Nghiên cứu biện pháp tích hợp giáo dục hướng nghiệp trong dạy học môn Công nghệ (phần kỹ thuật Công nghiệp) ở THPT - Pdf 34

LỜI CẢM ƠN

Tác giả xin tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới cô giáo ThS. Nhữ Thị Việt
Hoa, người thầy đã tận tình chỉ bảo và hướng dẫn tác giả trong suốt thời gian thực
hiện đề tài.
Các thầy cô giáo khoa Sư phạm Kỹ thuật, bộ môn Phương pháp dạy học đã
giúp đỡ và tạo điều kiện để tác giả học, tập nghiên cứu và hoàn thành khóa luận của
mình.
Tác giả cũng xin cảm ơn ban giám hiệu, các thầy, cô giáo và
các em học sinh lớp 11 trường THPT Lê Quý Đôn – Hà Đông – Hà
Nội, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tác giả điều tra, khảo sát,
thực nghiệm để đánh giá tính khả thi và hiểu quả của khóa luận.
Do điều kiện thời gian và phạm vi nghiên cứu có hạn, khóa luận
không tránh khỏi thiếu sót. Kính mong các nhà khoa học, các thầy, cô
giáo và các bạn đồng nghiệp thông cảm, giúp đỡ và đưa ra những chỉ
dẫn quý báu để khóa luận hoàn thiện hơn.
Hà Nội, ngày 25 tháng 4 năm 2014
Tác giả

Phạm Thị Thu Hà

1


PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Nghị quyết hội nghị lần thứ II, Ban chấp hành Trung ương
Đảng khóa VIII đã nhấn mạnh: “Muốn tiến hành Công nghiệp
hóa – Hiện đại hóa thắng lợi phải phát triển mạnh giáo dục
đào tạo và phát huy nguồn lực con người – yếu tố cơ bản của
sự phát triển nhanh bền vững”

riêng mình. Nghiên cứu này đi sâu tìm hiểu và phân tích tính
hướng nghiệp trong bộ môn Công nghệ ở trường THPT (phần
kỹ thuật Công nghiệp), qua đó xây dựng các biện pháp tích
hợp hướng nghiệp phù hợp cho từng phần nội dung môn học.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu biện pháp tích hợp giáo dục hướng nghiệp
trong dạy học môn Công nghệ (phần kỹ thuật Công nghiệp) ở
THPT, qua đó góp phần nâng cao tính hứng thú lựa chọn nghề
nghiệp của học sinh, nâng cao chất lượng dạy học.

3


3. KHÁCH THỂ, ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Quá trình dạy học môn Công nghệ (phần kỹ thuật Công
nghiệp) ở trường THPT.
1.1.Đối tượng nghiên cứu
Các biện pháp tích hợp giáo dục hướng nghiệp trong dạy
học môn Công nghệ (phần kỹ thuật Công nghiệp) ở trường
THPT.
4. GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Nếu tích hợp giáo dục hướng nghiệp trong dạy học môn
Công nghệ (phần kỹ thuật Công nghiệp) sẽ tạo ra hứng thú
lựa chọn nghề nghiệp cho học sinh, qua đó góp phần nâng
cao chất lượng dạy học môn học này ở trường phổ thông.
5. NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Khảo sát thực trạng giáo dục hướng nghiệp ở trường
THPT.
- Nghiên cứu cơ sở lý thuyết của tích hợp giáo dục hướng
nghiệp trong dạy học môn Công nghệ ở trường THPT.


PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIÁO DỤC
HƯỚNG NGHIỆP TRONG DẠY HỌC

5


1. TỔNG QUAN VỀ GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP
1.1.Sơ lược lịch sử về giáo dục hướng nghiệp trên thế
giới
Quan điểm hướng nghiệp đã có từ rất lâu đời điển hình là
quan điểm của Platon - một triết gia Hi Lạp thời cổ đại và Các
Mác:
- Platon: Khi tạo ra con người, ông trời đã nhào nặn họ
với vàng, bạc, đồng. Người “vàng” là những người làm khoa
học, nghệ thuật, làm quản lí. Người “bạc” là những chiến binh.
Người “đồng” là thợ thủ công, nông dân và nô lệ.[1]
- Các Mác: Tiếp theo sự phân chia, tách biệt những thao
tác khác nhau trong lao động sản xuất, người công nhân cũng
được phân chia, phân hóa, nhóm họp theo những năng lực mà
họ có được, nhờ đó mà những đặc điểm tự nhiên của con
người công nhân đã được hình thành dựa trên mảnh đất tự
nhiên của sự phân công lao động và về mặt khác, công trường
thủ công sẽ phát triển lực lượng lao động theo chính bản chất
tự nhiên vốn có của mình chỉ theo một chức năng chuyên
biệt.[3]
Vào năm 1849, ở Pháp đã xuất hiện cuốn sách “hướng
dẫn lựa chọn nghề”.
Năm 1883 ở Mĩ, nhà tâm lý học Ph. Galton đã trình bày

* Giáo dục kỹ thuật tổng hợp – hướng nghiệp ở nước Nga
hậu Xô – Viết
Chương trình giáo dục Công nghệ tại trường phổ thông
Liên bang Nga hiện nay, bao gồm những nội dung có tính chất
giáo dục kỹ thuật tổng hợp, không nhằm đào tạo một nghề cụ
thể mà theo nhóm Công nghệ học gắn sản xuất với kinh
doanh, mang tính hướng nghiệp. Nhờ thông qua giáo dục
7


Công nghệ học cụ thể, học sinh được làm quen, thử sức với
từng loại hình sản xuất, đồng thời chú ý vai trò của Công nghệ
thông tin được sử dụng trong nền kinh tế hiện đại.
* Xu thế cải cách các trường học ở Châu Âu cuối thế kỷ
XX gắn với hướng nghiệp và đào tạo nghề
Vào những năm 70 – 80 thế kỷ trước, các nước Châu Âu
lần lượt tiến hành cải cách giáo dục từ cấu trúc tổ chức đến
nội dung, phương pháp giáo dục và giảng dạy, đáp ứng các
yêu cầu phát triển của xã hội công nghiệp dựa vào sự tiến bộ
vượt bậc của Khoa học – Công nghệ, nhất là Công nghệ thông
tin, kinh tế để đạt tới một số chuẩn mực chung về trình độ
giáo dục phổ thông và giáo dục nghề và hướng nghiệp tại
trường phổ thông như:
- Tại Pháp: Giảm bớt tính hàn lâm, tăng cường tỉ trọng
kiến thức có ý nghĩa thực dụng, ý nghĩa hướng nghiệp trọng
nhà trường.
- Tại Đức: Tạo điều kiện cho học sinh có thể học nghề
ngay khi đang học phổ thông, cung cấp hệ thống và kiến thức
khoa học gắn với đào tạo nghề một cách linh hoạt, giảm bớt
tính hàn lâm của bậc trung học hoàn chỉnh.

đỡ học sinh lớp 11 và lớp 12 chuẩn bị hồ sơ. Họ không tham
gia giảng dạy bất cứ môn học nào khác. Hầu hết các trường ở
bang Pennsylvania nói riêng và nhiều bang khác ở Mĩ nói
chung, trung bình một tuần sẽ có một tiết học với thầy cô
counselor. Trong tiết học này, họ sẽ đề cập từng bước cụ thể
hơn. Ví dụ như: Cách lên mạng tra thông tin, nguồn ở đâu thì
chính xác, hoặc cần phải làm những gì, tránh những điều gì
trong chuyến đi thăm quan trường…

