Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT CÔNG NGHIỆP
TRẦN PHI SƠN
NGHIÊN CỨU ĐIỀU KHIỂN GIÁM SÁT
CÁC THIẾT BỊ TRONG TRẠM VIỄN THÔNG
QUA MẠNG TRUYỀN THÔNG
LUẬN VĂN THẠC SỸ KỸ THUẬT
CÁC THIẾT BỊ TRONG TRẠM VIỄN THÔNG
QUA MẠNG TRUYỀN THÔNG
Ngành: KỸ THUẬT ĐIỆN TỬ
Mã số: 60 52 70
Học viên: Trần Phi Sơn
Ngƣời hƣớng dẫn Khoa học: PGS.TS. Nguyễn Như Hiển
Ngày giao đề tài: 20 - 01 - 2010
Ngày hoàn thàn đề tài: 30 - 8 - 2010
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. Nguyễn Nhƣ Hiển
HỌC VIÊN
Trần Phi Sơn
BAN GIÁM HIỆU
KHOA SAU ĐẠI HỌC
THÁI NGUYÊN 2010
2.1. Yêu cầu chung đối với hệ thống 35
2.2. Sơ đồ khối của hệ thống 36
2.2.1. Trung tâm giám sát 36
2.2.2. Các trạm viễn thông (Trạm vệ tinh) 37
2.3. Chức năng và mục tiêu của hệ thống giám sát 38
2.3.1. Thu thập dữ liệu 38
2.3.2. Cảnh báo 39
2.3.3. Điều khiển 40
2.3.4. Cấu hình các tham số hệ thống 40
2.3.5. Khả năng quản trị hệ thống 41
2.3.6. Khả năng lưu trữ 42
2.3.7. Khả năng bảo mật 42
2.3.8. Quản trị hệ thống và phân quyền người sử dụng 42
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn - 2 -
Chƣơng 3. GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT THỰC HIỆN XÂY DỰNG HỆ
THỐNG 43
3.1. Tổng quan thiết kế 43
3.2. Lựa chọn giải pháp chi tiết 45
3.2.1. Thiết bị giám sát và điều khiển MCE 45
3.2.2. Các cảm biến và thiết bị kết nối với PLC 51
3.2.3. Đặc tính kỹ thuật của một số thiết bị chính 56
3.3. Cấu hình kỹ thuật 58
3.4. Các tính năng cơ bản 59
3.4.1. Giám sát mất đường truyền 59
3.4.2. Giám sát cảnh báo, trạng thái 59
3.4.3. Đo đạc các thông số từ xa 59
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 1.1. Hệ thống điều khiển bằng PLC 7
Hình 1.2. Sơ đồ cấu trúc của bộ điều khiển lập trình 9
Hình 1.3. Mô tả hoạt động PLC 10
Hình 1.4. Chu kỳ vòng quét của PLC 10
Hình 1.5. Bảng điều khiển bằng PLC 14
Hình 1.6. Hình ảnh ứng dụng của PLC 17
Hình 1.7. Phân cấp mạng 20
Hình 1.8. Sơ đồ kết nối các thành phần AS – i 21
Hình 1.9. ASI Master CP 342-2 22
Hình 1.10. Truyền thông S7 qua mạng Ethernet 26
Hình 1.11. Cấu hình mạng LAN 28
Hình 1.12. Các tầng của TCP/IP so với 7 tầng tương ứng của 30
Hình 1.13. Hai mạng Net 1 và Net 2 kết nối thông qua routerR 33
Hình 1.14. Ba mạng kết nối với nhau thông qua 2 bộ định tuyến 33
Hình 1.15. Kiến trúc tổng thể của Internet 34
Hình 2.1. Mô hình tổng thể của hệ thống điều khiển giám sát trạm viễn thông36
Hình 2.2. Mô hình hệ thống điều khiển giám sát qua mạng IP 38
Hình 3.1. Mô hình thiết kế tổng quan 43
Hình 3.2. Sơ đồ mô tả thiết bị PLC 46
Hình 3.3. Nguyên tắc đấu nối các cổng DI 47
Hình 3.4. Nguyên tắc đấu nối tiếp, song song các cổng DI 47
Hình 3.5. Đặc tuyến chuyển đổi tuyến tính các cổng AI 48
Hình 3.6. Gửi điện áp điều khiển Vdk đến thiết bị 48
Hình 3.7. Mô tả giao thức MC-P 49
Hình 3.8. Vị trí của ATS 52
Hình 3.9. Sơ đồ mô tả khả năng dự phòng và chuyển đổi giữa 2 chế độ Auto và
Remote 52
Hình 3.10. Mặt máy tủ ATS 53
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn - 5 -
MỞ ĐẦU
Hiện nay đa số ở các đơn vị cung cấp và khai thác dịch vụ viễn thông vẫn
tồn tại phương pháp quản lý, khai thác dịch vụ truyền thống thủ công và không
đồng bộ. Chưa thực sự tự động hoá được các khâu quản lý, giám sát điều hành
và đánh giá chất lượng mạng và dịch vụ cho toàn hệ thống gây ra sự tốn kém
rất nhiều về nhân lực và vật lực; chậm trễ trong thông tin báo cáo giải quyết sự
cố và hỗ trợ khách hàng, thông tin báo cáo hỗ trợ các cấp lãnh đạo ra quyết
định chỉ đạo điều hành. Chính vì vậy cần phải có một hệ thống điều khiển giám
sát các thiết bị trong trạm viễn thông nhằm khắc phục được những tồn tại nói
trên.
