Đồ Án Tốt Nghiệp - 1 - GVHD: Nguyễn Hoàng Trung Hiếu
MỞ ĐẦU
Hoa lan là một trong những giống hoa rất được yêu thích không chỉ về màu
sắc, kiểu dáng mà còn mang một nét đẹp rất sang trọng và trang nhã. Chính vì
vậy hiện nay rất nhiều hộ gia đình đang có thú chơi hoa lan. Nguyên nhân của
trào lưu trên là do cuộc sống ngày càng phát triển, nhu cầu tạo góc vườn nhỏ,
mang màu xanh cây lá thiên nhiên vào trong nhà của những người dân ngày càng
cao. Với ưu điểm ít chiếm diện tích, không quá khó trồng, cho hoa đẹp lại lâu tàn
nên việc chọn, trồng và tạo một vườn lan nhỏ trong khuôn viên nhà là sự lựa chọn
của nhiều người.
Bên cạnh đó, hoa lan là sản phẩm cây trồng có giá trị kinh tế cao, ngày càng
có nhiều cơ sở kinh doanh hoa lan mọc lên, kinh doanh nhiều chủng loại. Nhưng
làm sao để có số lượng lớn cây giống, đồng đều, chất lượng cao là một vấn đề
khó [16].
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của công nghệ sinh học,
ngành vi nhân giống cây đặc biệt trên đối tượng cây hoa lan từng bước phát triển,
nhiều đơn vị nhà nước cũng như tư nhân đã mạnh dạn đầu tư để sản xuất cây
giống phục vụ cho nông dân. Tuy nhiên qui mô cũng như những hạn chế về đội
ngũ kỹ thuật cũng như kiến thức về lĩnh vực này có hạn về trang bị kỹ thuật hiện
đại, vì thế cây giống có chất lượng thấp không đồng đều, không đáp ứng được
nhu cầu của thị trường. Hầu hết các giống hoa lan phải nhập giống từ Thái Lan.
Hiện nay, việc nghiên cứu và nhân giống hoa lan đã được tiến hành ở nhiều
nơi, nhưng hầu hết đều chưa có thành tựu nào đột biến để ngành nhân giống hoa
lan phát triển đáp ứng được nhu cầu của thị trường. Những thành công hiện nay
thường là nhân giống với quy mô sản xuất nhỏ. Trong đó kỹ thuật nhân giống hoa
lan phổ biến hiện nay là nhân giống trên môi trường thạch.
Ngoài ra, hiện nay trên thế giới nhiều nước có ngành công nghệ sinh học
phát triển đã ứng dụng các công nghệ cao để nhân nhanh giống cây trồng như: hệ
thống fermenter, bioreactor, quang tự dưỡng,… Ở nước ta các công nghệ này mới
Ngô Thị Trà Giang Lớp 10SHLT
Đồ Án Tốt Nghiệp - 2 - GVHD: Nguyễn Hoàng Trung Hiếu
hành mọc đối nhau, lá trên xen kẻ với lá của hàng kia. Gồm các giống như:
Vanda, Aerides, Phalaenopsis [5].
+ Nhóm phụ lá mộc thẳng dẹp hay tròn (Campylocentrinae): Papilionanthe,
Luisia [3].
- Nhóm đa thân: đây là những cây tăng trưởng liên tục và căn cứ vào cách ra
hoa nhóm này chia thành hai nhóm phụ:
Ngô Thị Trà Giang Lớp 10SHLT
Đồ Án Tốt Nghiệp - 4 - GVHD: Nguyễn Hoàng Trung Hiếu
+ Nhóm ra hoa phía trên như: Cymbidium, Dendrobium. Oncidium [5].
+ Nhóm ra hoa ở đỉnh: Catteya, Laelia, Epidendrum [5].
- Ngoài ra còn có một số giống mang tính chất trung gian như:
Centropetatum, Phachyphllum, Dichaea [5].