9


Công tác hướng nghiệp cho học sinh tại Mĩ được diễn ra
(rải) từ đầu năm lớp 11 đến cuối năm lớp 12.
Nhà trường thường xuyên tổ chức các buổi tọa đàm, mời
những vị khách có kinh nghiệm, nổi tiếng đến nói chuyện với
học sinh ở từng lĩnh vực khác nhau. Học sinh có thể đăng ký
(hoặc là không) tham gia nhiều buổi tọa đàm như vậy. Ngoài
ra, các thầy cô giáo cũng thường xuyên liên hệ với các nguồn
khác (từ trường ĐH, các công ty, tổ chức...) để thông báo và
tạo cơ hội cho học sinh đến tham dự các sự kiện giống như
một thành viên chính thức của đơn vị đó.[7]
* Giáo dục hướng nghiệp tại Hàn Quốc
Trong các loại hình trường phổ thông, nội dung giảng dạy
kỹ thuật - lao động là bộ phận cấu thành quan trọng trong
chương trình giáo dục. Hết cấp II học sinh sẽ đi theo 2 luồng
chính: phổ thông và chuyên nghiệp. các trường kỹ thuật nghề
nghiệp tuyển sinh trước rồi mới chọn học sinh theo luồng phổ
thông.[8]
* Chuẩn bị nguồn nhân lực và tinh thần hướng nghiệp ở

nước, tổ tiên ta đã dành nhiều công sức phát triển nền giáo
dục dân tộc. Cơ sở giáo dục đầu tiên của nhà nước phong kiến
Việt Nam (được ghi nhận trong sử sách) là Quốc Tử Giám
Thăng Long, do vua Lý Nhân Tông cho thành lập vào năm
1076.[6]
Hơn 1000 năm Bắc thuộc, rồi các cuộc đấu tranh giải
phóng dân tộc liên tục diễn ra. Phải nói nền giáo dục nước
nhà chịu sự chi phối rất lớn. Nhưng không phải thế mà giáo
dục không được chú trọng. Sử sách có ghi chép, Năm 1471
(đời vua Lê Thánh Tông), số quan lại có phẩm tước là 5370,
riêng ở triều đình (nhà nước trung ương) là 2755, phần lớn
11


được lựa chọn qua thi cử. Các triều đại tiếp theo, việc thi cử
vẫn được duy trì và phát triển với quy mô lớn hơn, kể cả trong
thời gian Trịnh - Nguyễn phân tranh. Có thể thấy giáo dục
đóng vai trò quan trọng đối với nguyên khí của quốc gia lúc
này. Xong trong giai đoạn này chưa chú tâm đến việc giáo dục
hướng nghiệp.
Sau khi cách mạng tháng 8 thành công, trang lịch sử mới
được mở ra và hơn bao giờ hết giáo dục lúc này rất được coi
trọng, từ việc phân cấp phân ngành học lại, có các hình thức
học khác nhau. Đảng và Chính phủ bắt đầu quan tâm đến
phân ngành học, học theo nhu cầu theo thực tế của xã hội.
Tuy nhiên việc thực hiện không mang lại hiệu quả. Phải đến
khi đất nước bước sang nền kinh tế thị trường với sự đa dạng
về ngành nghề và đòi hỏi cao về chất lượng nguồn nhân lực
giáo dục hướng nghiệp mới thực sự nóng lên.
Chính phủ Việt Nam đã coi trọng công tác hướng nghiệp

Nam đã làm cho những triết lý giáo dục hướng nghiệp trước
đây không còn phù hợp nữa.
Như vậy, phải nghiên cứu đổi mới toàn diện công tác
giáo dục lao động

hướng nghiệp cho học sinh phổ thông.

Trong đó, trước hết phải nghiên cứu cách tiếp cận phương
pháp luận để xây dựng nội dung mới của giáo dục hướng
nghiệp.
Từ sau khi thực hiện chính sách đổi mới (1985) đã có ba
xu hướng chuyển đổi ảnh hưởng nhiều đến quan hệ kinh tế xã hội, đó là: Quá trình chuyển từ xã hội bao cấp sang xã hội
dịch vụ; chuyển từ kinh tế kế hoạch hoá sang kinh tế thị
trường và chuyển từ kinh tế công – nông nghiệp sang kinh tế
tri thức.
13