- 6 -
nguồn nhân lực đó để phục vụ các nhu cầu khác. Có như vậy mới có thể tăng
sức mạnh cạnh tranh trong nền kinh từ mở cửa như hiện nay.
Xây dựng một hệ thống giám sát, quản lý tập trung không những tạo ra
khả năng quản lý phân vùng, phòng ngừa và xử lý các sự cố một cách chủ
động, từ xa,… mà còn giúp giảm thiểu những chi phí gây ra do sự lãng phí điện
năng.
Đối với các nước phương Tây, các hệ thống giám sát tự động từ xa cho
các nhà trạm thiết bị không người đã được sử dụng từ rất lâu trong tất cả các
lĩnh vực, trong khi ở Việt Nam, công nghệ này là tương đối mới mẻ.
Với đề tài “ Nghiên cứu điều khiển giám sát các thiết bị trong trạm viễn
thông qua mạng truyền thông”, phương án kỹ thuật có thể đáp ứng được công
việc giám sát quản lý tập trung từ xa đối với các nhà trạm thiết bị Viễn thông.
Tôi mong rằng trên cơ sở đó có thể xây dựng các hệ thống điều khiển, giám sát
với quy mô lớn hơn.
Những thành tựu của sự tiến bộ vượt bậc của khoa học công nghệ, các
nhiệm vụ điều khiển phức tạp được hoàn thành nhờ một hệ thống điều khiển tự
động cao, đó chính là bộ điều khiển lập trình và có sự tham gia của cả máy tính.
Ngoài việc giao tiếp tín hiệu với các trường thiết bị vào – ra như (các bảng vận
hành, động cơ, cảm biến, van …), khả năng giao tiếp truyền thông dữ liệu trên
mạng giữa các thành phần điều khiển trong hệ thống cũng được thực hiện. Mỗi
thành phần đơn giản trong hệ thống điều khiển đều đóng một vai trò quan trọng
mà không cần quan tâm đến kích cỡ. Ví dụ hình 1.1 cho thấy rằng PLC không
biết điều gì xẩy ra xung quanh nó khi không có bất kỳ một thiết bị cảm nhận tín
hiệu. Nó cũng không thể thực hiện một chuyển động cơ học nếu không có nối
kết giữa động cơ với nó.
Hình 1.1. Hệ thống điều khiển bằng PLC
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn - 8 -
1.1.2. Vai trò của bộ điều khiển lập trình PLC
Trong một hệ thống tự động, nói chung PLC được ví như là con tim của
hệ thống điều khiển. Với chương trình ứng dụng điều khiển (được lưu trữ trong
bộ nhớ PLC) trong việc thực thi, PLC thường xuyên giám sát tình trạng hệ
thống qua tín hiệu phản hồi của thiết bị đầu và. Sau đó sẽ dựa vào sự hợp lý của
chương trình để xác định tiến trình hoạt động được thực hiện ở những thiết bị
xuất cần thiết.