1.3. Đặc điểm hình thái
1.3.1. Hình dạng
Dendrobium là loại đa thân và nhiều giả hành, các giả hành thường mang
một thân và nhiều lá mọc xen kẽ, trên thân có nhiều mắt ngủ. Căn hành với
khoảng cách giữa các mắt ngắn hơn Cattleya. Hoa có thể mọc từ thân thành từng
chùm hay từng hoa cô độc, hoa có màu trắng và từ vàng đến tím. Thường lá đài
sau nằm một mình, hai lá đài bên dài ra dính lại với nhau ở mép và dính vào đáy
trụ tạo thành một phần dưới chân của trụ phía dưới gọi là cằm. Môi gắn vào cằm,
đôi khi kéo dài về phía tạo thành cựa, móc hay túi. Một nguyên hay có thuỳ, gai,
sóc có long hay không, hai cánh hoa bên giống như hai đài [5].
Dendrobium được chia làm hai nhóm theo dạng thân của chúng:
- Dạng thòng hay Nobile là dạng thân mền thường ở vùng hơi lạnh như Đà
Lạt.
- Dạng đứng hay Phalaenopsis là dạng thân cứng thường sống ở vùng khí
hậu nống hơn.
Dendrobium Nobile và Dendrobium Phalaenopsis đều có chung đặc điểm
trong việc tạo lập các giả hành mới và trong sự biệt hoá chồi sơ khởi ở nách lá
dọc theo giả hành, nhưng chúng khác biệt trong việc tạo chôi và hoa [5].
- Dendrobium (Hoàng thảo dẹt).
Ngô Thị Trà Giang Lớp 10SHLT
Đồ Án Tốt Nghiệp - 6 - GVHD: Nguyễn Hoàng Trung Hiếu
- Dendrobium parciflorum (Hoàng thảo xương cá).
- Dendrobium parisshii (Hoàng thảo tím hồng).
- Dendrobium parishii (Hoàng thảo hạc vĩ).
- Dendrobium primulim (Hoàng thảo long tu).
1.3.2. Cơ quan dinh dưỡng
* Giả hành (thân giả) : Giả hành là những đoạn phình to, bên trong có các
mô mềm chứa dịch nhày làm giảm sự mất nước và dự trữ chất dinh dưỡng để
nuôi cây trong điều kiện khô hạn khi cây sống bám trên cao. Ngoài ra, giả hành
còn chứa diệp lục tố nên có thể quang hợp được. Hình dạng và kích thước của giả
hành rất đa dạng: hình cầu, thuôn dài hay hình trụ xếp chồng lên nhau tạo thành
thân giả có lá mọc xen kẽ. Một số loài ở xứ lạnh chỉ có nhiện vụ dự trữ chất dinh
dưỡng nên giả hành không có màu xanh nhưng phía trên có mang lá [3].
* Thân: Dendrobium thuộc nhóm đa thân (còn gọi là nhóm hợp trục) có hệ
thống nhánh nằm ngang bò dài trên giá thể hoặc nằm sâu trong đất gọi là thân rễ.
Một số Dendrobium lá chỉ có ở các mầm non, là loài chống tàn chúng vàng úa và
rụng vào mùa thu, thân phì to giống như củ không có lá là nơi dự trữ năng lượng
[3].
* Lá: Các lá mọc xen kẽ nhau và ôm lấy thân giả do lá có tận cùng bằng
một cuốn hay thuôn dài xuống thành bẹ ôm thân, hình dạng và cấu trúc lá rất đa
dạng [3].
Lá có hình kim, trụ có rãnh hay phiến mỏng. Dạng lá mềm mại mọng nước
nạc, dai, có màu xanh bóng, đậm hay nhạt tuỳ thuộc vào vị trí sống của cây.
