Báo cáo nghiên cứu khoa học: " NGHIÊN CỨU NHÂN GIỐNG IN VITRO HOA MẮT MÈO (Torenia fournieri L.)" - Pdf 19



95
TẠP CHÍ KHOA HỌC, Đại học Huế, Số 57, 2010 NGHIÊN CỨU NHÂN GIỐNG IN VITRO
HOA MẮT MÈO (Torenia fournieri L.)
Trần Thị Lệ
Trường Đại học Nông Lâm, Đại học Huế
TÓM TẮT
Chúng tôi đã xác định được thời gian khử trùng cho mẫu lá của hoa mắt mèo bằng
HgCl
2
, môi trường tái sinh chồi, nhân nhanh chồi và tạo rễ trong ống nghiệm, cũng như giá thể
thích hợp ở giai đoạn vườn ươm. Các kết quả cụ thể như sau: Mẫu lá được khử trùng bằng
H
g
Cl
2
0,1% trong 5 phút đạt kết quả tốt nhất. Môi trường MS có 0,5 mg/l BAP thích hợp cho
sinh trưởng chồi, có 0,1-0,5 mg/l BAP phù hợp cho quá trình nhân nhanh chồi và có 0,3 mg/l α-
NAA thích hợp cho việc ra rễ. Giá thể 30% cát + 40% trấu hun + 30% phân lân vi sinh là giá
thể cho tỷ lệ cây sống ở vườn ươm là cao nhất.
Từ khóa: BAP, α-NAA, than hoạt tính, nhân giống in vitro, Torenia fournieri L.
1. Đặt vấn đề
Hoa mắt mèo (Torenia fournieri L.) được trồng phổ biến ở xã Phú Mậu và
phường Vỹ Dạ. Tuy nhiên, giống hoa này thường được nhập từ Đà Lạt, do đó, người
dân trồng hoa ở đây không chủ động được nguồn giống. Từ đó, cần phải có một phương
pháp nhân giống hoa có hiệu quả cả về mặt kinh tế lẫn kỹ thuật trong một thời gian
ngắn, với chất lượng hoa đồng đều đáp ứng những yêu cầu của sản xuất. Mắt mèo là

Thí nghiệm tái sinh chồi từ mẫu lá (0,5-1 cm
2
): Môi trường MS + 30 g/l đường +
7,5 g/l agar, bổ sung từ 0,1 đến 1,0 mg/l benzyl aminopurine (BAP).
Thí nghiệm nhân nhanh chồi: Sử dụng các môi trường có thành phần tương tự
môi trường tái sinh chồi.
Thí nghiệm tạo rễ cho chồi in vitro: Môi trường MS + 30 g/l đường + 7,5 g/l
agar + 0,1 g/l than hoạt tính, bổ sung từ 0,1 đến 0,5 mg/l α-naphthaleneacetic acid (α-
NAA). Chồi đưa vào môi trường tạo rễ kích thước phải đạt từ 2 cm trở lên.
Thí nghiệm thăm dò khả năng phân cành và ra rễ của chồi in vitro: Môi trường
MS + 30 g/l đường + 7,5 g/l agar + 0,1 g/l than hoạt tính, bổ sung từ 0,1 đến 0,5 mg/l
BAP.
Thí nghiệm ngoài vườn: Được bố trí trong điều kiện ánh sáng tán xạ, có che mưa,
che nắng, và cách ly côn trùng. Các thí nghiệm được bố trí theo kiểu CRD, 3 lần nhắc
lại. Các số liệu được xử lý thống kê sinh học bằng chương trình Statistics.
3. Kết quả và thảo luận
3.1. Kết quả nghiên cứu điều kiện khử trùng mẫu
Kết quả sau 2 tuần theo dõi được trình bày ở bảng 1.
Bảng 1. Ảnh hưởng của HgCl
2
0,1% đến hiệu quả khử trùng mẫu vật hoa mắt mèo
Chỉ tiêu

