưng cũng khó giải nhất đối với tất cả các nền
kinh tế, kể cả nền kinh tế thị trường phát tiển. Việt Nam cũng không phải là
ngoại lệ.
1.3: ẢNH HƯỞNG CỦA LẠM PHÁT ĐẾN TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI
Khi một nước có lạm phát, sức mua đồng nội tệ giảm, với tỷ giá hối đoái
không đổi, hàng hoá dịch vụ trong nước đắt hơn trên thị trường nứơc ngoài
trong khi hàng hoá dịch vụ nước ngoài rẻ hơn trên thị trường trong nứơc. Theo
quy luật cung cầu, cư dân trong nước sẽ chuyển sang dùng hàng ngoại nhiều hơn
vì giá rẻ hơn, nhập khẩu tăng, cầu ngoại tệ tăng, tỷ giá hối đoái tăng. Tương tự
vì tăng giá, cư dân nước ngoài sẽ dùng ít hàng nhập khẩu hơn. Hoạt động xuất
khẩu giảm sút, cung ngoại tệ trên thị trường giảm, tỷ giá hối đoái tăng. Như vậy
lạm phát ảnh hưởng đến cả cung và cầu ngoại tệ theo hướng tăng giá ngoại tệ,
tác động cộng gộp làm cho tỷ giá hối đoái tăng nhanh hơn. Trên thị trưòng tiền
tệ, lạm phát làm đồng tiền mất giá, người dân sẽ chuyển sang nắm giữ các tài
sản nước ngoài nhiều hơn, cầu ngoại tệ gia tăng đẩy tỷ giá hối đoái tăng. Trong
trường hợp các quốc gia đều có lạm phát thì những tác động trên sẽ phụ thuộc

Kết thúc năm 2008, lạm phát lùi về còn 19,89%, đây là mức cao nhất trong
vòng 17 năm qua. Trong đó CPI của lương thực tăng cao nhất và đạt 49,16%,
chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 12/2008 giảm 0,68% so với tháng trước, nhưng
SVTH: Nhóm 06 - Lớp: CDTN13TH Trang 7
Tiểu luận môn Nghiệp Vụ ngân hàng trung ương GVHD: Lê Thùy Linh
so với tháng 12 năm 2007 tăng 19,89% và chỉ số giá bình quân năm 2008 so với
năm 2007 tăng 22,97%; đặc biệt, so với kỳ gốc năm 2005 đã tăng 46,07%.
Hình1: Tỷ giá VND/USD theo ngày và biên độ giai đoạn 2008-2001
Nguồn: NHNN và Vietcombank(2011).
Giai đoạn từ năm 2008-2011 tỷ giá đã có nhiều sự biến động. Đầu năm
2008, nền kinh tế vừa kết thúc giai đoạn suy thoái và khủng hoảng bắt đi vào sự
ổn định.
Giai đoạn 2008-2009 đánh dấu sự phản ứng trong chính sách tỷ giá ở Việt
Nam. Dựa vào đồ thị và số liệu thống kê ta có thể thấy tỷ giá đầu 2008 của ngân
hàng thương mại giảm xuống sàn biên độ và đồng Việt Nam lên giá trong giai
đoạn này. Nguyên nhân là do từ cuối năm 2007 sự gia tăng ồ ạt của các nguồn
đầu tư gián tiếp vào Việt Nam làm cho nguồn cung USD tăng mạnh do đó tỷ giá
trong giai đoạn giảm xuống hay nói cách khác là đồng Việt Nam tăng giá. Dựa
vào hình 1 ta có thể thấy tỷ giá NHTM có nhiều biến động mạnh do lạm phát
tăng cao vào giai đoạn nửa đầu năm( tỷ lệ lạm phát năm 2008 rất cao có lúc kên
SVTH: Nhóm 06 - Lớp: CDTN13TH Trang 8
Tiểu luận môn Nghiệp Vụ ngân hàng trung ương GVHD: Lê Thùy Linh
đến gần 20%) đồng thời cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới đã bắt đầu ảnh
hưởng và tác động đến nền kinh tế Việt Nam vào nửa cuối năm 2008. Và cũng
bắt đầu từ nửa cuối năm 2008 cùng với sự suy thoái của nền kinh tế thì luồng
đầu tư gián tiếp vào Việt Nam đã bắt đầu giảm. Năm 2008 tỷ giá niêm yết tại
các NHTM biến động liên tục, có lúc tỷ giá này thấp hơn cả tỷ giá chính thức
trong khi năm 2009 tỷ giá NHTM luôn luôn ở mức trần biên độ mà NHNN công
bố. Trước áp lực về quan hệ cung cầu ngoại hối trên thị trường mà tỷ giá trên thị
trường tự do tăng rất nhanh. Mặc dù NHNN đã mở rộng biên độ dao động tử +/-

nhân là do ngân hàng nhà nước công bố nguồn dự trữ ngoại tệ nên tâm lý của
người dân được cải thiện hơn nên người dân giảm gim giữ ngoại tệ và đầu cơ
ngoại tệ nên tỷ giá lúc này khá ổn định. Mặc khác lạm phát lúc này đã được
kiểm soát mức tăng lạm phát được kiềm hãm ở mức 1.13% so với tháng trước.
