TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
KHOA LÂM HỌC
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA PHÂN BÓN ĐẾN SINH TRƯỞNG
LOÀI KEO LAI (Acacia mangium x Acacia auriculiformis) TẠI TRẠM
THỰC NGHIỆM GIỐNG CÂY RỪNG BA VÌ – HÀ NỘI
NGÀNH: LÂM HỌC
MÃ SỐ: 301
Giáo viên hướng dẫn: Th.S Phạm Thị Huyền
Th.S Nguyễn Thị Thu Hằng
Sinh viên thực hiện: Chu Văn Tiệp – 52C Lâm Học
Khóa học: 2007 – 2011
Hà Nội, 2011
1
LỜI CẢM ƠN
Sau thời gian học tập tại trường Đại học Lâm nghiệp, đến nay khóa học
2007-2011 đã bước vào giai đoạn cuối. Để củng cố kiến thức đồng thời rèn
luyện khả năng nghiên cứu khoa học, được sự cho phép của khoa Lâm học –
Trường Đại học Lâm nghiệp, dưới sự hướng dẫn của cô giáo ThS. Phạm Thị
Huyền và cô giáo ThS. Nguyễn Thị Thu Hằng, em thực hiện khóa luận:
“ Đánh giá ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng loài Keo lai
(Acacia mangium x Acacia auriculiformis) tại Trạm thực nghiệm giống
cây rừng Ba Vì – Hà Nội ”
Đến nay khóa luận đã hoàn thành, nhân dịp này em xin bày tỏ lòng biết
ơn đến cô Phạm Thị Huyền và Nguyễn Thị Thu Hằng đã tận tình hướng dẫn,
truyền đạt những kinh nghiệm và kiến thức trong suốt quá trình làm khóa
luận. Đồng thời, em xin cảm ơn cán bộ tại Trạm thực nghiệm giống cây rừng
Ba Vì – Hà Nội đã giúp đỡ tạo điều kiện cho em điều tra, thu thập số liệu.
Trong quá trình làm khóa luận do thời gian có hạn, trình độ và kinh
2
O
5
= 16%).
- Ct2 : 200g NPK (16:16:8) Việt Nhật + 400g lân Văn Điển (P
2
O
5
= 16%).
- Ct3 : 300g NPK (16:16:8) Việt Nhật + 400g lân Văn Điển (P
2
O
5
= 16%).
- Ct4 : 400g NPK (16:16:8) Việt Nhật + 400g lân Văn Điển (P
2
O
5
= 16%).
- Ct5 : 500g NPK (16:16:8) Việt Nhật + 400g lân Văn Điển (P
2
O
5
= 16%).
- Ct6 : Công thức đối chứng
3
ĐẶT VẤN ĐỀ
Phân bón cung cấp nhiều nguyên tố dinh dưỡng cần thiết cho thực vật
và bón phân hợp lý có tác dụng rất quan trọng trong việc nâng cao sức chống
chịu, tăng khả năng sinh trưởng đối với rừng trồng. Khi phối hợp bón các loại
phân phù hợp cho loài Keo lai nhằm làm cơ sở khoa học xác định loại phân
bón, liều lượng bón, kĩ thuật bón phân phù hợp để Keo lai sinh trưởng và phát
triển tốt đảm bảo thành công trong công tác trồng rừng. Với ý nghĩa như vậy
tôi thực hiện đề tài: “ Đánh giá ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng
loài Keo lai (Acacia mangium x Acacia auriculiformis) tại Trạm thực
nghiệm giống cây rừng Ba Vì – Hà Nội ”
5
Phần 1
TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1. Những nghiên cứu tìm hiểu ảnh hưởng phân bón đến cây trồng
1.1.1. Trên thế giới
- 1974: Polster, Fidler, Lir đã có kết luận sinh trưởng của cây thân gỗ phụ
thuộc vào sự hút các nguyên tố khoáng từ đất. Trong suốt quá trình sinh trưởng,
sự hút đó phụ thuộc vào độ dự trữ và mức độ dễ tan của chúng trong đất.
