tích hợp giáo dục hướng nghiệp trong dạy học di truyền học (sinh học 12) - Pdf 22

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

NGUYỄN THỊ HỒNG HOA

TÍCH HỢP GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP TRONG
DẠY HỌC DI TRUYỀN HỌC (SINH HỌC 12)

LUẬN VĂN THẠC SỸ GIÁO DỤC HỌC

DẠY HỌC DI TRUYỀN HỌC (SINH HỌC 12)

Chuyên ngành: Lí luận và phương pháp dạy học môn Sinh học
Mã số: 60.14.10 LUẬN VĂN THẠC SỸ GIÁO DỤC HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS.NGUYỄN NHƯ ẤT Thái Nguyên – 2010
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS.Nguyễn Như Ất đã nhiệt

Công nghệ tế bào
GD
Giáo dục
GDHN
Giáo dục hướng nghiệp
GV
Giáo viên
HĐH
Hiện đại hoá
HS
Học sinh
SGK
Sách giáo khoa
SH
Sinh học
THPT
Trung học phổ thông
TN
Thực nghiệm
TNSP
Thực nghiệm sư phạm
XHCN
Xã hội chủ nghĩa

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU …………………………………………………………………. 1
Chương 1. TỔNG QUAN VỀ GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP VÀ GDHN
THÔNG QUA BỘ MÔN SINH HỌC Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG

nhiều ngành nghề, nhiều lĩnh vực, nhiều trình độ khác nhau, đặc biệt là nguồn
nhân lực chất lƣợng cao. Thực trạng này đã tồn tại khá lâu và giờ đây đang
trở thành lực cản chính cho sự nghiệp CNH – HĐH đất nƣớc. Có nhiều
nguyên nhân dẫn đến sự thiếu hụt nguồn nhân lực, chẳng hạn: lao động không
qua đào tạo; sự cách biệt giữa chất lƣợng nguồn nhân lực cung ứng so với nhu
cầu sử dụng lao động của doanh nghiệp… Nhƣng nguyên nhân cơ bản là
chúng ta chƣa tiến hành tốt đƣợc khâu tổ chức hoạt động chuẩn bị cho thanh
niên nói chung và cho HS phổ thông nói riêng tham gia đào tạo các nghề theo
nhu cầu nguồn nhân lực. Trong phạm vi giáo dục phổ thông đó chính là hoạt
động GDHN trong đó có GDHN thông qua dạy học các môn khoa học cơ bản
nhƣ với môn Sinh học chẳng hạn. Tuy nhiên vấn đề tích hợp GDHN thông
qua môn Sinh học nhƣ thế nào là hợp lý cho đến nay vẫn còn chƣa đƣợc
nghiên cứu đáng kể.
* Xuất phát từ yêu cầu giáo dục hƣớng nghiệp ở trƣờng phổ thông
GDHN là một nhiệm vụ quan trọng trong nhà trƣờng phổ thông, thực
hiện chức năng tạo cơ sở cho phân luồng HS sau khi tốt nghiệp. Nghị quyết
số 40/2000/QH 10 ngày 09-12-2000 của Quốc hội về đổi mới chƣơng trình
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 2
giáo dục phổ thông đã khẳng định mục tiêu đổi mới chƣơng trình giáo dục
phổ thông là xây dựng nội dung chƣơng trình, phƣơng pháp giáo dục, SGK
phổ thông nhằm phát triển chất lƣợng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng
yêu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ CNH – HĐH đất nƣớc, phù hợp
thực tiễn và truyền thống Việt Nam, tiếp cận trình độ giáo dục phổ thông ở
các nƣớc trong khu vực và trên thế giới.
* Xuất phát từ đặc điểm bộ môn Sinh học
Sinh học là môn học mà nội dung kiến thức có liên quan tới hàng loạt
nghề trong nhiều lĩnh vực nhƣ: Nông, lâm, ngƣ nghiệp; công nghiệp; y, dƣợc
học; bảo vệ môi trƣờng… Thông qua các bài học, GV có điều kiện giúp HS
làm quen với công việc của những ngƣời làm các nghề có liên quan đến các
đối tƣợng sống nhƣ: nghề trồng cây lƣơng thực, cây công nghiệp; nghề chăn

