- 1 -
B GIO DC V O TO B Y T
TRNG I HC Y HI PHềNG
==== ====
Lấ QUANG TRUNG
Thực trạng kiến thức, thái độ và thực hành
phòng, chống HIV/AIDS của học sinh các trờng
phổ thông trung học huyện Triệu sơn
luận án chuyên khoa cấp II
hải phòng -2012
B GIO DC V O TO B Y T
TRNG I HC Y HI PHềNG
==== ====
- 2 -
Lấ QUANG TRUNG
Thực trạng kiến thức, thái độ và thực hành
phòng, chống HIV/AIDS của học sinh các trờng
phổ thông trung học huyện Triệu sơn
Chuyên nghành : quản lý y tế
Mã số : 62.72.76.01
luận án chuyên khoa cấp II
Ngời hớng dẫn khoa học
PGS.TS Trần Quang Phục
Bs CKII Nguyễn Ngọc Thành
hải phòng - 2012
CH VIT TT
AIDS : Acquired Immuno Deficency Syndrome
ATTD : An ton tỡnh dc( tỡnh dc an ton)
BKT : Bm kim tiờm
BCS : Bao cao su
CBCNV : Cỏn b cụng nhõn viờn
35,8 triệu) người lớn và trẻ em đang sống chung với HIV, trong đó khu vực
châu Phi và cận Shahara có số lượng người nhiễm cao nhất (22,4 triệu), khu
vực châu Á là khu vực đứng thứ hai về số người nhiễm (4,7 triệu). Chỉ tính
riêng trong năm 2008, số người mới nhiễm HIV là 2,7 triệu, trong đó khu vực
cận Shahara châu Phi là 1,9 triệu, khu vực châu Á là 350.000. Năm 2008,
AIDS đã lấy đi sinh mạng của 2,0 triệu người trên toàn thế giới, trong đó 70%
là ở cận Shahara châu Phi. Hiện mỗi ngày có trên 6.800 người nhiễm HIV và
trên 5.700 người tử vong vì AIDS [58].
Ở Việt Nam, trường hợp nhiễm HIV đầu tiên được phát hiện vào năm
1990. Từ đó đến nay, gần 20 năm đã qua, Việt Nam đã xây dựng, thực hiện
các kế hoạch phòng chống HIV/AIDS và thu được những kết quả bước đầu,
nhưng còn chưa đủ mạnh để ngăn chặn dịch HIV/AIDS. Dịch HIV/AIDS tiếp
tục gia tăng. Từ năm 1990 - 1993: Dịch tập trung ở một số tỉnh với số nhiễm
HIV phát hiện dưới 1.500 trường hợp mỗi năm; từ năm 1994 - 1998, dịch lan
ra toàn quốc với số nhiễm HIV phát hiện hàng năm từ 1.500 đến dưới 5.000
- 5 -
trường hợp. Từ năm 1999 đến nay, số nhiễm HIV phát hiện trên 10.000
trường hợp mỗi năm và dịch có xu hướng lan rộng ra cộng đồng, tính đến
ngày 30/6/2009 số người nhiễm HIV hiện đang còn sống trên toàn quốc là
149.653 người, số bệnh nhân AIDS hiện đang còn sống là 32.400 bệnh nhân
và 43.265 bệnh nhân đã tử vong do AIDS [21]. Dịch HIV/AIDS ở Việt Nam
liên quan mật thiết với tình trạng tiêm chích ma túy và bán dâm [4], [45].
Thanh Hoá là một trong những tỉnh đứng đầu trong cả nước về số người
nhiễm HIV/AIDS. Theo báo cáo của ban chỉ đạo phòng chống HIV/ AIDS
tỉnh Thanh Hóa, tính đến 31/11/2010 toàn tỉnh có 4.890 người nhiễm HIV
được báo cáo, trong đó 2347 người đó chuyển sang các giai đoạn AIDS và
826 người đó chết do AIDS, chủ yếu tập trung ở một số huyện thị như
TP.Thanh hóa 26.2%, Quan hóa 9.1%, Thọ xuân 7.6%, Mường lát 5.3%. Đại
dịch không chỉ có ở các thành phố thị trấn mà đã lan tới các huyện vùng sâu,
vùng xa, vùng thuần nông, có tới 79,3%( 506/638) xã phường, và 100%
“Thực trạng và các yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ, thực hành
phòng, chống HIV/AIDS của học sinh THPT huyện Triệu Sơn, tỉnh
Thanh hoá năm 2010”.