Thời gian (phút)
Tổng số mẫu

Tỷ lệ mẫu
chết (%)
Tỷ lệ mẫu
nhiễm (%)

tái sinh sau 6 tuần nuôi cấy ở dạng lấm tấm, màu vàng xanh tập trung dọc hai bên gân lá
và ở mép mẫu lá. Các môi trường còn lại sinh trưởng chồi đều tốt hơn môi trường
không có BAP. Ở môi trường có 0,7 mg/l BAP và 1,0 mg/l BAP, do nồng độ BAP cao
kích thích quá trình phân chia tế bào làm cho mẫu lá phồng to cực đại, nhưng số lượng
chồi rất thấp. Như vậy, qua thí nghiệm này có thể kết luận là môi trường MS có 0,5 mg/
BAP là thích hợp cho sự sinh trưởng chồi từ mẫu lá hoa mắt mèo.
3.3. Ảnh hưởng của BAP lên khả năng nhân nhanh chồi
Trong thí nghiệm này, chúng tôi tiếp tục sử dụng các môi trường tái sinh chồi
để nghiên cứu khả năng nhân nhanh các chồi in vitro. 98
Bảng 3. Ảnh hưởng của BAP lên khả năng nhân nhanh chồi in vitro
Chỉ tiêu

BAP (mg/l)
Chiều cao chồi (cm)

Số lá Hệ số nhân
0,0 2,13 2,96 33,63
c
0,1 2,23 3,56 24,53
b
0,3 2,46 4,03 24,06
b
0,5 2,66 4,33 20,93
b
0,7 2,26 3,06 11,70
a
1,0 1,90 2,66 11,03

Chỉ tiêu

α-NAA (mg/l)
Số rễ Chiều dài rễ (cm)
0,0 5,33
a
2,70
a

0,1 5,93
a
3,30
a

0,3 7,20
b
3,20
a

0,5 6,33
a
3,13
a

Từ kết quả theo dõi chúng tôi thấy khả năng tạo rễ của chồi ở môi trường không
có α-NAA là thấp nhất (5,33 rễ) và sai khác có ý nghĩa thống kê với các môi trường có
0,3 mg/l α-NAA. Ở môi trường có 0,1 và 0,5 mg/l α-NAA có số lượng rễ có sai khác
khác với môi trường không có α-NAA, tuy nhiên, sai khác này không có ý nghĩa thống
kê.
Chiều dài rễ ở môi trường không có α-NAA là ngắn nhất (2,70 cm). Ở các môi

ab
V 30% cát + 40% trấu hun + 30% phân lân vi sinh 70,00
b
VI
30% cát + 20% trấu hun + 30% phân lân vi sinh
+ 20% đất phù sa
46,66
a
Số liệu bảng 6 cho thấy giá thể 30% cát + 40% trấu hun + 30% phân lân vi sinh
cây hoa mắt mèo in vitro đạt tỷ lệ sống là cao nhất (70,00%). Ngoài ra, tỷ lệ sống của
cây con còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố như chất lượng cây và điều kiện thời tiết. Tuy
nhiên, bước đầu chúng tôi có thể kết luận là giá thể 30% cát + 40% trấu hun + 30%
phân lân vi sinh là thích hợp cho cây con ở giai đoạn vườn ươm.
4. Kết luận
Dựa vào những kết quả thu được từ những thí nghiệm trên, chúng tôi rút ra các
kết luận sau:
- Sử dụng dung dịch HgCl
2
0,1% trong thời gian 5 phút cho hiệu quả khử trùng
cao nhất đối với mẫu lá hoa mắt mèo.
- Môi trường thích hợp cho sinh trưởng chồi từ mẫu lá là MS có bổ sung 0,5
mg/l BAP.
- Môi trường có 0,1-0,5 mg/l BAP là phù hợp cho quá trình nhân nhanh chồi.
- Ở môi trường MS có 0,3 mg/l α-NAA có tác dụng tăng số lượng rễ của chồi
hoa mắt mèo cao nhất (7,20 rễ).
- Giá thể 30% cát + 40% trấu hun + 30% phân lân vi sinh là thích hợp cho cây
con hoa mắt mèo ở giai đoạn vườn ươm.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trần Khắc Hạnh, Trần Thị Lệ, Nguyễn Thị Kim Lý, Nguyễn Xuân Linh. Xây dựng quy
trình nhân giống hoa cây cúc (Standard Chrysanthemum) bằng phương pháp nuôi cấy

consist of 30% sandy + 40% semi-rice husk ash + 30% microorganism fertilizer.
Keywords: BAP,

α
NAA, than hoạt tính, microproporation, Torenia fournieri L.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status