Phiến lá trãi rộng hay gấp lại theo gân vòng cung như cái quạt hay chỉ gấp lại
theo gân giữa như hình chữ V. Những lá sát dưới gốc đôi khi giảm đi chỉ còn
những bẹ không phát triển hay giảm hẳn thành vảy. Các loài thuộc giống
Dendrobium vùng nhiệt đới nói riêng và họ Orchidaceae nói chung đôi khi trút lá
vào mùa khô hạn. Sau đó, cây ra hoa hay sống ẩn để khi gặp mưa thì cho chồi
1.4. Các điều kiện cơ bản để nuôi trồng lan Dendobium
1.4.1. Nhiệt độ
Giống Dendrobium gồm nhiều loài thích nghi với các điều kiện sinh thái
khác nhau. Có thể tạm chia Dendrobium làm 2 nhóm chính: nhóm ưa lạnh và
nhóm ưa nóng [2].
Nhóm Dendrobium ưa lạnh sinh trưởng và phát triển tốt ở nhiệt độ lý tưởng
là 15
0
C gồm các giống được lấy từ các vùng cao nguyên của Việt Nam và Miến
Điện trên độ cao 1000m ví dụ các loại Vảy Cá (Dendrobium Linlleyi), Thuỷ Tiên
Tím (Dendrobium amabile), Long nhãn kim điệp (Dendrobium fimbriatum). Các
loài này nếu được trồng ở nhiệt độ cao hơn hoặc bằng 25
0
C, thì cây vẫn sống,
nhưng phát triển yếu hơn và hiếm khi ra hoa [10].
Nhóm Dendrobium ưa nóng, gồm đa số các giống Dendrobium rừng các
Châu Úc, Indonexia, Malaixia và các loại của giống Dendrobium lại hiếm được
trồng tại thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam, nhiệt độ thích hợp cho
các loại của nhóm này là 25
0
C. Tuy nhiên các giống Dendrobium lại chịu được
một nhiệt độ cao hơn nhiều [12].
Ngoài ra còn có một nhóm Dendrobium trung gian có thể sống ở vùng lạnh
và vùng nống, nhưng ở vùng lạnh cây sinh trưởng và ra hoa nhiều hơn ví dụ cac
loại Dendrobium Primulinum, Dendrobium fanmeri, Dendrobium chrysotoxum
nhiệt độ lý tưởng các loại này là 20
0
C [20].
1.4.2. Độ ẩm
Các cây lan, nhất là phong lan sống bám trên các cây cao chúng lấy nước từ
Trái lại, thừa ánh sáng đối với các giống Dendrobium, chỉ cho cây xấu đi vì lá
quá vàng hoặc các giả hành trơ trụi, nhưng cây sẽ thích nghi dần dần và đảm bảo
ra nhiều hoa và đẹp nhưng dù kết quả ánh sáng lý tưởng là tốt nhất [13].
Ngoài ra, thời gian chiếu của ánh sáng trong ngày là điều kiện quyết định sự
ra hoa của một số loài chịu ảnh hưởng bởi quang kỳ, ví dụ: lan Giá hạc, Long tu,
Kim điệp chỉ ra hoa với điều kiện ánh sáng có thời gian chiếu ít hơn 10 giờ trong
Ngô Thị Trà Giang Lớp 10SHLT
Đồ Án Tốt Nghiệp - 10 - GVHD: Nguyễn Hoàng Trung Hiếu
ngày. Tuy nhiên, một giả thiết khác cần được nghiên cứu cũng có thể các loai hoa
này ra hoa do sự thọ hàn vào tháng 12. Loài lan Thạch Hộc chỉ cần bị lạnh trong
vài giờ, cây sẽ trổ hoa sau 1 tuần lễ [13].
1.4.4. Giá thể trồng
Đa số lan Dendrobium là bán địa lan nên chậu và giá thể trồng phải được
giữ ẩm tốt và không được úng, vì vậy chậu trồng nên có nhiều lỗ và giá thể trồng
không nên có đất. Hỗn hợp trồng tốt là xơ dừa hoặc dớn sợi, than gỗ vụn, lá khô
vụn, phân gia súc khô; đối với các loài sống trên đá vôi thì cần thêm vài viên đá
vôi nhỏ, có thể thay bằng vỏ trứng hoặc vỏ sò đập vụn.