Nghiên cứu này được tiến hành với các mục tiêu sau:
1. Mô tả thực trạng kiến thức, thái độ, thực hành phòng, chống
HIV/AIDS của học sinh trung học phổ thông huyện Triệu Sơn, tỉnh
Thanh Hoá năm 2011.
2. Mô tả một số yếu tố liên quan đến kiến thức, thái độ thực hành phòng,
chống HIV/AIDS của học sinh THPT huyện Triệu Sơn năm 2011.
- 7 -
CHƯƠNG 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1 TÌNH HÌNH NHIỄM HIV/AIDS HIỆN NAY
1.1.1 Trên thế giới
Những trường hợp nhiễm HIV/AIDS đầu tiên trên thế giới được báo
cáo vào năm 1981 tại Los Angeles trên 5 trường hợp nam giới có tiền sử tình
dục đồng giới bị viêm phổi do Pneumocystis Carinii và cùng vào tháng đó là
những người nghiện chích ma túy và những bệnh nhân hemophilia được
truyền máu. Đến năm 1983, vi rút gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV)
được Luc Montagnier và cộng sự tại Viện Pasteur Paris phân lập từ một bệnh
nhân bị bệnh dịch hạch và đến năm 1984 vi rút này được Robert Galot mô tả
là căn nguyên gây bệnh AIDS. Năm 1985 khi sinh phẩm ELISA dùng cho
chẩn đoán HIV được phát triển thì đã phát hiện hàng loạt trường hợp nhiễm
HIV [1], [35].
Về thời điểm vi rút HIV xuất hiện ở người vẫn còn là một ẩn số và người ta
thấy rằng khi xét nghiệm các mẫu máu còn giữ lại của ngân hàng máu đã phát hiện
kháng thể kháng vi rút HIV trong các mẫu máu từ năm 1969 [1].
Kể từ năm 1981 đến nay, HIV/AIDS đã thực sự trở thành đại dịch toàn
cầu với những diễn biến hết sức phức tạp và nghiêm trọng. Theo báo cáo của
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và Chương trình phối hợp phòng chống AIDS
AIDS trên thế giới trong năm 2008 cũng xảy ra ở đây [4]. Tiếp theo là khu
vực châu Á, đến tháng 12 năm 2008 ước tính số người sống chung với HIV
- 9 -
trên toàn châu Á là 4,7 triệu, trong đó số nhiễm mới là 350.000 người và
trong năm 2008 có 330.000 người tử vong vì các bệnh liên quan đến AIDS.
Châu Đại Dương là khu vực có số nhiễm HIV ít nhất. Năm 2008 ước tính có
39.000 người nhiễm HIV tại châu Đại Dương, nâng tổng số người sống chung
với HIV ở khu vực này lên tới 59.000 người [4]. Hiện nay, tại các châu lục
dịch HIV/AIDS đang diễn biến phức tạp với những hậu quả khó lường.
Bảng 1.2. Tình hình nhiễm HIV tại các khu vực trên thế giới đến năm 2008 [4]
Khu vực
Người lớn
và trẻ em
sống với
HIV
(Triệu)
Người lớn
và trẻ em
mới nhiễm
HIV
(Triệu)
Tỷ lệ người
lớn hiện
nhiễm HIV
(%)
Số người lớn
và trẻ em tử
vong do
AIDS
(Triệu)
trạng thái tỷ lệ mắc thấp sang dịch tập trung với tỷ lệ mắc cao trong nhóm
tiêm chích ma túy. Dịch HIV ở châu Á đã và đang tập trung trong nhóm
nghiện chích ma túy, nhóm gái bán dâm, nhóm đàn ông quan hệ đồng giới.
Tuy nhiên, dịch HIV tại nhiều khu vực của châu Á đang dần lan rộng sang
những nhóm có nguy cơ thấp thông qua việc lây truyền sang những bạn tình
của những người có nguy cơ cao. Tại Trung Quốc lây truyền HIV qua quan
hệ tình dục khác giới đang trở thành phương thức lây truyền HIV chiếm ưu
thế hơn.
Theo dự báo của Tổ chức Y tế thế giới, thế kỷ này sẽ là thế kỷ HIV/AIDS
của châu Á. Dịch tập trung chủ yếu ở các nước đang phát triển nơi mà điều kiện
vệ sinh, dinh dưỡng kém, bệnh tật và đói nghèo, cộng với phong tục tập quán lạc
hậu thì hiệu quả của các biện pháp phòng chống HIV/AIDS sẽ bị ảnh hưởng.