- Prianitnikov, 1964 đã nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón đến thực
vật và nêu rõ phân bón là nguồn dinh dưỡng bổ sung cho cây sinh trưởng và
phát triển tốt, đối với từng loài cây cần có những nghiên cứu cụ thể tránh sự
lãng phí phân bón không cần thiết,.
- Turbitxki, 1963 đã khẳng định các biện pháp bón phân sẽ được hoàn
thiện một cách đúng đắn theo sự hiểu biết sâu sắc nhu cầu của cây, đặc điểm
của đất và loại phân bón.
- Kali là một nguyên tố khoáng đa lượng rất cần cho cây con gieo ươm
để giúp cây sinh trưởng tốt và tăng khả năng chống chịu với điều kiện bất lợi
của môi trường. Trong giai đoạn cây mới gieo ươm sự sinh trưởng của các cơ
quan bắt đầu, các tế bào trẻ mới hình thành dễ bị tổn thương bởi các điều kiện
bất lợi từ môi trường. Mặt khác kali tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển
của bộ rễ, làm cho cây cứng cáp tăng sức đề kháng của cây, giảm quá trình
thoát hơi nước và điều hòa quá trình sống làm cho cây khỏe mạnh (Andre
Grro, 1967).
Theo giáo sư Pratuer: để nhận được sản lượng theo dự kiến trong việc
15% phân chuồng + 1% N + 3% P + 1% K.
7
- Phạm Thị Quyên, 2003 đã nghiên cứu ảnh hưởng của một số công
thức phân bón đến sinh trưởng rừng Luồng, đưa ra biện pháp có ảnh hưởng
lớn đến sinh trưởng phát triển của rừng Luồng.
- Theo Lê Văn Khoa và cộng sự (1996), cây trồng hút dinh dưỡng trong
phân chuồng hữu cơ chậm hơn phân khoáng, nhưng nếu chỉ nhìn trước mắt
thì thấy phân khoáng tham gia vào năng suất cây trồng nhiều hơn, còn phân
chuồng thì cung cấp dần chất dinh dưỡng cho cây và cung cấp trong một thời
gian dài, tổng số chất dinh dưỡng mà phân chuồng cung cấp cho cây trồng là
rất lớn.
- Công trình nghiên cứu Hoàng Văn Dũng (1996) thử nghiệm về bón
lót các loại phân bón hữu cơ và vô cơ với các tỉ lệ khác nhau cho cây Bần
chua ở giai đoạn vườn ươm.
Riêng với loài Keo lai được trồng thử nghiệm ở nhiều nơi nhưng chưa có
nhiều công trình nghiên cứu về ảnh hưởng của chế độ phân bón đến sinh
trưởng của cây Keo lai trong những năm đầu trồng rừng. Vì vậy khóa luận thực
hiện với mong muốn góp phần đề xuất chế độ phân bón phù hợp với loài Keo
lai để thúc đẩy sinh trưởng rừng trồng trong những năm đầu nhằm nâng cao
năng suất chất lượng rừng trồng.
1.2 Lược sử nghiên cứu về cây Keo lai
1.2.1. Trên thế giới
Keo (Acacia sp) là một chi thực vật thuộc họ phụ trinh nữ
(Mimosoideae) trong họ đậu (Leguminosae) với khoảng 1200 – 1300 loài,
phân bố rộng rãi ở các nước châu Á, châu Đại Dương và cả một số nước châu
phi và châu Mỹ (Turnbull, 1987). Riêng ở Australia đã có tới hơn 900 loài
(Maslin và McDonad, 1996). Các loài keo Australia có thể tồn tại cả trên
vùng bán nhiệt đới ẩm, bán ẩm lẫn các vùng cao nhiệt đới. Chính vì thế chúng
được trồng trên 70 nước trên thế giới và che phủ trên diện tích khoảng 2 triệu
ha (Turnbull, J.W và cộng sự, 1998).
9
Keo tai tượng có 2 vạch ở vị trí 1, 2; Keo lá tràm có 2 vạch ở vị trí 1, 3 thì
Keo lai có có 3 vạch ở vị trí 1, 2, 3 (Zakaria, 1993).