Chuyển từ xã hội bao cấp sang xã hội dịch vụ đã ảnh
hưởng không nhỏ đến giáo dục hướng nghiệp phổ thông.
Những định hướng nghề nghiệp cứng nhắc trước đây, theo
kiểu phân công lao động một cách hành chính và máy móc
nay không còn phù hợp. Tuy nhiên, một bộ phận người dân
vẫn chưa chuyển hoá để theo kịp sự chuyển đổi này. Đặc biệt
vẫn còn những tâm lý chờ đợi hoặc thói quan liêu trong khâu
lựa chọn nghề nghiệp. Cần hình thành trong tư duy của học
sinh phổ thông thói quen lao động của một xã hội dịch vụ.
Sẵn sàng đáp ứng nhu cầu của xã hội một cách linh hoạt và
có trách nhiệm đối với công việc của mình.
Để lao động trong một xã hội dịch vụ, mỗi người lao

phát triển. Chính phủ Việt nam đã ý thức được vấn đề này,
mặc dù những hạn chế về kinh tế và giáo dục làm ảnh hướng
không nhỏ đến chiến lược phát triển của đất nước. Kiến thức
và đào tạo giờ đây là “tác nhân sản xuất” có tính quyết định
về chiến lược tương tự như các tư liệu sản xuất trong giai
đoạn công nghiệp hoá. Trong điều kiện như vậy, giáo dục
hướng nghiệp cần phải hướng học sinh vào những ngành
nghề sản xuất tạo ra những sản phẩm có hàm lượng tri thức
ngày càng cao hơn mà tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên, tiết
kiệm năng lượng và sức lao động. Rõ ràng, xu hướng này là xu
hướng nổi trội, để thực hiện được xu hướng này giáo dục
hướng nghiệp cần được định hướng phân hoá và đào tạo nhân
tài mũi nhọn.
Ba xu hướng chuyển đổi trên liên quan với nhau, tạo ra
một áp lực cho giáo dục, đặc biệt là giáo dục hướng nghiệp.
Các nhà xã hội học đã xác định trong tương lai mỗi người phải
tự biến mình thành một doanh nhân có đạo đức. Cá nhân phải
15


chịu trách nhiệm nhiều hơn về sự phát triển, trình độ nghề
nghiệp và cơ sở kinh tế của mình. Xây dựng, tiếp nhận và mở
rộng tính thị trường của từng người, tích cực tiếp thị sức lao
động của mình đã trở thành nhiệm vụ lâu dài của mỗi cá
nhân.
2. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CÓ LIÊN QUAN
2.1 Nghề nghiệp
Theo E.A. Klimov: “Nghề nghiệp là lĩnh vực sử dụng sức
lao động vật chất và tinh thần của con người một cách có giới
hạn cần thiết cho xã hội (do sự phân công lao động mà có),

quản lí kinh tế, quản lí nhà nước, các cơ quan của những đoàn
thể chính trị và xã hội… đều cần đến những người có năng lực
và những phẩm chất nhân cách phù hợp. Để chọn được người
theo đúng những tiêu chuẩn đã định bao gồm những chỉ số
khách quan, những cơ quan, những tổ chức nói trên có nhiệm
vụ làm cho thế hệ trẻ hiểu được nội dung, tính chất, đặc điểm,
điều kiện…công tác của mình, giúp cho họ tìm hiểu những
nghề nghiệp, chuyên môn mà mình cần tuyển chọn. Cuối
cùng những cơ quan, những cơ sở sản xuất phải tiến hành
tuyển chọn người trên cơ sở nguyện vọng và dự định nghề
nghiệp của họ.
Theo các nhà kinh tế học: “Hướng nghiệp là những mối
quan hệ kinh tế giúp cho từng thành viên xã hội phát triển
năng lực lao động và đưa họ vào một lĩnh vực hoạt động cụ
thể phù hợp với sự phân bổ lực lượng lao động xã hội”.
Theo các nhà tâm lý học cho rằng: “Hướng nghiệp là một
hệ thống các biện pháp tâm lí, sư phạm và y học giúp cho thế
hệ trẻ chọn nghề có tính đến nhu cầu xã hội và năng lực của
bản thân”.
17