- 11 -
Chính vì vậy, các chương trình phòng chống HIV/AIDS của các nước trong khu
vực phải được triển khai đồng bộ và hiệu quả, đòi hỏi nỗ lực lớn cũng như cam
kết mạnh mẽ của Chính phủ các nước và các tổ chức quốc tế.
Bản đồ phân bố nhiễm HIV/AIDS tính đến năm 2010 [56]
1.1.2. Tình hình nhiễm HIV/AIDS ở Việt Nam
Trường hợp nhiễm HIV đầu tiên ở Việt Nam được phát hiện vào tháng
12/1990. Cho đến ngày 30/6/2009, số người nhiễm HIV hiện đang còn sống
trên toàn quốc là 149.653 người, 32.400 bệnh nhân AIDS hiện đang còn sống
và 43.265 người đã tử vong do AIDS [22].
Nhiễm HIV ở Việt Nam chủ yếu tập trung trong nhóm tuổi từ 20-39
(83%) và là nam giới (82,0%). Tỷ lệ nhiễm HIV giữa nam và nữ ít thay đổi
qua các năm. Tuy nhiên, trong những năm gần đây tỷ lệ người nhiễm HIV là
nữ giới có xu hướng tăng lên (15,5% năm 2006 tăng lên 17,9% năm 2008).
Hiện nay đã có 100% tỉnh (63/63 tỉnh/thành phố), 97,5% số quận/huyện và
70,5% số xã/phường trên toàn quốc đã phát hiện có người nhiễm HIV/AIDS
[17], [22].
- 12 -
Tại hội nghị tổng kết công tác phòng chống AIDS các tỉnh phía Nam
ngày 12 tháng 11 năm 2000 cho rằng ( Căn cứ vào thống kê tình hình lây
nhiễm HIV/AIDS tại Việt nam số người nhiễm HIV/AIDS thực sự phải bằng
- 14 -
số người phát hiện nhân lên 6 lần). Đáng lo lắng nhất là dịch HIV/AIDS đã đi
vào đối tượng bình thường ngày càng nhiều hơn, nếu như năm 1998 phát hiện
19 thai phụ nhiễm HIV, năm 1999 con số này là 39 ca. Trên các đối tượng
khác thanh niên đi khám nghĩa vụ quân sự từ 2 ca năm 1998 lên 19 ca năm
1999, độ tuổi người nhiễm HIV ngày càng trẻ hoá: Thống kê trên cả nước độ
tuổi 20-29 chiểm tỷ lệ nhiễm cao nhất 44,8%, từ 30-39 tuổi 26,6%. Đặc biệt
năm 1999 có 8% người nhiễm có độ tuổi 13-19 [1]. Khoảng 60% người nhiễm
ở độ tuổi Thanh niên và độ tuổi lao động [4]. Đặc điểm này cảnh báo 1 tác
động nguy hại của đại dịch HIV/AIDS trong thời gian không xa ở Việt Nam
vì đây là độ tuổi có hoạt động tình dục mạnh, là lao động chính trong xã hội.
1.1.3. Tình hình nhiễm HIV/AIDS tại Thanh Hóa và Triệu Sơn
Thanh Hoá là một trong những tỉnh đứng đầu trong cả nước về số người
nhiễm HIV/AIDS. Theo báo cáo của ban chỉ đạo phòng chống HIV/ AIDS
tỉnh Thanh Hóa, tính đến 31/11/2010 toàn tỉnh có 4.890 người nhiễm HIV
được báo cáo, trong đó 2347 người đó chuyển sang các giai đoạn AIDS và
826 người đó chết do AIDS ,chủ yếu tập trung ở một số huyện thị như
TP.Thanh hóa 26.2%, Quan hóa 9.1%, Thọ xuân 7.6%, Mường lát 5.3%. Đại
dịch không chỉ có ở các thành phố thị trấn mà đã lan tới các huyện vùng sâu,
vùng xa, vùng thuần nông, đã có tới 79,3%( 506/638) xã phường, và 100%
( 27/27) Huyện thị trong tỉnh đã phát hiện có người nhiễm HIV/AIDS.