5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
* Khảo sát thực trạng giáo dục hƣớng nghiệp ở trƣờng phổ thông.
* Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của tích hợp giáo dục hƣớng
nghiệp trong dạy học Di truyền học (Sinh học 12).
* Đề xuất các biện pháp tích hợp giáo dục hƣớng nghiệp trong dạy học Di
truyền học (Sinh học 12).
* Thực nghiệm sƣ phạm để kiểm chứng tính hiệu quả và tính khả thi của
những biện pháp đã đề xuất.
6. PHƢƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
* Phƣơng pháp nghiên cứu lí thuyết
Nghiên cứu các tài liệu, văn bản có liên quan đến đề tài để tổng quan tình
hình nghiên cứu và xây dựng cơ sở lí luận của tích hợp giáo dục hƣớng
nghiệp trong dạy học Di truyền học (Sinh học 12).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 4
* Phƣơng pháp điều tra thực trạng
Thiết kế và sử dụng phiếu điều tra để tìm hiểu tình hình giáo dục hƣớng
nghiệp trong dạy học ở trƣờng THPT.
* Phƣơng pháp thực nghiệm sƣ phạm
Thực nghiệm sƣ phạm ở trƣờng THPT nhằm kiểm chứng giả thuyết khoa
học của đề tài.
* Phƣơng pháp thống kê toán học
Các số liệu thu đƣợc trong thực nghiệm sƣ phạm đƣợc xử lý thống kê
bằng phần mềm Microsoft Excel, xác định các tham số đặc trƣng mang tính
khách quan.
7. CẤU TRÚC LUẬN VĂN.
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn gồm 3 chƣơng:
Chƣơng 1: Tổng quan về giáo dục hƣớng nghiệp và giáo dục hƣớng
nghiệp thông qua bộ môn Sinh học ở trƣờng phổ thông.
Chƣơng 2: Tích hợp giáo dục hƣớng nghiệp trong dạy học Di truyền
học (Sinh học 12) ở trƣờngTHPT.

lực) nội dung theo ngành và loại lao động giúp đỡ lựa chọn hợp lí ngành
nghề [20, tr.458].
Theo từ điển giáo dục học: “Hƣớng nghiệp là hệ thống các biện pháp
giúp đỡ học sinh làm quen tìm hiểu nghề, lựa chọn cân nhắc nghề nghiệp với
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 6
nguyện vọng, năng lực, sở trƣờng của mỗi ngƣời. Với nhu cầu và điều kiện
thực tế khách quan của xã hội” [13, tr.209].
Xét ở bình diện khoa học lao động: Hƣớng nghiệp là hình thức giám
định lao động có tính chất chẩn đoán. Đó là quá trình xác lập sự phù hợp nghề
của từng ngƣời cụ thể dựa trên cơ sở xác định sự tƣơng ứng giữa những đặc
điểm tâm – sinh lí của họ với những yêu cầu của một nghề nào đó đối với
ngƣời lao động [8].
Xét trên bình diện xã hội: Toàn bộ các nhà máy, xí nghiệp, công
trƣờng, nông trƣờng, các cơ quan quản lí kinh tế và quản lí nhà nƣớc, các cơ
quan của những đoàn thể chính trị và xã hội đều cần đến những ngƣời có
năng lực và những phẩm chất nhân cách phù hợp. Để chọn đƣợc ngƣời theo
đúng những tiêu chuẩn đã định thì những cơ quan, tổ chức nói trên phải có
nhiệm vụ giới thiệu cho thế hệ trẻ hiểu đƣợc nội dung, tính chất, đặc điểm,
yêu cầu công việc của mình.
Xét trên bình diện nhà trƣờng phổ thông: “Hƣớng nghiệp là sự tác động
của một hệ thống những biện pháp tác động của nhà trƣờng, gia đình và xã hội,
trong đó nhà trƣờng đóng vai trò chủ đạo nhằm hƣớng dẫn và chuẩn bị cho thế
hệ trẻ sẵn sàng đi vào lao động ở các ngành nghề, tại những nơi xã hội đang
cần phát triển, đồng thời lại phù hợp với hứng thú, năng lực cá nhân” [14].
Công tác hƣớng nghiệp của trƣờng phổ thông chỉ là một bộ phận của
công tác hƣớng nghiệp của toàn xã hội. Công tác hƣớng nghiệp trong
trƣờng học phải thống nhất với công tác hƣớng nghiệp của xã hội. Bởi vậy
công tác hƣớng nghiệp không thể có hiệu quả nếu chỉ nhà trƣờng tiến hành
một cách biệt lập.
Tháng 10/1980, tại Hội nghị lần thứ 9 những ngƣời đứng đầu cơ quan

Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 8
cảnh thƣờng xuyên thay đổi của nền sản xuất hiện đại và nhanh chóng nắm
vững nghề nghiệp khi kết thúc quá trình học ở trƣờng” [2].
Giáo dục kĩ thuật tổng hợp là một yêu cầu có tính nguyên tắc đối với sự
nghiệp giáo dục nhằm đào tạo con ngƣời lao động mới XHCN. Nó có tác
dụng to lớn trong việc hình thành và phát triển nhân cách toàn diện cho học
sinh. Do đó cần đƣợc thực hiện trong tất cả các bậc học, cấp học phổ thông
tuỳ theo điều kiện và hoàn cảnh cho phép. Hình thức tổ chức giáo dục kĩ thuật
tổng hợp chủ yếu là lồng ghép và tích hợp liên môn, ngoài ra có thể tổ chức
dạy nghề, tham gia lao động sản xuất, tham quan xí nghiệp, công trƣờng,
nông trƣờng, trang trại….
Có nhiều cách hiểu khác nhau về quán triệt quan điểm giáo dục kĩ thuật
tổng hợp trong dạy học môn Sinh học. Một số nhà phƣơng pháp cho rằng đó
là làm sáng tỏ những cơ sở sinh học của sản xuất nông nghiệp. Số khác lại
hiểu giáo dục kĩ thuật tổng hợp chính là sự phân tích sâu sắc những vấn đề lí
thuyết của sinh học. Số nữa lại hƣớng sự giáo dục kĩ thuật tổng hợp vào việc
tăng cƣờng các bài thực hành của học sinh trong vƣờn trƣờng, ruộng thực
hành, cơ sở sản xuất nông nghiệp, khu vực VAC [4].
Nhƣ vậy, nguyên tắc giáo dục kĩ thuật tổng hợp trong dạy học bộ môn
Sinh học ở trƣờng phổ thông có thể hiểu là trang bị cho HS những cơ sở lí
thuyết sinh học, giới thiệu cho các em những quy trình công nghệ thuộc các
lĩnh vực sản xuất mà đối tƣợng lao động là những cơ thể sống, tập dƣợt một
số kĩ năng thực hành ứng dụng lí thuyết và kĩ thuật vào đời sống, đặc biệt vào
sản xuất nông nghiệp, làm kinh tế gia đình theo hƣớng mô hình trang trại
nông, lâm, ngƣ nghiệp … Việc quán triệt quan điểm giáo dục kĩ thuật tổng
hợp không chỉ dừng lại ở sự trang bị cho HS những kiến thức lí thuyết mà còn
phải rèn luyện cho các em một số kĩ năng vận dụng vào thực tiễn lao động;
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 9
bồi dƣỡng tình cảm, thái độ đối với lao động thuộc lĩnh vực nghề nghiệp liên
quan đến thế giới sống.