Sang các tháng cuối năm biến động nhưng không nhiều, tỷ giá VND/USD trong
8/2008 biến động nhích lên theo từng tuần. Cụ thể tỷ giá bình quân liên ngân
hàng từ 16.489 đồng lên 16.493 đồng và tăng đến 16.496 đồng trong 2 tuần cuối
tháng 8. Tỷ giá trên thị trường tự do ổn định hơn. Tháng 9/2008 biến động mạnh
nhất vào giũa tháng 9 tỷ giá tăng mạnh từ 16.620 lên 16.740 sau đó giảm xuống
còn 16.630 VND/USD vào cuối tháng. Nguyên nhân là do cuộc khủng hoảng tài
SVTH: Nhóm 06 - Lớp: CDTN13TH Trang 10
Tiểu luận môn Nghiệp Vụ ngân hàng trung ương GVHD: Lê Thùy Linh
chính ở Mĩ, các tập đoàn tài chính của Mĩ bị phá sản làm cho tỷ giá biến động
bất ngờ. Đến tháng 10/2008 tỷ giá tiếp tục được ổn định và đến cuối tháng tỷ giá
lại bất ngờ tăng vọt lên mốc 16.800 VND/USD trong khi tỷ giá liên ngân hàng
vẫn ổn định. Tuy nhiên sau đó thì tỷ giá này cũng giảm nhẹ. Nguyên nhân là do
cuối tháng 9 các nhà đầu tư nước ngoài đã bán ròng khối lượng cổ phiếu và trái
phiếu trên 2 sàn giao dịh của Việt Nam mà chủ yếu là để mua USD nên gây sức
ép lên tỷ giá. Nguyên nhân nữa là do các ngoại tệ mạnh trên thế giới đều mất giá
so với USD nhất là chính phủ Mĩ can thiệp vào thị trường tài chính ngăn chặn
cuộc khủng hoảng làm cho USD tăng giá trở lại. Cuộc khủng hoảng toàn cầu
ảnh hưởng kinh tế Việt Nam. Rõ ràng nhất là trong cuối năm 2008 nhu cầu hàng
xuất khẩu giảm, kim ngạch xuất khẩu giảm liên tục từ tháng 8 chủ yếu là dầu
thô. Các nhà đầu tư nước ngoài cũng giảm đầu tư, lượng khách du lịch vào Việt
Nam cũng giảm, lượng kiều hối cũng giảm mạnh đã làm cho nguồn cung USD
giảm mạnh ảnh hưởng rất lớn đến tỷ giá. Tuy nhiên chính phủ ta đã có biện pháp
hợp lý và đã kiểm soát được tỷ giá không biến động quá mạnh.