1.4.5. Nhu cầu phân bón
Dendrobium thân đứng là loài lan đòi hỏi dinh dưỡng cao, vì thế chúng cần
rắt nhiều phân bón và có thể dùng rất nhiều dạng phân bón khác nhau. Còn các
loại Dendrobium thân thòng ăn phân yếu phải dùng nồng độ thật loãng [13].
Phân heo có thể dùng rất tốt bằng dạng tưới pha thật loãng hay phân khô vò
chặt thành từng viên dài đặt phía trên bề mặt giá thể. Phân bánh dầu khô cung
được dùng hữu hiệu bằng cách ngâm nước rồi pha thật loãng để tưới hay dùng
thẳng từ viên bánh dầu khô: dùng đầu ngón tay đặt cách xa giả hành khoảng 5cm.
Rễ lan sẽ hấp thụ dần dần các dưỡng chất được phóng thích qua quá trình tưới
nước. Một số các loại phân hữu cơ khác cũng được dùng như phân tôm cá, phân
trâu bò khô [13].
Các loại phân vô cơ được dùng, thường có công thức 30-10-10 dùng 3 lần/1
tuần với nồng dộ 1 muỗng cà phê/4lít. Trong suốt mùa tăng trưởng (từ đầu tháng
Đối với các loài côn trùng cắn phá Dendrobium thì loại trừ chúng tương đối dễ
dàng bằng Serpa, Bassa, nồng độ 1/500. Mặc dù Dendrobium là cây kháng bệnh
rất mạnh, tuy nhiên cây vẫn bị nấm và virus như CymMV (Cymbidium mosaic
virus) và ORSV (Odontoglossum ringspot virus) tấn công, nếu điều kiện vệ sinh
quá kém. Nguy hiểm nhất là bệnh khô thân gần gốc và giả hành do một loài virus
Ngô Thị Trà Giang Lớp 10SHLT
Đồ Án Tốt Nghiệp - 12 - GVHD: Nguyễn Hoàng Trung Hiếu
xâm nhập, làm cho các giả hành bị khô và chết. Đây cũng là một trong những
nguyên do làm cây mọc cây con trên ngọn thân. Có thể ngừa bệnh cho giống
Dendrobium với khoảng cách dài hơn Cattleya là nửa tháng xịt 1 lần bằng các
loại thuốc ngừa nấm Topsil, Zineb, Bencmyl với nồng độ 1/400 [12].
Ngô Thị Trà Giang Lớp 10SHLT
Đồ Án Tốt Nghiệp - 13 - GVHD: Nguyễn Hoàng Trung Hiếu
Ngô Thị Trà Giang Lớp 10SHLT
D. Pink Mini D. Negro D. Nopporn Starbright D. Pink Klang
D. Airang Gold
D. Blue Violetta
D. Burana Delight
D. Burana Angel
D. Red Flame D. Sakda Blue D. Salaya Gold D. Salaya White
D. Sena Red D. Burana Platinum No. 8 D. Tropic House D. Mangosteen
D. Burana Jade x Blue Sapphire D. Burana Lucky No. 1 D. Burana Lucky No. 3 D. Burana Mini Pink No. 2
Hình 1.1. Một số dạng hoa đẹp của lan Dendrobium họ Orchidacea
Đồ Án Tốt Nghiệp - 14 - GVHD: Nguyễn Hoàng Trung Hiếu
1.5. Các nghiên cứu Dendrobium trong nước và thế giới
1.5.1. Nghiên cứu trong nước
Năm 2005 Nguyễn Thị Hoàng Uyên “ Nghiên cứu gieo hạt Dendrobium
Superbum in vitro” Đại Học Nông Lam – Thành Phố Hồ Chí Minh.
Năm 2006 Trịnh Cẩm Tú & Bùi Trang Việt “nghiên cứu sự phát triển của
phát hoa Dendrobium Sonia” của trường Đại Học Khoa Học Tự Nhiên, Đại Học
Pyridoxin (B6), Nicotinic acid. Đồng thời trong thời gian này, R.J. Gautheret (ở
Pháp) đã tiến hành nuôi cấy môi tượng tầng một số cây gỗ (cây liễu) khi đưa
auxin vào môi trường nuôi cấy. Tuy nhiên sự sinh sản các tế bào đầu tiên không
vượt quá 8 tháng [8].