Thuật ngữ “Hƣớng nghiệp” do giáo sƣ F.Parson thuộc ĐH Tổng hợp
Garvared (Mỹ) đề cập lần đầu tiên vào năm 1908 ở Boston khi tổ chức hội
đồng nghề nghiệp nhằm giúp đỡ việc chọn nghề cho ngƣời lao động. Vào
đầu thế kỉ XX, ở Mỹ, Anh, Pháp, Thụy Điển đã xuất hiện các cơ sở dịch vụ
hƣớng nghiệp.
Ở Nga, cuốn sách hƣớng nghiệp “Lựa chọn khoa và điểm qua chƣơng
trình đại học tổng hợp” của tác giả B.F.Kapeev đƣợc xuất bản lần đầu tiên
vào năm 1897. Trong cuốn sách này có nêu rõ ý nghĩa về lựa chọn nghề khi
thi vào đại học nhằm giúp cho học sinh có những thông tin rõ ràng trƣớc chọn
trƣờng, khoa thi.
Năm 1927 ở Lêningrat đã tổ chức hƣớng nghiệp với mục đích giúp cho
tuổi trẻ và cha mẹ các em làm quen với thế giới nghề nghiệp. Năm 1930 ở
Matxcơva đã thành lập Phòng thí nghiệm Trung ƣơng về tƣ vấn nghề và lựa
chọn nghề trực thuộc Trung ƣơng đoàn thanh niên Cộng sản Lênin, trong đó
Phòng thí nghiệm đóng vai trò quan trọng trong việc nghiên cứu, tổng kết và
phổ biến những kinh nghiệm tiêu biểu của những cơ quan tƣ vấn nghề, đặc
biệt là việc chọn nghề của tuổi trẻ trong các trƣờng phổ thông kĩ thuật. Hoạt
động tƣ vấn sẽ giúp tuổi trẻ hiểu rằng muốn cho đất nƣớc ổn định và phồn
vinh không chỉ cần sự đóng góp sức lực và khả năng của mình, mà hơn thế
nữa giúp mỗi ngƣời lựa chọn cho mình một vị trí trong cơ cấu nghề nghiệp xã
hội phù hợp với đặc điểm tâm lí và năng lực về kĩ năng, kĩ xảo lao động nghề
nghiệp. Nói cách khác, tính đa dạng, nhiều vẻ của thế giới nghề nghiệp và
cùng với nó là sự phức tạp của những đặc điểm tâm sinh lí của con ngƣời phải
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 11
đƣợc xét tới trong hoạt động lựa chọn nghề của tuổi trẻ. Dựa trên quan điểm
của C.Mác, V.I.Lênin và của những nhà khoa học giáo dục khi xem xét vấn
đề hƣớng nghiệp đối với sự hình thành nhân cách và ảnh hƣởng của nó tới các
hoạt động sản xuất xã hội, chúng ta có thể thấy đƣợc nếu sớm thực hiện
GDHN cho thế hệ trẻ thì đó sẽ là cơ sở để giúp cho họ chọn nghề đúng đắn,
có sự phù hợp giữa năng lực, sở thích cá nhân và nhu cầu xã hội [16].