PLC có thể được sử dụng điều khiển những nhiệm vụ đơn giản có tính
lặp đi lặp lại hoặc một vài nhiệm vụ cụ thể được liên kết cùng nhau với thiết bị
điều khiển chủ hoặc máy tính chủ khác qua một loại mạng giao tiếp để tích hợp
- 9 -
1.1.3.1. Cấu trúc
Một PLC bao gồm một bộ xử lý trung tâm, bộ nhớ để lưu trữ chương trình
ứng dụng và những môđun giao tiếp nhập – xuất. Hình 1.2 mô tả sơ bộ về cấu
trúc của một PLC.
1.1.3.2. Hoạt động của PLC
Về cơ bản, hoạt động của một PLC cũng khá đơn giản. Đầu tiên, hệ thống
các cổng vào/ra (Input/ Output) (còn gọi là các Module xuất/nhập) dùng để đưa
các tín hiệu từ các thiết bị ngoại vi vào CPU (như các sensor, contact, tín hiệu
Thực tế khi PLC thực hiện chương trình (Program Execution), PLC khi
cập nhật tín hiệu đầu vào (ON, OFF) phải theo hai bước; khi xử lý thực hiện
chương trình, vi xử lý sẽ chuyển đổi các mức logic tương ứng ở đầu ra trong
“chương trình nội” (đã được lập trình), các mức logic này sẽ chuyển đổi
ON/OFF. Tuy nhiên lúc này các tín hiệu ở đầu ra “thật” (tức tín hiệu được đưa
ra tại Module out) vẫn chưa được đưa ra. Khi xử lý kết thúc chương trình xử lý,
việc chuyển đổi các mức logic (của các tiếp điểm) đã hoàn thành thì việc cập
nhật các tín hiệu ở đầu ra mới thực sự tác động lên đầu ra để điều khiển các
thiết bị ở đầu ra.
Thường việc thực thi một vòng quét xảy ra với thời gian rất ngắn, một
vòng quét đơn (single scan) có thời gian thực hiện một vòng quét từ 1ms tới
100ms. Việc thực hiện một chu kỳ quét dài hay ngắn còn phụ thuộc vào tốc độ
xử lý lệnh, độ dài của chương trình và cả mức độ giao tiếp giữa PLC với các
Hình 1.3. Mô tả hoạt động PLC
Hình 1.4. Chu kỳ vòng quét của PLC
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn - 11 -
thiết bị ngoại vi (màn hình hiển thị…). Vi xử lý chỉ có đọc được tín hiệu ở đầu
vào chỉ khi nào tín hiệu này tác động với khoảng thời gian lớn hơn một chu kỳ
quét. Nếu thời gian tác động ở đầu vào nhỏ hơn một chu kỳ quét thì vi xử lý
xem như không có tín hiệu này. Tuy nhiên trong thực tế sản xuất, thường các
hệ thống chấp hành là các hệ thống cơ khí nên tốc độ quét như trên có thể đáp
+ Được thiết kế bền để chịu được rung động, nhiệt, ẩm và tiếng ồn.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn - 12 -
+ Có sẵn giao diện cho các thiết bị vào ra.
+ Được lập trình dễ dàng với ngôn ngữ điều khiển dễ hiểu, chủ yếu giải
quyết các phép toán logic và chuyển mạch.
Về cơ bản chức năng của bộ điều khiển logic PLC cũng giống như chức
năng của bộ điều khiển thiết kế trên cơ sở các rơle công tắc tơ hoặc trên cơ sở
các khối điện tử đó là:
+ Thu thập các tín hiệu vào và các tín hiệu phản hồi từ các cảm biến.
+ Liên kết, ghép nối các tín hiệu theo yêu cầu điều khiển và thực hiện
đóng mở các mạch phù hợp với công nghệ.
+ Tính toán và soạn thảo các lệnh điều khiển trên cơ sở so sánh các thông
tin thu thập được.
+ Phân phát các lệnh điều khiển đến các địa chỉ thích hợp.
Riêng đối với máy công cụ và người máy công nghiệp thì bộ PLC có thể
liên kết với bộ điều khiển số NC hoặc CNC hình thành bộ điều khiển thích
nghi.
Trong hệ thống trung tâm gia công, mỗi quy trình công nghệ đều được bộ
PLC điều khiển tập trung.