Theo thông báo của Tham (1976) thì cây lai thường cao hơn cả hai loài
bố mẹ, song vẫn giữ hình dáng kém của Keo lá tràm. Còn theo thông báo của
Wong (dẫn từ Pinso và Nasi, 1991 thì trong nhiều trường hợp ở Sabad cây lai
vẫn giữ được hình dáng đẹp của Keo tai tượng), Ông cũng thấy ưu thế lai của
Keo lai thể hiện rất rõ rệt so với các loài keo bố mẹ. Đánh giá Keo lai tại
Sabad một cách tổng hợp Pinso và Nasi (1991) đã thấy rằng cây lai có thể có
ưu thế lai và có thể bị ảnh hưởng của cả hai yếu tố di truyền lẫn điều kiện lập
địa. Họ cũng thấy sinh trưởng của cây Keo lai tự nhiên đời F
1
tốt hơn xuất xứ
Sabad của Keo tai tượng, song kém hơn xuất xứ ngoại lai như Orimo River
(Papua New Guinea) hoặc Claudie River (Queensland, Australia), còn sinh
trưởng của những cây từ đời F
2
trở đi thì rất không đều với trị số trung bình
còn kém hơn cả Keo tai tượng về độ tròn đều của thân, có đường kính cành
nhỏ hơn và khả năng tỉa cành khá hơn Keo tai tượng, song độ thẳng thân cây,
hình dạng tán lá và góc phân cành lại kém hơn Keo tai tượng. Còn Pinso và
Nasi (1991) lại thấy rằng độ thẳng thân cây, đoạn thân dưới cành, độ tròn đều
của thân… ở cây Keo lai đều tốt hơn các loài keo bố mẹ và cho rằng Keo lai
rất phù hợp với các chương trình trồng rừng thương mại. Cây Keo lai còn ưu
điểm là có đỉnh ngọn phát triển tốt, thân cây đơn trục và tỉa cành tốt
(Pinyopusarerk, 1990).
Cũng chính vì vậy, Keo lai đã được nghiên cứu nhân giống bằng hom
(Griffin, 1988), hoặc nuôi cấy mô phân sinh bằng môi trường cơ bản
(Murashige và Skooge) và cho ra rễ trong phòng và ở nền cát sông 100% với
khả năng ra rễ đến hơn 70% (Darus, 1991).
0
17’N, kinh độ 145
0
31’Đ,
với lượng mưa hàng năm khoảng 800 – 1200mm/năm. Cây bố là Keo lá tràm,
và xuất xứ Darwin (thuộc bang Northern territory của Australia) có vĩ độ
11
12
0
26’N, kinh độ 132
0
16’Đ, với lượng mưa hàng năm khoảng 1500-
1900mm/năm.
Giống lai vùng Đông Nam Bộ được lấy từ khu khảo nghiệm giống keo
trồng năm 1984. Cây mẹ là Keo tai tượng xuất xứ Mossman (thuộc bang
Queensland của Australia) có vĩ độ 16
0
20’N, kinh độ 145
0
24’Đ với lượng
mưa hàng năm khoảng 800 – 1200mm. Cây bố là Keo lá tràm được đưa vào
gây trồng trước đây không rõ xuất xứ hoặc thuộc xuất xứ Oenpelli (thuộc
bang Northern Territory của Australia) ở vĩ độ 12
0
20’N, kinh độ 133
0
04’Đ
với lượng mưa hàng năm khoảng 1300 – 1700mm.
Như vậy các giống lai ở nước ta dù được phát hiện hoặc lấy giống ở
miền Bắc hay miền Nam về cơ bản đều có cây mẹ thuộc cùng vùng sinh thái
lai đời F
1
nên không thể dùng hạt để gây trồng rừng mới mà phải dùng cây
hom hoặc cây mô của những giống đã qua khảo nghiệm. Bên cạnh đó việc
phương thức trồng và bón phân phù hợp cũng giúp cây Keo lai phát triển tốt,
để đáp ứng việc trồng rừng sản xuất quy mô.
13
Phần 2
MỤC TIÊU – NỘI DUNG – PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1. Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng của loài Keo lai làm
cơ sở khoa học xác định loại phân bón, liều lượng bón phù hợp cho Keo lai
trồng tại Trạm thực nghiệm giống cây rừng Ba Vì – Hà Nội nhằm thúc đẩy
sinh trưởng rừng Keo lai và nâng cao năng suất chất lượng rừng.