lớp 11 đƣợc học trƣờng phổ thông hệ học lên đại học. Xu hƣớng hiện đại hoá
ở đây là tạo điều kiện cho HS có thể học nghề ngay từ khi đang học phổ
thông, cung cấp hệ thống kiến thức khoa học gắn với hƣớng đào tạo nghề một
cách linh hoạt, giảm bớt tính hàn lâm của bậc học trung học hoàn chỉnh [9].
Ở Ba Lan, trong báo cáo về chiến lƣợc hiện đại hoá “Con đƣờng tới
2010” của Uỷ ban dự báo “Ba Lan trong thế kỉ XXI” thuộc chủ tịch đoàn viện
hàn lâm Ba Lan đã xác định một số trong các nguyên tắc chỉ đạo cải cách giáo
dục gồm: Nguyên tắc phân nhánh rộng thay cho hƣớng phân hoá hẹp trƣớc
đây vì phân hoá rộng đảm bảo thay đổi nhanh chóng trình độ lành nghề cho
ngƣời lao động và đào tạo cán bộ. Nguyên tắc phát triển mọi mặt trí tuệ, tâm
lí, nghề nghiệp - xã hội, thể chất của học sinh đảm bảo mục tiêu con ngƣời
phát triển toàn diện. Nguyên tắc giáo dục thông qua lao động và giáo dục lao
động thực hiện thông qua quá trình lao động, giáo dục kĩ thuật tổng hợp tiếp
nhận tri thức và kĩ năng phù hợp với các giai đoạn và hình thức học tập, công
tác hƣớng học và hƣớng nghiệp [9].
Ở Australia GDHN, lập nghiệp nhằm phát triển những kĩ năng, kiến
thức và thái độ thông qua một chƣơng trình học tập đƣợc kế hoạch hoá. Việc
giáo dục này là cơ sở để HS biết ra những quyết định về việc lựa chọn có tính
hƣớng nghiệp, lập nghiệp trong và sau khi học ở trƣờng, tham gia có hiệu quả
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 13
vào đời sống lao động. Những yếu tố của GDHN, lập nghiệp đƣợc thể hiện
thông qua những nhiệm vụ của HS. Đó là: học về bản thân trong mối quan hệ
với lao động; học về thế giới việc làm; học về làm kế hoạch và ra quyết định
hƣớng nghiệp, lập nghiệp; ứng dụng những quyết định về hƣớng nghiệp, lập
nghiệp và quản lí sự dịch chuyển lao động.
Tại châu Á, nền giáo dục của nhiều quốc gia cũng dành nhiều sự quan
tâm thích đáng đến GDHN. Nhật Bản là nƣớc sớm quan tâm, giải quyết tốt
mối quan hệ giữa học vấn văn hoá phổ thông với kiến thức và kĩ năng lao
động - nghề nghiệp ở tất cả các bậc học. Có khoảng 27,9% số trƣờng THPT
vừa dạy - học văn hoá phổ thông vừa dạy - học các môn học kĩ thuật thuộc

đời của mọi ngƣời”. “Mọi ngƣời cần nhớ rằng, giáo dục phổ thông không chỉ
nhằm dạy kiến thức khoa học tự nhiên và xã hội mà còn nhằm cái đích dạy
các nghề có tầm quan trọng rất thiết thực hiện nay ở nƣớc ta” [11].
Trong nghiên cứu về GDHN của Việt Nam, Phạm Tất Dong là ngƣời
có đóng góp rất lớn. Ông đã nghiên cứu về hứng thú nghề nghiệp, những vấn
đề về nội dung và phƣơng pháp hƣớng nghiệp cho HS, thanh niên. Với hƣớng
nghiên cứu “Những vấn đề mới đặt ra trƣớc yêu cầu nâng cao hiệu quả công
tác hƣớng nghiệp hiện nay” [7], Phạm Tất Dong đã đề nghị thiết lập một hệ
thống GDHN từ bậc tiểu học trở lên với thời lƣợng tăng dần ở các năm trên.
Càng học cao thì sinh hoạt hƣớng nghiệp càng nhiều hơn chứ không chỉ là 9
buổi trong cả năm học nhƣ hiện nay. Tác giả cũng đề nghị giao nhiệm vụ
GDHN cho các GV công nghệ, đổi mới chƣơng trình GDHN, kết hợp các
buổi tham quan sản xuất, giao lƣu với những nhân vật tiêu biểu trong hoạt
động sản xuất, đề nghị huy động cha mẹ HS, các tổ chức kinh tế - xã hội cùng
tham gia GDHN cho học sinh phổ thông.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 15
Một hƣớng khác do các tác giả Đặng Danh Ánh, Nguyễn Viết Sự cùng
các cộng sự khác nghiên cứu là: nghiên cứu động cơ chọn nghề, hứng thú
chọn nghề và khả năng thích ứng nghề của HS học nghề, xây dựng phòng
truyền thống hƣớng nghiệp trong trƣờng nghề, đặc biệt nghiên cứu tâm, sinh
lí, nội dung lao động của một số nghề nhằm tạo ra tài liệu hƣớng nghiệp cho
trƣờng phổ thông thể hiện ở cuốn “Tuổi trẻ và nghề nghiệp” tập 1 và tập 2.
Tác giả Nguyễn Nhƣ Ất đã nghiên cứu “Vấn đề phƣơng pháp luận xây
dựng nội dung GDHN trong trƣờng phổ thông Việt Nam” và “Vấn đề giáo
dục tổng hợp ở trƣờng phổ thông: tƣ tƣởng, lịch sử và quan niệm hiện nay”.
Trong đó tác giả đã xác định cơ sở triết học của giáo dục Việt Nam nói chung
trong đó có GDHN và vấn đề giáo dục kĩ thuật tổng hợp trƣờng phổ thông
dƣới góc độ tiếp cận tƣ tƣởng, lịch sử phát triển, quan niệm hiện đại [2], [3].
Phạm Tất Dong, Đặng Danh Ánh, Nguyễn Đức Trí, Nguyễn Quang
Huỳnh, Nguyễn Văn Hộ, Nguyễn Thị Thanh Huyền cũng đã đề cập đến một