Triệu Sơn là huyện có địa bàn rộng với diện tích 292km
2
, được hình
thành 3 vùng kinh tế khác nhau: Đồng bằng, Trung du và miền núi. Phát triển
kinh tế chủ yếu là trồng lúa, có 36 xã, thị trấn với tổng số dân 234.000 người.
Do đặc điểm 3 vùng khác nhau nên trình độ dân trí, phong tục tập quán và
HIV như dao chích, kìm nhổ răng, kim châm cứu, dao cắt Amiđan.
+ HIV cũng lây qua các dịch vụ xã hội khác như xăm mình, xăm lông
mày, xỏ lỗ tai do sử dụng các dụng cụ xuyên chọc qua da bị nhiễm HIV.
Dính máu, dịch thể của người nhiễm HIV qua các vết thương hở, vết xước da
và niêm mạc cũng có thể làm lây truyền HIV.
+ HIV có thể lây truyền qua việc nhận tinh dịch trong thụ tinh nhân tạo,
qua ghép cơ quan, phủ tạng của người nhiễm HIV.
* Lây theo đường tình dục
+ HIV gắn, xâm nhập vào tinh trùng và tồn tại dưới dạng ADN vi rút.
Tinh dịch cũng chứa các tế bào bạch cầu và những tế bào này cũng có chứa
HIV. Nhiều tế bào Langerhans trong dịch nhầy của âm đạo và hậu môn cũng
có thể bị nhiễm HIV.
+ Sự lây truyền HIV qua đường tình dục là thường gặp nhất. HIV lây
truyền từ người bị nhiễm sang bạn tình của họ. Những vết xước nhỏ ( thậm
chí không nhìn thấy bằng mắt thường ) trên bề mặt của niêm mạc âm đạo,
dương vật hay hậu môn xảy ra trong lúc giao hợp sẽ là đường vào của HIV và
từ đó HIV vào máu. Càng có QHTD với nhiều người, nguy cơ lây truyền càng
cao.
- 17 -
* Lây truyền từ mẹ sang con
+ HIV có thể lây truyền từ người mẹ bị nhiễm HIV sang cho trẻ sơ sinh
trong quá trình mang thai, khi đẻ và khi cho con bú.
+ Các yếu tố nguy cơ làm tăng lây truyền HIV từ mẹ sang con là:
- Phụ nữ có thai mắc các bệnh liên quan đến tình trạng nhiễm HIV.
- Trẻ đẻ non trên 18 tuần.
- Phụ nữ nhiễm HIV khi có thai.
- Bà mẹ cho con bú bị áp xe vú hoặc đau múm vú.
* HIV không lây truyền qua các trường hợp sau:
Các tiếp xúc thông thường: ở chung một nhà; thở chung không khí, ho,
sổ mũi; khi làm việc chung; trong ô tô, trong chợ, siêu thị, trong trường học;
* Giai đoạn bệnh hạch dai dẳng toàn thân ( giai đoạn cận AIDS): Thường
biểu hiện sưng hạch toàn thân giai dẳng, sút cân, sốt kéo dài, ngứa, tiêu chảy
dai dẳng hoặc ho kéo dài.
* Giai đoạn bệnh nhân AIDS: Đây là giai đoạn cuối cùng của bệnh nhân
HIV. Bệnh nhân thường bị các bệnh nhiễm trùng cơ hội, ung thư và các biểu
hiện liên quan đến rối loạn miễn dịch, biểu hiện bằng nhiều triệu chứng khác
nhau.
1.2.2.2. Các triệu chứng lâm sàng
* Ba triệu chứng chính thường gặp.
+ Giảm sút cân nhanh ( trên 10% trọng lượng cơ thể)
+ Tiêu chảy kéo dài ( trên 1 tháng)
- 19 -
+ Sốt kéo dài ( Trên 1 tháng).
* Các triệu chứng phụ có thể gặp:
+ Ho dai dẳng hàng tháng.
+ Viêm ngứa toàn thân.
+ Chốc rộp lan toả, tái phát liên tục.
+ Nhiễm nấm ở hầu, họng.
+ Sưng hạch, đặc biệt là ở cổ, nách không có nguyên nhân rõ ràng
và kéo dài trên 2 tuần.
* Chẩn đoán 1 trường hợp AIDS. Theo WHO định nghĩa 1 trường hợp
AIDS trên lâm sàng ở người lớn khi có ít nhất 2 dấu hiệu chính phối hợp
với ít nhất 1 dấu hiệu phụ kể trên ( Trẻ em từ 13 tuổi trở xuống có tiêu
chuẩn chẩn đoán riêng).