Năm 1939, Gautheret thông báo kết quả đầu tiên của ông với Viện Hàn Lâm
Khoa Học Pháp về việc nuôi cấy các mô vô hạn của cây cà rốt (Daucus carote ).
Sau thế chiến thứ hai, lĩnh vực này đặc biệt phát triển nhanh và nhiều kết
quả nghiên cứu quan trọng trong nông nghiệp đươc công bố.
Năm 1957 Skoog và Miller đã khám phá vai trò tỷ lệ nồng độ các chất
auxin: cytokinin trong môi trường đối với sự phát sinh cơ quan ( rễ hoặc chồi).
Skoog F. and Miller C.O., In vitro Symp. Soc. Exp. Biol., No.11:118-131 [18].
Dendrobium được nuôi cấy tái sinh thành công từ tế bào soma (Meesawat và
Kanchanapoom, 2002).
Chen Chang và Wei - Chin Chang (2003) đã thành công khi callus có được từ
thân rễ của Cymbidium ensifolium var. misericors ra hoa in vitro trên môi trường
1/2 MS chứa 1,5 µM NAA kết hợp với TDZ (nồng độ từ 3,3-10 µM) hay 2iP
Ngô Thị Trà Giang Lớp 10SHLT
Đồ Án Tốt Nghiệp - 16 - GVHD: Nguyễn Hoàng Trung Hiếu
(nồng độ 10-33 µM) sau 100 ngày nuôi cấy [13].
Tháng 6 năm 2006 S. Aktar và cộng sự tai phòng thí nghiệm Công nghệ
sinh học USDA, sở công nghệ sinh học, Đai học nông nghiệp Bangladesh,
Mymensingh đã nghiên cứu khả năng hình thành rễ lan Dendrobium trong môi
trường chứa nồng độ IBA (0, 0.5, 1.0, 1.5 và 2mg/l) kết hợp than hoạt tính 1%.
Kết quả tốt nhất môi trường chứa IBA 1.0mg/l [15].
Tháng 4 năm 2010 Sana Asghar và cộng sự đã tiến hành nghiên cứu nhân
nhanh chồi giống lan Dendrobium noibile var. Emma từ chồi nách có bổ sung
BAP ở các nồng độ 0.5, 1.0, 1.5, 2.0, 2.5 và 3.0mg/l và kinetin cũng như nồng độ
nước dừa thay đổi từ 50, 100, 150, 200, 250 và 300ml/l. Qua nghiên cứu họ nhận
thấy môi trường chứa 2mg/l IBA với tỷ lệ phần trăm rễ (95,5%) số lượng rễ
(4,70%) và chiều dài cây (3,47cm) hiệu quả hơn so với NAA. Nồng độ cao hơn
hợp nên các chất hữu cơ giúp tế bào phân chia tăng sinh khối của mô không phải
do quá trình quang hợp cung cấp mà do đường có trong môi trường dinh dưỡng.
Thường sử dụng nguồn cacbon là đường Saccharose [8].
- Khoáng đa lượng: Nhu cầu muối khoáng của mô tế bào thực vật không thể
thiếu so với điều kiện thực vật ngoài tự nhiên. Các nguyên tố đa lượng cần phải
cung cấp là nitơ, photpho, kali, canxi, magie, sắt. Trong đó dung dịch mẹ của
khoáng đa lượng nên pha với nồng độ gấp 10 lần dung dịch chuẩn, lọc bỏ những
phần không tan và trữ trong tủ lạnh 2-4
0
C [8].
- Khoáng vi lượng: Cần với một lượng rất ít nhưng không thể thiếu, dung
dịch mẹ của khoáng vi lượng nên pha với nồng độ gấp 100 lần dung dịch chuẩn,
cất trữ trong tủ lạnh hoặc tủ đông cho đến khi sử dụng [8].