1.1.5. Đặc điểm bộ điều khiển lập trình
Nhu cầu về một bộ phận điều khiển dễ sử dụng, linh hoạt và có giá thành
thấp đã thúc đẩy sự phát triển những hệ thống điều khiển lập trình
(programmable-control systems) – hệ thống sử dụng CPU và bộ nhớ để điều
khiển máy móc hay quá trình hoạt động. Trong bối cảnh đó, bộ điều khiển lập
trình (PLC – Programmable Logic Controller) được thiết kế nhằm thay thế
phương pháp điều khiển truyền thống dùng rơ - le và thiết bị rời cồng kềnh, và
hoá.
- Ngôn ngữ lập trình chuyên dùng – ladder, instruction và function chart –
dễ hiểu và dễ sử dụng.
- Thay đổi chương trình điều khiển dễ dàng.
Những đặc điểm trên làm cho PLC được sử dụng nhiều trong việc điều
khiển các máy móc công nghiệp và trong điều khiển quá trình.
1.1.6. Ƣu điểm của PLC
1.1.6.1. Hệ thống điều khiển cổ điển và những khó khăn của nó
Như đã đề cập ở phần lịch sử và hình thành PLC, đó là sự bắt đầu cuộc
cách mạng công nghiệp, đặc biệt vào những năm 1960 & 1970, những máy
móc tự động được điều khiển bằng những rơ – le cơ điện. Những rơ – le này
được lắp đặt cố định bên trong bảng điều khiển. Trong một vài trường hợp,
bảng điều khiển là quá rộng chiếm không gian. Mọi kết nối ở ngõ rơ – le phải
được thực hiện. Đi dây điện thường không hoàn hảo, nó phải mất nhiều thời
gian vì những rắc rối hệ thống và đây là vấn đề rất tốn thời gian đối với nhà sử
dụng. Hơn nữa các rơ – le bị hạn chế về tiếp điểm. Nếu khi có yêu cầu hiệu
chỉnh hay cải tiến thì máy phải ngừng hoạt động, không gian lắp đặt bị giới
hạn, và nối dây phải được làm dấu để phù hợp những thay đổi. Bảng điều khiển
chỉ có thể được sử dụng cho những quá trình riêng biệt nào đó không đòi hỏi
thay đổi ngay thành hệ thống mới. Trong quá trình bảo trì, các kỹ thuật viên
điện phải được huấn luyện tốt và giỏi trong việc giải quyết những sự cố của hệ
thống điều khiển. Nói tóm lại, bảng điều khiển rơ – le cổ điển là rất kém linh
hoạt và không thể thay thế được.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn - 14 -
Những bất lợi của bảng điều khiển cổ điển:
- Có quá nhiều dây trong bảng điều khiển.
với hệ thống điều khiển Relay), khả năng chuyển đổi hệ điều khiển cao hơn
(như giao tiếp giữa các PLC để truyền dữ liệu điều khiển lẫn nhau), hệ thống
được điều khiển linh hoạt hơn.
Hình 1.5. Bảng điều khiển
bằng PLC
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn - 15 -
- Độ tin cậy cao vì PLC được thiết kế đặc biệt để hoạt động trong môi
trường công nghiệp. Một PLC có thể được lắp đặt ở những nơi có độ nhiễu
điện cao (Electrical Noise), vùng có từ trường mạnh, có các chấn động cơ khí,
nhiệt động và độ ẩm môi trường cao…
- Khả năng quyền lực mà PLC thực hiện được đó là sự phối hợp giữa các
thiết điều khiển, giám sát và truyền thông tạo ra một mạng sản xuất toàn cầu:
giám sát, điều khiển và thu thập dữ liệu (SCADA).
Bảng 1 dưới đây mô tả so sánh sơ bộ về các hệ điều khiển: Rơle - Mạch số
- Máy tính và PLC.
Bảng 1: So sánh đặc tính kỹ thuật giữa những hệ thống điều khiển
Chỉ tiêu so sánh
Rơ - le
Mạch số
Máy tính
PLC
Giá thành từng
chức năng
Khá thấp
Thấp
Cao
Khả năng điều
khiển tác vụ phức
tạp
Không
Có
Có
Có
Dễ thay đổi điều
khiển
Rất khó
Khó
Khá đơn
giản
Rất đơn giản
Công tác bảo trì
Kém – Có
rất nhiều
công tắc
Kém – Nếu
IC được hàn
Kém – Có
rất nhiều
mạch điện tử
chuyên dùng
Tốt – các
modul được
tiêu chuẩn
hoá
Theo bảng so sánh, PLC có những đặc điểm về phần cứng và phần mềm
làm cho nó trở thành bộ điều khiển công nghiệp được sử dụng rộng rãi.