Người nhiễm HIV sau từ 3 - 6 tháng mới có thể xét nghiệm máu để
phát hiện được ( thời gian này gọi là thời gian cửa sổ). Trong khoảng thời gian
này, tuy kết quả xét nghiệm âm tính nhưng người nhiễm HIV vẫn có khả năng
lây bệnh cho người khác.
Người nhiễm HIV và bệnh nhân AIDS là nguồn truyền nhiễm duy nhất
của nhiễm HIV. Không có ổ chứa nhiễm trùng tự nhiên ở động vật. Tất cả mọi
- Vận động nhóm người có hành vi nguy cơ thấp hiến máu nhân đạo.
- Sàng lọc người cho máu và sàng lọc các túi máu trước khi truyền.
1.3.3 Phòng lây nhiễm từ mẹ sang con.
- 21 -
Thực hiện giáo dục sức khoẻ và tư vấn cho nữ thanh niên về nguy cơ dễ
bị lây nhiễm HIV và hậu quả lây nhiễm cho chồng con.
Có thể xét nghiệm sàng lọc HIV khi kết hôn, khi quyết định có thai và
khi có thai nếu cảm thấy cần thiết.
Tư vấn cho thanh niên đó bị nhiễm HIV không nên xây dựng gia đình,
không nên có thai hoặc nên phá thai.
Những người nhiễm HIV vẫn quyết định kết hôn hoặc có thai cần phải
có tư vấn sâu hơn từ các cơ sở y tế hoặc những người có trách nhiệm.
1.4.THỰC TRẠNG KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH PHÒNG
CHỐNG HIV/AIDS CỦA HỌC SINH THPT
Kiến thức, thái độ và thực hành phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS của
TTN. Việc không thực hiện các biện pháp phòng, chống tại một số địa phương
đã làm lây lan ngầm và rộng rải mầm bệnh trong nhân dân là cơ sở trong việc
bùng nổ dịch tại đó trong tương lai không xa.
Hàng năm, Tỷ lệ số thanh niên bị nhiễm HIV trẻ hơn (dưới 30 tuổi)
ngày càng tăng: 16,8% (1993), 23,6% (1994) 25,8%(1995) 35,4%(1996) [34].
Theo ông Trần Xuân Nhỉ Thứ trưởng Bộ GD-ĐT cho biết mục tiêu cụ
thể phòng chống nhiễm HIV/AIDS cho TTN trong trường học là:
+ Về kiến thức: Thấy rõ hiểm hoạ AIDS với cá nhân, gia đình và cộng
đồng trên các mặt: Sức khỏe và tính mạng, kinh tế và xã hội và nòi giống của
dân tộc thấy rõ bản chất nguy hiểm của HIV/AIDS xuất phát từ đặc điểm của
HIV/AIDS từ các con đường lây lan và thực tế và cho tới nay loài người chưa
có vác xin và thuốc phòng ngừa đặc hiệu. Từ đó mỗi TTN cần hểu và biết
cách phòng chống nhiễm HIV/AIDS với đầy đủ trách nhiệm của mình.
+ Về thái độ: Trước hết là chấp nhận những yêu cầu và trách nhiệm của
người công dân trong việc phong chống nhiễm HIV/AIDS. Có thái độ không
75% nghe qua cán bộ y tế, 60% nghe qua bạn bè [33].
Theo Nguyễn Thị Thanh Thuỷ (1999) (Văn phòng UBQG PC AIDS)
trên 602 học sinh, sinh viên thấy rằng kết quả hiểu biết của HS, SV như nhau:
Đối tượng nhiễm HIV là ai? thì có 23,8% cho rằng chỉ ở nhóm có nguy cơ cao
(ma tuý, mại dâm ) và 75,1% cho rằng tất cả mọi người đều có thể bị nhiễm
HIV và không rõ là 1,2% có nghĩa là 24,9 % HS,SV cho rằng HIV không
phải là nguy cơ đối với tất cả mọi người mà chỉ lây truyền trong những người
có nguy cơ cao, như vậy họ sẽ chủ quan không chủ động phòng ngừa.Về
đường lây có 71,3% HS,SV biết cả 4 đường lây QHTD,TCMT, truyền máu,
mẹ - con), 28,7% HS,SV không biết đủ 4 đường lây truyền của HIV thường
xảy ra nhất hiện nay và nếu có dự phòng thì số HS,SV này sẽ không dự phòng
đầy đủ.