phổ thông. Trong những năm 1983 – 1996, GDHN của nƣớc ta đã đạt đƣợc
một số thành tựu quan trọng, đƣợc coi là thời kì thịnh vƣợng nhất. Nhƣng từ
năm 1997 trở lại đây, công tác GDHN cho HS phổ thông đã bị coi nhẹ, ảnh
hƣởng không nhỏ đến sự phát triển nguồn nhân lực của đất nƣớc [21].
Từ những năm đầu của thế kỷ 21, GDHN và dạy nghề phổ thông đƣợc
quan tâm hơn. Hoạt động GDHN và dạy nghề phổ thông đã đƣợc đƣa vào
chƣơng trình giáo dục phổ thông từ lớp 9 THCS đến lớp 12 THPT. Tuy nhiên,
việc phân luồng vẫn chƣa đạt đƣợc kết quả nhƣ mong muốn. Một trong những
lí do dẫn đến tình trạng trên là chúng ta mới định hƣớng chọn trƣờng mà chƣa
định hƣớng chọn nghề. Định hƣớng nghề nghiệp cho thế hệ trẻ có ý nghĩa rất
lớn trong quyết định chất lƣợng nguồn nhân lực của mỗi quốc gia. Định
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 17
hƣớng nghề nghiệp chính xác sẽ giúp cá nhân phát huy đƣợc tối đa năng lực
của bản thân, hứng thú với công việc, vì thế hiệu quả công việc của họ đƣợc
nâng cao. Đồng thời định hƣớng nghề nghiệp đúng đắn cũng giúp cá nhân đáp
ứng đúng nhu cầu xã hội về nguồn nhân lực, góp phần giảm thiểu tình trạng
mất cân đối trong nguồn nhân lực ở nƣớc ta hiện nay.
Học sinh THPT là tiềm năng quan trọng của nguồn nhân lực. Hiện nay
ở nƣớc ta công tác GDHN và tƣ vấn hƣớng nghiệp cho HS chƣa đƣợc coi
trọng một cách đúng mức nên dẫn đến tình trạng các chủ trƣơng thì có, nhƣng
thực tiễn hoạt động lại yếu và kém hiệu quả.
Do các điều kiện kinh tế và lịch sử, công tác tƣ vấn hƣớng nghiệp tại
Việt Nam và một số nƣớc trong khu vực Đông Nam Á vẫn còn tụt hậu so với
các nƣớc trên thế giới, đặc biệt là so với các nƣớc phát triển nhƣ Pháp,
Australia, Mỹ… Một trong những nguyên nhân cơ bản của tình trạng này là
hiện nay chúng ta đang thiếu một khung chính sách về GDHN, cơ sở vật chất
dành cho hƣớng nghiệp còn rất hạn chế, đặc biệt là chƣa có đội ngũ những
ngƣời làm công tác hƣớng nghiệp đƣợc đào tạo bài bản. Hàng năm, Trung
tâm lao động hƣớng nghiệp đƣợc bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức lớp tập
huấn tại các tỉnh, thành phố khoảng 3 – 4 ngày. Sau đó những học viên này về