2.2. Giới hạn nghiên cứu
Do hạn chế về thời gian cũng như điều kiện nghiên cứu nên tôi chỉ nghiên
cứu ảnh hưởng của các công thức bón thúc bón lót đến sinh trưởng, chất lượng
loài Keo lai và một số tính chất của đất trong những năm đầu trồng rừng.
2.3. Nội dung nghiên cứu
Căn cứ vào mục tiêu và giới hạn khóa luận xác định một số nội dung
chính sau:
2.3.1. Ảnh hưởng của phân bón đến sinh trưởng của Keo lai.
2.3.2. Ảnh hưởng của phân bón đến tỷ lệ sống, chết của keo lai.
2.3.3. Ảnh hưởng của phân bón đến chất lượng cây Keo lai.
2.3.4. Ảnh hưởng của phân bón đến một số tính chất của đất.
2.4. Phương pháp nghiên cứu
2.3.1. Ngoại nghiệp
2.3.1.1. Phương pháp kế thừa số liệu
+ Kế thừa các các tài liệu liên quan đến khu vực nghiên cứu bao gồm
các tài liệu về đặc diểm tự nhiên và các yếu tố tự nhiên khác. Tài liệu thu thập
Ct 1
100g NPK (16:16:8) Việt Nhật + 400g supelân (P
2
O
5
= 16%)
Ct 2
200g NPK (16:16:8) Việt Nhật + 400g supelân (P
2
O
5
= 16%)
Ct 3
300g NPK (16:16:8) Việt Nhật + 400g supelân (P
2
O
5
= 16%)
Ct 4
400g NPK (16:16:8) Việt Nhật + 400g supelân (P
2
O
5
= 16%)
Ct 5
500g NPK (16:16:8) Việt Nhật + 400g supelân (P
2
O
5
= 16%)
): Dùng thước đo dây đo hình chiều tán cây theo
hai chiều Đông Tây – Nam Bắc. Sau đó lấy trị số trung bình với độ chính xác
đến cm.
* Điều tra chất lượng của Keo lai trong các công thức thí nghiệm
Cùng với việc đo đếm các chỉ tiêu sinh trưởng trên các ô tiêu chuẩn, đề
tài kết hợp đánh giá chất lượng Keo lai trong lâm phần để xác định tỷ lệ tốt,
trung bình, xấu.
Việc đánh giá cây tốt, trung bình, xấu dựa vào hình thái cây, thân cây,
tán lá, về trạng thái sinh trưởng của cây.
Cây tốt là những cây thẳng, đẹp, tròn đều, tán rộng, không cong queo,
không sâu bệnh, không cụt ngọn, sinh trưởng và phát triển tốt.
Cây trung bình là những cây có thân hình cân đối, tán lá rộng, không
cong queo, không sâu bệnh, không cụt ngọn, sinh trưởng và phát triển bình
thường.
Cây xấu là những cây cong queo, sâu bệnh cụt ngọn, sinh trưởng và
phát triển kém. Kết quả đo ghi vào mẫu biểu 01:
16
Mẫu biểu 01: Biểu điều tra sinh trưởng và đánh giá chất lượng
Địa điểm: Ngày điều tra:
Công thức thí nghiệm: Người điều tra:
Loại phân: Liều lượng:
STT
D
1.3
(cm)
D
t
(m)
H
vn
chết qua các công thức thí nghiệm
- Nếu <= thì kết luận chưa có sự sai khác rõ rệt về tỷ lệ cây sống,
cây chết trong các công thức thí nghiệm
Các chỉ tiêu sinh trưởng H và D được chỉnh lý và tính các đặc trưng mẫu theo
phương pháp bình quân gia quyền.