Năm 2009: Giá USD tháng 01/2009 so với tháng 12/2008 tăng 1,48%, so
với tháng 01/2008 tăng 8,16%. Qua tháng 2 dưới sự tác động của khủng hoảng
kinh tế thế giới, nền kinh tế nước ta chịu ảnh hưởng nhiều tuy nhiên nhà nước ta

khoảng17.450 - 17.700đồng/USD. Từ tháng 10 đến cuối tháng 11/2009 tỷ giá
biến động rất dữ dội, trên thị trường tự do có lúc đạt đỉnh 20000 đồng/USD và
19750 đồng/USD trên thị trường liên ngân hàng. Nguyên nhân chủ yếu vẫn là do
hiện tượng găm giữ ngoai tệ của người dân, các doanh nghiệp thì vì sợ tỷ giá sẽ
tiếp tục tăng nên mặc dầu chưa đến kỳ hạn trả nợ nhưng đã mua sẵn ngoại tệ để
chuẩn bị cho việc trả nợ. Điều đó đã làm cho cầu ngoại tệ tăng cao gây ảnh
hưởng tỷ giá. Ngoài ra, do tâm lý bất ổn của người dân và các doanh nghiệp nên
họ lựa chon găm giữ ngoại tệ và đồng thời do chính sách hỗ trợ lãi suất vay tiền
đồng thấp cho các doanh nghiệp, phạm vi và thời gian vay được mở rộng theo
chủ trương của chính phủ nên các doanh nghiệp muốn vay tiền đồng hơn mà
không cần bán ngoại tệ để đổi ra VND nữa. Đây là gói kích cầu mà nhà nước ta
thực hiện tuy nhiên đã mang lại ảnh hưởng lớn đến tỷ giá. Từ cuối 11/2009 đến
SVTH: Nhóm 06 - Lớp: CDTN13TH Trang 12
Tiểu luận môn Nghiệp Vụ ngân hàng trung ương GVHD: Lê Thùy Linh
hết năm 2009 tỷ giá bắt đầu giảm dần trở lại nguyên nhân là do NHNN thực
hiện chính sách bình ổn tỷ giá cùng với sự góp sức của NHTM đã làm tỷ giá
giảm sau giai đoạn biến động mạnh.
Giai đoạn 2010-2011:
Trong năm 2010 các NHTM vẫn tiếp tục áp dụng tỷ giá tại mức trần biên
độ của tỷ giá chính thức trong hầu hết các tháng. Do áp lực của tỷ giá trên thị
trường NHNN đã phải tăng tỷ giá chính thức từ 17940 lên 18544 VND/USD kể
từ 11/02/2010 tương đương với việc phá giá 3,3%. Tỷ giá VND/USD của các
NHTM trong giai đoạn 2008-2011 luôn đạt mức tỷ giá trần theo biên độ mà
NHNN quy định, chỉ vào một số thời điểm thì tỷ giá này mới thấp hơn trần biên
độ. Cùng với việc nâng tỷ giá thì NHNN còn thực hiện nhiều biện pháp hành
chính để giảm áp lực lên thị trường ngoại hối như giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc
bằng ngoại tệ, mở rộng đối tượng cho vay bằng ngoại tệ, đồng thời NHNN tăng
lãi suất cơ bản lên 8%/năm. Kết quả là 6 tháng đầu năm 2010 tín dụng ngoại tệ
tăng cao và các khoản đầu tư và giải ngân ODA, FDI làm cho nguồn cung ngoại
tệ tăng lên làm giảm tỷ giá trên thị trường tự do giảm khoảng cách giữa tỷ giá

lớn khiến các doanh nghiệp cân nhắc và dịch chuyển sang vay USD. Đến các
tháng cuối năm 2010 thì tỷ giá vẫn tiếp thục tăng mạnh đặc biệt từ tháng 8/2010,
tỷ giá trên thị trường tự do lại tăng cao so với tỷ giá chính thức tại các ngân hàng
khiến NHNN phải tăng tỷ giá trên thị trường liên ngân hàng từ 18544 VND lên
18932 VND (tăng 2.1%). Và các NHTM vẫn tiếp tục áp dụng mức lãi suất kịch
trần. Đến khoảng cuối tháng 9/2010 tỷ vào khoảng 19500đồng/USD. Theo số
liệu từ bài viết của TS. Võ Đại Lược và TS. Lê Xuân Nghĩa trình bày tại hội
thảo “Ổn định kinh tế vĩ mô, duy trì tăng trưởng: Kinh tế Việt Nam năm 2010,
triển vọng năm 2011” ta thấy đồng nhân dân tệ của Trung Quốc định giá thấp
hơn 30% so với USD tuy nhiên VND lại định giá cao hơn 15% so với USD.
Điều đó cho thấy tỷ giá VND/USD được định giá quá cao so với cung cầu thực
tế về ngoại tệ. Cuối năm 2010 thì tỷ giá tiếp tục biến động tăng, các chủ thể vẫn
thực hiện việc mua ngoại tệ để kì vọng giá tăng. Cuối tháng 11 tỷ giá lên mức
21380-21450 đồng/USD và tỷ giá trên thị trường tự do vượt qua mức 21500
SVTH: Nhóm 06 - Lớp: CDTN13TH Trang 14
Tiểu luận môn Nghiệp Vụ ngân hàng trung ương GVHD: Lê Thùy Linh
đồng/USD. Trong năm 2010 ta có thể thấy tỷ giá biến động bất thường, đầu ra
ngoại tệ tăng mạnh do chính sách của NHNN về mở rộng đối tượng được vay
vốn ngoại tệ nhưng đầu vào ngoại tệ rất khiêm tốn. NHTM buộc phải tăng lãi
suất huy động lên. Sự bất thường của tỷ giá cho thấy sức mạnh của yếu tố tâm lý
của người dân, doanh nghiệp. Việc găm giữ USD tiếp tục do tình trạng đô la hóa
của Việt Nam ngày càng trầm trọng.