- Nồng độ đa lượng và vi lượng trong môi trường ra rễ thường giảm xuống
trong môi trường ra rễ thường giảm xuống so với một nữa so với bình thường và
Ngô Thị Trà Giang Lớp 10SHLT
Đồ Án Tốt Nghiệp - 18 - GVHD: Nguyễn Hoàng Trung Hiếu
tuỳ theo loại cây. Nguyên nhân là do nhu cầu về đạm trong giai đoạn này giảm
[4].
- Vitamin: Thực vật cần vitamin để xúc tác quá trình biến dưởng khác nhau
các vitamin thường được sử dụng trong nuôi cấy mô như: Thiamine HCl (vitamin
B1), Pyridoxine HCl (vitamin B6), acide nicotinic [4].
Vitamin được pha chế với nồng độ gấp 500 hoặc 1000 lần so với dung dịch
chuẩn và trữ trong tủ đông cho đến khi sử dụng. Dung dịch Vitamin dễ bị nhiễm
nấm và vi khuẩn, vì vậy cần thiết phải giữ ở nồng độ 0
0
[4].
- Các chất hữu cơ: Nước dừa (CW – coconut water) được dùng thông dụng
trong nuôi cấy mô. Nước dừa cung cấp bổ sung cho các môi trường các loại
đường amino acid chất sinh trưởng và các chất trao đổi khác. Nước dừa kích
thuận nghịch cho nhau khi cần thiết, có thể xem ba quá trình: tổng hợp, phân hủy
và chuyển hóa thuận nghịch giữa hai dạng auxin là sự điều chỉnh hàm lượng
auxin trong cây, bảo đảm cho cây sinh trưởng [8].
* Cytokinin: Cytokinin là nhóm hormon thực vật thứ ba được phát hiện vào
năm 1963. Khi nuôi cấy mô tế bào thực vật, người ta phát hiện ra một nhóm chất
hoạt hóa sự phân chia tế bào mà nếu thiếu chúng, sự nuôi cấy mô không thành
công. Cytokinin trong cây chủ yếu là chất zeatin và các cytokinin tổng hợp được
sử dụng khá rộng rãi trong nuôi cấy mô tế bào là kinetin và benzyl adenin (BA)
[8].
- Cơ quan tổng hợp cytokinin là hệ thống rễ và từ rễ, cytokinin được vận
chuyển lên các bô phận trên mặt đất theo hướng ngược chiều với auxin nhưng
không có tính phân cực rõ rệt như auxin. Ngoài rễ, một số cơ quan non đang sinh
trưởng cũng có khả năng tổng hợp một lượng nhỏ bổ sung thêm cho nguồn
cytokinin của rễ [8].
* Giberelin (Gb): Gb là nhóm hormon thứ hai được phát hiện vào năm
1955-1956. Khi nghiên cứu cơ chế gây nên bệnh lúa von (cây lúa sinh trưởng
chiều cao quá mức gây nên bệnh lý), các nhà khoa học đã chiết tách được chất
Ngô Thị Trà Giang Lớp 10SHLT
Đồ Án Tốt Nghiệp - 20 - GVHD: Nguyễn Hoàng Trung Hiếu
gây nên sinh trưởng mạnh của cây lúa bị bệnh. Đó chính là acid giberelic (GA
3
),
Giberelin cũng được xem là một phitohocmon quan trọng của thế giới thực vật
[8].
- Ngày nay người ta đã phát hiện ra trên 60 loại Gb trong cây, ký hiệu là
GA
1,
GA
2,
GA
cấy được tiến hành. Agar đối với môi trường đặc là một polysaccarit làm từ rông
Ngô Thị Trà Giang Lớp 10SHLT
Đồ Án Tốt Nghiệp - 21 - GVHD: Nguyễn Hoàng Trung Hiếu
biển. Agar tan 100
0
C và khi nguội thì đông đặc lại, thường sử dụng agar thương
mại với tỷ lệ 8-10g/l môi trường [1].
- Nhiệt độ: nhiệt độ phong nuôi cấy thường điều chỉnh nhiệt độ 22-25
0
C,
mỗi tế bào thực vật khác nhau thì có nhiệt độ nuôi cấy khác nhau [1].