thế kỉ XX đã trở nên lạc hậu, công tác GDHN bị coi nhẹ dẫn đến mất cân đối
trong phân luồng học sinh và đào tạo nghề. Đề tài khoa học về chính sách
giáo dục và đào tạo do văn phòng Chính phủ quản lí “Thực trạng, giải pháp
phát triển và nâng cao hiệu quả công tác hƣớng nghiệp trong trƣờng phổ
thông” do tập thể các tác giả: Phạm Tất Dong, Vũ Văn Tảo, Nguyễn Nhƣ Ất,
Phạm Huy Thụ, Lƣu Đình Mạc thực hiện nhằm tìm hiểu về thực trạng và đề
xuất các giải pháp cho công tác GDHN. Trong đề tài, các tác giả đã nghiên
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên 19
cứu và đánh giá một cách hệ thống về thực trạng công tác GDHN trong nhà
trƣờng phổ thông, chỉ ra những nguyên nhân dẫn tới những khó khăn của hoạt
động hƣớng nghiệp trong trƣờng phổ thông và đề xuất những biện pháp nhằm
phát triển và nâng cao hiệu quả của công tác hƣớng nghiệp trong tình hình
hiện nay [9].
Riêng về mặt thực tiễn hoạt động GDHN thông qua dạy học các môn
khoa học cơ bản ở trƣờng phổ thông trong đó có môn Sinh học lại là khâu
yếu. Thực trạng này có nhiều nguyên nhân từ cấp quản lí nhà trƣờng, đến giáo
viên và cả học trò. Điều này chúng tôi đã tìm hiểu và trình bày sau đây.
1.3. Điều tra tình hình GDHN ở trƣờng phổ thông trung học
Trƣớc khi tiến hành thực nghiệm, chúng tôi đã tiến hành điều tra bằng
phiếu “Điều tra xã hội học” đối với 492 học sinh lớp 12 tham gia thực
nghiệm. Kết quả thu đƣợc nhƣ sau:
NỘI DUNG I
Với câu hỏi 1: “Thái độ học tập môn Sinh học của bản thân em”. Kết
quả điều tra thu đƣợc đƣợc thể hiện trong bảng 1.1
Bảng 1.1: Kết quả điều tra thái độ học tập môn Sinh học của học sinh
Mức độ
Số lƣợng
%
Thích
225

NỘI DUNG II
Với câu hỏi 1: “Hƣớng đi chủ yếu của em sau khi tốt nghiệp THPT”.
Có tới 436/492 HS ứng với 88,62% chọn hƣớng đi chủ yếu là dự thi tuyển
vào đại học, cao đẳng. Số HS còn lại (11,38%) chọn hƣớng đi chủ yếu là dự,
thi tuyển vào trung cấp nghề. Đặc biệt không em nào chọn hƣớng đi chủ yếu
là tham gia lao động sản xuất tại địa phƣơng.
Với câu hỏi 2: “Nghề mà em dự định chọn là nghề gì?”. Các em tự trả
lời về nghề mà các em sẽ chọn trong tƣơng lai. Tuy nhiên do hạn chế về mặt
thời gian nên chúng tôi chỉ phân loại câu trả lời ở mức độ hiểu khái niệm
“Nghề” bằng cách phân loại “Hiểu đúng” hay “Sai” khái niệm nghề. Tiêu chí


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status