Theo quan điểm của các nhà giáo dục học thì: “Hướng
nghiệp là một hoạt động của các tập thể sư phạm, của các
cán bộ thuộc các cơ quan, xí nghiệp khác nhau được tiến
hành với mục đích giúp học sinh chọn nghề đúng đắn phù hợp
với năng lực, thể lực và tâm lý của cá nhân với nhu cầu kinh
tế xã hội. Hướng nghiệp là một bộ phận cấu thành của quá
trình giáo dục – học tập trong nhà trường”.
Theo tác giả Phạm Tất Dong: “Hướng nghiệp là một hệ

nghề nghiệp trong tương lại trên cơ sở phân tích nghề phù
hợp nhu cầu của xã hội, phân tích đặc điểm tâm sinh lý, lực
học nguyên vọng của học sinh …
2.3. Giáo dục hướng nghiệp
Giáo dục hướng nghiệp là hệ thống những tác động sư
phạm giúp học sinh chọn được một nghề hợp lý.
Trong trường phổ thông, giáo dục hướng nghiệp là một
bộ phận của giáo dục toàn diện. Giáo dục hướng nghiệp là
hoạt động được thực hiện bởi giáo viên và học sinh, được tiến
hành qua nhiều hình thức giáo dục hướng nghiệp khác nhau
nhưng tập trung vào thực hiện mục đích giúp cho học sinh lựa
chọn nghề vừa đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội,
vừa phù hợp với nguyện vọng, năng lực, thể lực của học sinh
để các em phát huy được khả năng bản thân trong cuộc sống
nghề nghiệp.
Giáo dục hướng nghiệp trong trường phổ thông không
phải là nhằm quyết định nghề cho mỗi cá nhân mà là điều
chỉnh động cơ, hứng thú nghề nghiệp của thế hệ trẻ giúp các
em giải quyết việc chọn nghề cho tương lai một cách có ý
thức ngay khi còn ngồi trên ghế trường phổ thông.

19


3. ĐỔI MỚI GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP Ở VIỆT NAM
3.1 Đổi mới mục tiêu giáo dục hướng nghiệp
Những đòi hỏi của xã hội về việc cung cấp nguồn lao
động có trình độ, có tay nghề cao … đã tạo ra áp lực đối với
giáo dục phổ thông và giáo dục chuyên nghiệp ở Việt Nam.
Các nhà sử dụng nhân lực kỳ vọng vào ngành giáo dục đào

Một thực tế đã tồn tại nhiều năm là các doanh nghiệp
(kể cả trong nước và ngoài nước) cần những nhân lực có trình
độ cao, nhưng không chú ý đầu tư cho đào tạo. Ngược lại, các
cơ sở đào tạo do hạn hẹp về kinh phí và không xác định được
mục tiêu cụ thể nên đã tạo ra những sản phẩm đào tạo không
đủ chất lượng. Cần phải kết nối mục tiêu của các doanh
nghiệp với các cơ sở đào tạo. Chỉ khi nào hai lực lượng này
thống nhất được với nhau thì giáo dục nghề nghiệp mới thực
sự có kết quả.
3.3. Nội dung giáo dục hướng nghiệp
Trong nền kinh tế thị trường xuất hiện các mối quan hệ
sau:
- Mối quan hệ giữa các doanh nghiệp với chủ thể con
người.
- Mối quan hệ giữa quản lý và chủ thể kinh tế con người.
Mối quan hệ này làm nổi bật vai trò của cá nhân với tư cách là
người tiêu thụ và tiêu dùng.
- Mối quan hệ giữa nhà nước và chủ thể kinh tế con
người. Mối quan hệ này nhấn mạnh vai trò của cá nhân là
công dân và là người đóng thuế.
- Mối quan hệ giữa các đầu mối tích luỹ và sử dụng vốn
và chủ thể kinh tế con người, xác định vai trò cá nhân là chủ
nợ và người tiết kiệm.
21