- Ánh sáng ảnh hưởng đến quá trình phát sinh cây, các yếu tố ảnh hưởng
như cường độ chiếu sáng, chu kỳ và thành phân quang phổ của ánh sáng. Cường
độ ánh sáng từ 1000-2500lux được phổ biến nuôi cấy cho nhiều loại mô [17].
- pH môi trường: Tế bào thực vật đòi hỏi môi trường tối ưu cho sự sinh trưỡng
và phát triển trong nuôi cấy mô trông nuôi cấy. Sự ổn định pH của môi trường là yếu
tố duy trì trao đổi các chất trong tế bào. Môi trường nuôi cấy pH 5,8 trước khi khử
trùng được xem là tối ưu. Nếu thấp thì giảm khả năng đông đặc của agra, còn cao quá
môi trường bị rắn, thường dùng NaOH 1N và HCl 1N để điều chỉnh pH [12]
1.6.2. Ứng dụng của việc nhân lan bằng in vitro
- Gia tăng lượng hoa lan trên thị trường.
- Nhân giống các loại lan hiếm nhằm nhân giống số lượng cả trong tự nhiên và
trong các chương trình bảo tồn.
- Cung cấp cây con để bán, hạn chế sự khai thác cây hoang dại, kích thích sự
quan tâm của quần chúng và tạo nguồn thu ngân sách.
- Kết hợp với lai giống tạo ra các cây con khoẻ mạnh và sạch bệnh có màu sắc
đặc biệt.
- Do cây in vitro nuôi cấy trong điều kiện hoàn toàn thích hợp (nguồn dinh
dưỡng điều kiện môi trường thích hợp) do đó có thể sản xuất cây con quanh năm.
- Có thể sử dụng cây in vitro làm cây mẹ cho các bước tiếp theo.
Nhân nhanh protocorm Nhân nhanh cụm chồi
Môi trường cấy và cụm protocorm (tách 4 miếng) Môi trường nuôi cấy và cụm chôi (tách 4 miếng)
Cụm protocorm phát triển chuyển sang Cụm chồi phát triển chuyên sang môi
môi trường nhân nhanh chồi (tách 4 miếng) trường tạo rễ (tách 4 miếng)
`
Cụm chồi phát triển
Cây con 5 - 7 cm và 3 – 4 lá
Cây non
Tạo rễ
Đồ Án Tốt Nghiệp - 25 - GVHD: Nguyễn Hoàng Trung Hiếu
2.2. Phương pháp nghiên cứu
Môi trường nuôi cấy cơ bản MS (Murashige & Skoog, 1962) là môi trường
cơ bản được dùng để nuôi cấy giống lan Dendrobium Sena Red trong quá trình
thực hiện nghiên cứu. Môi trường kết hợp với chất điều hoà sinh trưởng với nồng
độ khác nhau tuỳ theo mục đích của từng thí nghiệm bên cạnh đó mẫu đối chứng.
Nguồn cacbon cung cấy cho môi trường saccharose và được đông đặc môi trường
bằng agar, pH môi trường đưa về 5,8 trước khi khử trùng 20
0
C trong thời gian 20
phút.
Trong quá trình tiến hành thí nghiệm môi trường được bổ sung thêm nước
dừa (CW - Coconut water) nồng độ 15% và than hoạt tính (AC - Activated
charcoal) nhằm mục đích tạo điều nâng cao chất lượng nhân giống.
- Môi trường nhân nhanh protocorm:
MS + (0,5 → 3mg/l) BA + 15% CW + 0,5% AC + 2% đường + 0,8 agar.
MS + (0,1 → 1,5mg/l) NAA + 15% CW + 0,5% AC + 2% đường + 0,8 agar.
MS + (0,1 → 1,5mg/l) NAA + 2mg/l BA + 15% CW + 0,5 %AC + 2% đường
+ 0,8 agar.
MS + (0,5 → 3mg/l) BA + 0,1mg/l NAA+ 15% CW + 0,5% AC + 2% đường