Bước sang đầu năm 2011 thì tỷ giá cũng có biến động nhưng không nhiều,
tuy nhiên sau thời gian kiềm giữ tỷ giá USD chính thức ở mức 18932đồng/USD
thì đã đẩy chênh lệch tỷ giá chính thức và tỷ giá thị trường tự do lên tới 2000-
3000 VND/USD và NHNN đã điều chỉnh tăng tỷ giá liên ngân hàng thêm 9,3%
đồng thời thu hẹp biên độ tỷ giá xuống còn +/-1% từ ngày 11/2/2011. Có nhiều
lý giải đặt ra quanh con số 9,3% đó. Thứ nhất, đó là sự giải phóng áp lực dồn
nén quá lớn sau một thời gian tương đối dài. Thứ hai, nhà điều hành muốn một
bước để nhanh chóng thu hẹp khoảng cách giữa hai tỷ giá. Thứ ba, nhà điều

Tình hình lạm phát ở Việt Nam đang dần đi vào ổn định. Chỉ số giá tiêu
dùng CPI trong tháng 9 đã giảm xuống chỉ còn 0,18% - mức thấp nhất kể tử đầu
năm. Tuy nhiên, nước ta vẫn đang ở trong tình trạng lạm phát phi mã. Vì vậy,
kiểm soát lạm phát hiện nay vẫn là một trong những mục tiêu được ưu tiên hàng
đầu của Chính phủ. Trong thời gian qua, Chính phủ cũng đã sử dụng chính sách
tỷ giá hối đoái như 1 công cụ đề kiềm chế lạm phát. Mặc dù vậy, cũng phải nhận
thấy rằng việc điều chỉnh tỷ giá trong còn có lúc chậm, bị động và chưa đủ mức.
Trong điều kiện nền kinh tế mới mở cửa từng phần, những hạn chế này phần nào
đã không được bộc lộ và chưa gây ra những hậu quả nghiêm trọng. Nhưng nếu
tiếp tục để xảy ra như vậy trong tương lai, khi Việt Nam đã mở cửa và hội nhập
mạnh hơn thì hậu quả của một chính sách tỷ giá kém linh hoạt sẽ có nguy cơ lấn
át những tác động tích cực mà một chính sách tỷ giá cố định tương đối tạo ra.
Dưới góc nhìn của các chuyên gia kinh tế, Việt Nam cần tăng cường hơn
nữa những biện pháp trong chính sách tỷ giá để nó thực sự phát huy vai trò đối
với vấn đề kiềm chế lạm phát.
3.1: TĂNG CƯỜNG LINH HỌAT TỶ GIÁ HỐI ĐOÁI.
Hiện tại, biên độ dao động tỷ giá mới ở Việt Nam chỉ là ±2% . Theo ý kiến
của các chuyên gia, mức biên độ này vẫn còn tương đối hẹp và chưa thật sự hiệu
quả. Với tình hình Việt Nam hiện nay, NHTW nên nới rộng biên độ dao động
của VNĐ, chiều rộng khung này có thể ở mức 10%. Tuy nhiên, do tình hình lạm
phát tăng cao nên biên pháp này chủ yếu nhằm mục đích nâng giá VNĐ trong
ngắn hạn. Giảm việc phát hành VNĐ làm cho cơ chế thị trường tác động nhiều
hơn nữa vào tỷ giá.
Cụ thể, việc nâng giá VNĐ sẽ mang lại những lợi ích sau :
Việc VNĐ tăng giá tương đối so với USD sẽ làm giảm giá nguyên vật liệu
nhập khẩu, giảm sức ép lên lạm phát từ những mặt hàng này. Một điều băn
khoăn lớn nhất hiện nay là tại sao chúng ta làm ra lương thực, thực phẩm mà giá
lại tăng cao như vậy. Nguyên nhân chính là do giá đầu vào như: xăng dầu,
SVTH: Nhóm 06 - Lớp: CDTN13TH Trang 17
Tiểu luận môn Nghiệp Vụ ngân hàng trung ương GVHD: Lê Thùy Linh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status