Xét các mối quan hệ trên cho thấy, học sinh cần hiểu rõ
vai trò và vị trí của mình trong xã hội. Xét năng lực của bản
thân, với sự hỗ trợ của nhà trường học sinh sẽ tự xác định
được tương lai nghề nghiệp của mình. Tuy nhiên một nét nổi

người học.
- Hành động của người học cần được khuyến khích.
- Mục tiêu quá trình dạy học không phải là quyết định
khởi sự một sự nghiệp mà đặc biệt là chuẩn bị các quyết định
cá nhân.
- Đào tạo nghề phải lưu ý tới hai khía cạnh là thành công
và thất bại. Thành công và thất bại trong các nghề nghiệp
không thể dự báo trước một cách chắc chắn. Vì vậy hướng
nghiệp cần chuẩn bị trước cho thực tế để mỗi người có nghị
lực sẵn sàng vượt qua những khó khăn trong cuộc sống, đó là
giáo dục tính thích ứng.
- Không có quá trình đào tạo nào là hoàn thiện, nên
người học luôn có tâm lý tìm tòi bổ sung trong cuộc sống của
họ.
- Giáo dục hướng nghiệp không tách rời giáo dục đạo đức
trong sản xuất và kinh doanh.
4. GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP TRONG DẠY HỌC
4.1 Vai trò của giáo dục hướng nghiệp trong dạy học
Các nhà giáo dục đã khẳng định rằng: Đến nay không
cần phải là bàn đến vấn đề cần hay không, mà chắc chắn là
cần phải dạy học tích hợp. Đây cũng là ý kiến kết luận của Hội
đồng liên quốc gia về giảng dạy khoa học, với sự bảo trợ của
UNESCO tổ chức tại Varna (Bungari) “Hội nghị tích hợp việc
giảng dạy các khoa học” tháng 9/1968.

23


Qua đó ta có thể thấy việc giáo dục hướng nghiệp trong
dạy học có ý nghĩa không chỉ chi phối đến giáo dục mà còn

dục hướng nghiệp thì trường phổ thông phải gắn mục tiêu đào
tạo với những mục tiêu kinh tế xã hội. Sự phát triển kinh tế
của xã hội phụ thuộc rất nhiều vào việc chuẩn bị cho thế hệ
trẻ đi vào lao động sản xuất đi vào sự phân công lao động
trong phạm vi cả nước và từng địa phương. Chính vì vậy
hướng nghiệp có nhiệm vụ quan trọng bởi thông qua đó nghề
nghiệp, phân bố lại lực lượng lao động trong xã hội, chuyên
môn hoá tiềm năng lao động trẻ tuổi.
* Đối với chính trị, xã hội
Giáo dục hướng nghiệp có tác dụng góp phần cụ thể hoá
mục tiêu giáo dục của trường phổ thông tức là hoạt động
hướng nghiệp có chức năng thực hiện hoá đường lối giáo dục
của Đảng và Nhà nước, hiện thực hoá đường lối giáo dục
trong đời sống xã hội, giáo dục hướng nghiệp phải được coi là
điều kiện đảm bảo chất lượng và hiệu quả giáo dục. Giáo dục
hướng nghiệp sẽ tạo nên những yếu tố mới trong con người
lao động - yếu tố cơ bản của việc tăng năng suất lao động xã
hội. Làm tốt giáo dục hướng nghiệp, sẽ có những lớp người
mới đủ năng lực và phẩm chất cách mạng để xây dựng và bảo
vệ tổ quốc. Chính vì vậy giáo dục hướng nghiệp có ý nghĩa đối
với sự triển khai chiến lược con người - một bộ phận của chiến
lược kinh tế và khoa học- kỹ thuật.
Xét ở bình diện xã hội, giáo dục hướng nghiệp có tác
dụng điều chỉnh sự phân công lao động xã hội, tạo ra sự cân
bằng trong việc phân bố lực lượng dân cư. Khi xã hội gặp khó
khăn trong việc tìm kiếm công ăn việc làm cho thanh niên,
hướng nghiệp kết hợp chặt chẽ với lao động sản xuất và dạy
25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status