- Máy công cụ.
- Công nghiệp thuốc lá.
- Máy CNC.
- Máy sản xuất vật liệu bán dẫn.
- Thiết bị sản xuất đường.
- Thiết bị sản xuất dầu cọ.
- Ngành năng lượng.
- Máy rút tiền tự động.
- Điều khiển máy lạnh.
- Thiết bị sản xuất ra tivi.
- Trạm điện.
- Điều khiển chế độ xử lý.
- Sản xuất thiết bị điện.
- Hệ thống điều khiển giao thông.
- Hệ thống điều khiển ga xe lửa.
- Công nghiệp sản xuất nhựa.
- Công nghiệp sản xuất cơ khí.
- Sản xuất xe hơi.
- Nhà máy sản xuất sắt, thép.
- Tòa nhà tự động.
- Sản xuất vỏ xe.
- Sản xuất vi mạch.
- Thiết bị gia công cống rãnh.
- Hệ thống điều khiển tin cậy.
- Hệ thống điều khiển nâng
chuyển.
- Hệ thống điều khiển máy phát
điện.
- Điều khiển khu vui chơi…
Hệ thống khử mùi
Khởi động mềm động cơ
Giám sát hệ thống
Điều khiển thang máy
Điều khiển quá tải hệ thống điện
Điều khiển thời gian cửa, đèn
Hình 1.6. Hình ảnh ứng dụng của PLC
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn - 18 -
1.2. SƠ LƢỢC VỀ MẠNG TRUYỀN THÔNG VỚI PLC
1.2.1. Định nghĩa về mạng truyền thông công nghiệp
Sự phổ biến của các giải pháp tự động hoá sử dụng hệ thống truyền thông
số là kết quả tổng hợp của các tiến bộ trong kỹ thuật vi điện tử, kỹ thuật máy
tính, kỹ thuật thông tin và kỹ thuật tự động hoá. Mạng truyền thông công
nghiệp hay mạng công nghiệp phổ biến hiện nay cho phép liên kết mạng ở
nhiều mức khác nhau, từ các bộ cảm biến, cơ cấu chấp hành dưới mức trường
cho đến các máy tính điều khiển, quản lý công ty. Về cơ sở kỹ thuật, mạng
- 19 -
1.2.2. Vai trò ứng dụng của mạng truyền thông
Trong những năm gần đây bộ điều khiển lập trình PLC được sử dụng ngày
càng rộng rãi trong công nghiệp, là giải pháp lý tưởng cho việc tự động hoá các
quá trình sản xuất.
PLC đóng vai trò trung tâm điều khiển, dễ dàng lập trình, cho phép nhanh
chóng thay đổi chương trình điều khiển, ứng dụng trong phạm vi rộng, chuẩn
hoá được điều khiển, giá thành thấp và dễ dàng trong bảo trì sửa chữa, độ chính
xác cao trong môi trường công nghiệp.
Tuy có nhiều ưu điểm về điều kiện nhưng PLC không đáp ứng được về
phương diện quản lý, thông tin và lưu trữ dữ liệu. Vì vậy để đáp ứng những yêu
cầu này PLC thực hiện truyền thông nối mạng ở nhiều cấp độ khác nhau nhằm
đáp ứng yêu cầu vừa điều khiển vừa giám sát hệ thống.
Hệ thống mạng hỗ trợ những nhà quản lý những người chịu trách nhiệm
sản xuất theo dõi được tình hình cụ thể quá trình sản xuất mà không cần trực
tiếp trong khu vực sản xuất.
Mạng thu nhận dữ liệu trên tất cả các dây truyền sản xuất mà không làm
chậm lại quá trình sản xuất, thu thập dữ liệu để phân tích quá trình sản xuất,
chẩn đoán, giám sát sự cố và độ tin cậy trong hoạt động của các thiết bị, quản
lý nguyên liệu và lưu vào hệ thống kế hoạch sản xuất của nhà máy.
Mạng làm tăng thêm tính sẵn sàng của các thiết bị nối mạng. Mạng thực
thi thời báo phản ứng nhanh với mức cao ổn định tránh những mức thấp hay
thay đổi khi thực hiện truyền thông. Thao tác mạng linh hoạt để điều khiển đảm
bảo cho sự sản xuất liên tiếp. Tính liên tục không gián đoạn và sẵn sàng đang
dần trở thành điều quan trọng và ngày càng tăng.