- Giá trị bình quân:
Trong đó: n là dung lượng mẫu
m là số tổ ( )
là tần số quan sát
- Sai tiêu chuẩn:
- Hệ số biến động:
18
Để kiểm tra mức độ ảnh hưởng của chế độ phân bón đến sinh trưởng
Keo lai, tôi sử dụng phương pháp phân tích phương sai 2 nhân tố. Các bước
như sau:
- Lập bảng tính:
B
A
Cấp nhân tố B S
i
(A) X
i
(A)
1 2 3 4 5 6
Cấp
nhân
tố A
1 X
11
… … … … X
kiểm tra giả thuyết.
So sánh với F
05
tra bảng, bậc tự do K
1
= a – 1, K
2
= (a – 1)(b – 1)
+ Nếu F
A
<= F
05
thì việc phân khối không ảnh hưởng tới sinh trưởng Keo lai.
+ Nếu F
A
> F
05
thì việc phân khối có ảnh hưởng tới sinh trưởng Keo lai.
+ Nếu F
B
<= F
05
thì chế độ phân bón khác nhau ảnh hưởng chưa rõ rệt tới
sinh trưởng Keo lai.
+ Nếu F
B
> F
05
thì chế độ phân bón khác nhau ảnh hưởng rõ rệt tới sinh
trưởng Keo lai.
ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN KHU VỰC NGHIÊN CỨU VÀ LỊCH SỬ
RỪNG TRỒNG
3.1. Điều kiện tự nhiên khu vực nghiên cứu
3.1.1. Vị trí địa lý
Khu vực Cẩm Quỳ thuộc xã Cẩm Lĩnh – Ba Vì – Hà Nội, có tọa độ địa lý từ
21
0
0'0'' đến 21
0
0'7
''
độ Vĩ Bắc, 105
0
0'0'' đến 105
0
0
'
25
''
độ Kinh Đông.
+ Phía Bắc giáp thôn Bằng Tạ, xã Cẩm Lĩnh
+ Phía Nam giáp thôn 2 và thôn 5 xã Ba Trại
+ Phía Tây giáp thôn Bằng Y, xã Sơn Đà
+ Phía Đông giáp thôn Cẩm An, xã Cẩm Lĩnh
Khu vực nghiên cứu cách hồ Suối Hai 3km, với diện tích của hồ là
1000 ha. Trong khu vực nghiên cứu có hồ Cẩm Quỳ rộng 80 ha. Ngoài ra
khu vực nằm gần hạ lưu sông Đà.
3.1.2. Địa hình
Cẩm Quỳ là vùng bán sơn địa có những đồi bát úp liên tục không bị
chia cắt, khá đồng nhất. Độ cao bình quân khoảng 40m, đồi cao nhất có độ
Kết quả theo dõi khí hậu của trạm khí tượng thủy văn Trạm thực
nghiệm Ba Vì năm 2009 được trình bày trên bảng 3.1 (Trang sau):
24
Bảng 3.1: Tổng hợp các nhân tố khí hậu năm 2009 của trạm Ba Vì
Tháng Nhiệt độ (
o
C) Độ ẩm (%) Lượng mưa (mm)
Max Min TB Max Min TB TB
1 28,6 5,6 17,7 99 50 82 1
2 27,1 7,6 15,4 100 50 87 25
3 30,4 9,9 19,9 100 40 86 35
4 34,3 19 24,3 100 54 85 141
5 37,7 18,9 26,6 98 47 82 172
6 38 21,6 27,7 97 54 82 281
7 36,2 24 28,4 98 49 83 332
8 36 23,2 28,2 97 56 85 266
9 35,5 19,2 26,5 100 41 84 231
10 33,3 15,4 24,4 99 48 87 196
11 29,3 11,5 20,5 100 42 81 0
12 27,6 11,7 18,6 99 40 78 0
TB 32,6 15,8 23,2 99 48 84 1680
(Theo số liệu của trạm khí tượng thủy văn Trạm thực nghiệm Ba Vì năm 2009.)
Dẫn liệu từ bảng 3.1 cho thấy:
Khu vực nghiên cứu nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, có hai mùa
khá rõ rệt là mùa khô và mùa mưa, có nhiệt độ trung bình trong năm là
23,2
0
c. Mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10. Mùa khô kéo dài từ tháng
11 đến tháng 3 năm sau. Tháng có nhiệt độ cao nhất là tháng 7 (với nhiệt độ
25