Có tới 98,8% HS PTTH ở Hà Nội, Quảng Ninh, Nghệ An cho rằng
HIV/ AIDS có thể lây truyền qua đường tình dục, 97% HS biết rằng tiêm
chích ma túy là sẽ dẫn đến HIV/ AIDS. Có 98% tổng số HS,SV được hỏi cho
rằng truyền máu cũng là con đường có thể dẫn đến nhiễm HIV chiếm 10.8%.
Song vẫn còn một số em cho rằng dựng chung đồ ăn, bắt tay nói chuyện với
nhau cũng có thể lây từ mẹ sang con. Các dịch vụ cắt tóc, làm móng tay, kẻ
lông mày cũng được một số học sinh cho rằng là đường truyền bệnh. Dùng
chung đồ ăn, bắt tay hay nói chuyện với nhau cũng có thể lây nhiễm HIV(4%
ở Đinh Tiên Hoàng - Hà Nội; 45% ở Đại học Khoa học tự nhiên Hà Nội; 4%
ở Nghệ An; 1% ở Quảng Ninh và Giáo dục thường xuyên) cho là dùng chung
đồ ăn có thể bị lây nhiễm HIV. Ngoài ra 3% ở Đại học Khoa học tự nhiên;
2% ở Đinh Tiên Hoàng và 1% Giáo dục thường xuyên cho rằng bắt tay
cũng sẽ bị nhiễm HIV. 35% ở Quảng Ninh, 1% ở Nghệ An, Đinh Tiên
- 24 -
Hoàng và Giáo dục thường xuyên cho rằng nói chuyện với nhau cũng có
thể lây nhiễm HIV [28].
Theo Đặng văn Khoát UBQG PC AIDS đánh giá hiểu biết, thái độ,
lòng tin và thực hành phòng chống AIDS của thanh niên từ 15- 29 tuổi ở 10
Theo Chu Quốc Ân UBQG PC AIDS [7]: Nhận thức của HS về sự
nguy hiểm của đại dịch AIDS: 98,3% HS nhận thức được rằng HIV/AIDS là
nguy hiểm nhất hiện nay, vẫn còn 0,9% cho rằng AIDS không nguy hiểm và
0,5% không biết. Trong đó 98,6% HS lớp 10, 99% HS lớp 12 cho rằng AIDS
nguy hiểm, 1,8% HS lớp 10, 1% HS lớp 12 cho rằng AIDS không nguy hiểm.
+ Nhận thức của HS nội và ngoại thành đạt tỷ lệ tương đương nhau( nội
thành: 98,2%, ngoại thành: 97,8%) có 98,5% các em HS lớp 10, 100% HS lớp
12 nhận thức đúng: AIDS do vi rút HIV gây nên. Dưới 71% HS lớp 10, 64,4%
HS lớp 12 cho rằng hiện nay chưa có thuốc đặc hiệu để chữa trị và cũng chưa
có vác xin để phòng nhiễm.
+ Nhận thức của HS về đường lây truyền HIV/AIDS: 10% HS cho rằng
HIV/AIDS lây qua các tiếp xúc thông thường như: ôm hôn 6,8% ( 3,5% HS
lớp 10; 2% HS lớp 12), bắt tay 0,7% ( 0,5% HS lớp 12), nói chuyện 1,2%,
muỗi đốt 6,5% (5,5% HS lớp 10, 3,9% HS lớp 12) ăn uống 2,5%. Truyền từ
mẹ sang con là 95,2% ( 96,5% học sinh lớp 10, 95,1% học sinh lớp 12) QHPD
98,3% ( 99,5% HS lớp 10, 100% HS lớp 12).TCMT 91,4% (92,5% HS lớp 10,
97% HS lớp 12). Truyền máu 94,4% ( 97% HS lớp 10, 98,5% HS lớp 12).
+ Nhận thức của học sinh về cách phong tránh lây nhiễm HIV/AIDS:
QHTD lành mạnh 76,2% ( 77% HS lớp 10, 83,5% HS lớp 12) dựng BCS
88,7% ( 90% HS lớp 10, 92,2% HS lớp 12), khử trùng dụng cụ 78,1% (76%
HS lớp 10, 82,9% HS lớp 12), dùng BKT sạch 82,1% ( 88% HS lớp 10,