Chi phí thời gian cho việc ngừng quá trình sản xuất để phát hiện và sửa
chữa sự cố thì cơ hơn chi phí cho sự lắp đặt những hệ thống cảnh báo, theo dõi,
giám sát, kịp thời phát hiện ra những sự cố để sửa chữa và tiếp tục sản xuất một
cách nhanh chóng và công cụ để làm điều này không khác hơn là sử dụng hệ
khiển; cung cấp nguồn
cho các cảm biến.
- Nối kết đơn giản và
giá phải chăng: Lắp đặt
đơn giản, tính linh hoạt
cao với nối kết kiểu hình
cây.
- Thời gian đáp ứng nhanh: Chủ AS – I chỉ cần tối đa 5 ms cho chu kỳ
trao đổi dữ liệu lên tới 31 trạm.
- Các trạm trên cáo AS – I có thể là các cảm biến, cơ cấu chấp hành với
đầu nối hoặc module AS – I tích hợp có thể được nối vào tới 4 sensor/actuator
nhị phân thông thường.
- Với các molule AS – I có thể lên đến 124 cảm biến được hoạt động trên
cáp AS – i.
b. Giao tiếp AS và các thành phần hệ thống AS:
Các thành phần dưới sẽ tạo thành hệ thống mạng AS.
- AS – i master.
- AS – i module.
- AS – i cable.
Hình 1.7. Phân cấp mạng
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn - 21 -
- AS – i power supply unit.
- Sensors/actua tors with an integrated AS – i chip.
- Addressing unit.
- SCOPE AS – Interface.
Sơ đồ sau mô tả các thành phần được nối kết, hình 1.8.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn - 22 -
b. ASI master cho Simatic S7-300:
CP342 – 2.
CP 342-2 là Mudule ASI master cho các bộ điều khiển S7-300 và cho hệ
thống phân phối I/O ET 200M.
CP 342-2 chiếm 16 byte input và 16 byte output trong vùng analog của bộ
điều khiển mà qua đó các dữ liệu nhập của slave có thể được đọc và các dữ liệu
xuất của slave có thể được đặt.
Khi sử dụng một FC, ngoài trao đổi dữ liệu I/O, nó cũng có thể thực thi
những thủ tục gọi chính trong chương trình điều khiển.
c. ASI Gateway:
DP-ASI Gateway.
Ngay khi sử dụng cá I/O ngoại vi phân bố, sử dụng ASI có thể có các
thuận lợi. Nối mạng các ngoại vi quá trình trên profibus có thể được mở rộng
Chương trình này cũng có thể sử dụng để những mục đích chẩn đoán, nó cũng
cho phép lập trình các địa chỉ của các slave ASI.
Từ đó không những card ASI master có thể được hoạt động trong PC mà
còn cho PC giao tiếp với Industrial Ethernet hoạt động và Profibus cùng một
lúc, dữ liệu cung cấp bởi ASI slave cũng có thể khả dụng với các trạm khác
trong mạng.
1.2.4. Mạng PROFIBUS
1.2.4.1. Định nghĩa PROFIBUS
Profibus là thuật ngữ mô tả mạng truyền thông tin số được sử dụng trong
công nghiệp để thay thế quá trình tín hiệu analog 4-20mA đang tồn tại một thời
gian dài qua. Đây là mạng truyền thông số, 2 chiều, multidrop, bus nối tiếp
nhằm để kết nối thiết bị field cách ly nhau như các điều khiển, các bộ chuyển
đổi tín hiệu, các cảm biến và các cơ cấu chấp hành.
Mỗi thiết bị field có khả năng tính toán được cài đặt trong nó và làm cho
mỗi thiết bị thành thiết bị thông minh. Mỗi thiết bị field sẽ thực hành những
chức năng đơn giản trên chính nó như các chức năng chuẩn đoán, điều khiển và
bảo trì như cung cấp khả năng truyền thông hai chiều. Ngoài ra nó còn cho
phép liên lạc với các thiết bị field khác. Cốt lõi là fieldbus sẽ thay thế các mạng
điều khiển tập trung thành các mạng điều khiển phân tán. Do đó fieldbus có
nhiều chức năng và ưu việt hơn so với việc thay thế chuẩn analog 4 – 20mA.